Luận án tiến sĩ nghiên cứu những đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống

Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan từ người hiến sống, cung cấp thông tin quan trọng cho y học.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2023

177
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm kỹ thuật trong ghép gan

Nghiên cứu về ghép gan từ người hiến sống đã chỉ ra rằng việc tái tạo lưu thông mạch máu là một yếu tố quyết định đến thành công của phẫu thuật. Kỹ thuật này bao gồm việc khâu nối các mạch máu như tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa và động mạch gan. Đặc điểm kỹ thuật này không chỉ ảnh hưởng đến việc tưới máu cho mảnh ghép mà còn quyết định đến khả năng phục hồi chức năng gan sau phẫu thuật. Theo nghiên cứu, việc khâu nối tĩnh mạch gan có thể gặp nhiều thách thức do sự biến đổi giải phẫu của mạch máu. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ biến chứng mạch máu trong ghép gan có thể lên đến 16,1% trong 5 năm đầu tiên. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải tiến kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu để giảm thiểu biến chứng và nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

1.1. Kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu

Kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan từ người hiến sống bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, phẫu thuật viên cần xác định chính xác vị trí và cấu trúc của các mạch máu để thực hiện khâu nối một cách chính xác. Việc sử dụng kính lúp phẫu thuật và các kỹ thuật vi phẫu là rất cần thiết để đảm bảo độ chính xác cao trong quá trình khâu nối. Nghiên cứu cho thấy rằng việc khâu nối tĩnh mạch gan giữa bằng đoạn mạch nhân tạo có thể cải thiện đáng kể kết quả tái tạo lưu thông. Hơn nữa, việc tối ưu hóa dòng chảy mạch máu cũng là một yếu tố quan trọng, giúp giảm thiểu nguy cơ biến chứng và nâng cao chất lượng mảnh ghép. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng kỹ thuật khâu mối vắt vi phẫu có thể mang lại kết quả tốt hơn so với các phương pháp truyền thống.

II. Kết quả tái tạo lưu thông mạch máu

Kết quả của việc tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan từ người hiến sống đã được đánh giá qua nhiều chỉ tiêu khác nhau. Theo thống kê, tỷ lệ thành công của phẫu thuật ghép gan đạt khoảng 85% trong giai đoạn gần và 70% trong giai đoạn xa. Các yếu tố như tình trạng sức khỏe của người nhận, kỹ thuật phẫu thuật và sự phù hợp giữa người hiến và người nhận đều có ảnh hưởng lớn đến kết quả. Nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân có mảnh ghép được tái tạo lưu thông mạch máu tốt có khả năng phục hồi chức năng gan nhanh hơn và ít gặp biến chứng hơn. Đặc biệt, việc theo dõi chức năng gan qua các xét nghiệm huyết học và siêu âm mạch máu là rất quan trọng để phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra.

2.1. Đánh giá kết quả gần và xa

Đánh giá kết quả gần và xa của việc tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm bệnh nhân. Những bệnh nhân có kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu tốt thường có thời gian sống thêm cao hơn so với những bệnh nhân gặp biến chứng. Cụ thể, tỷ lệ sống thêm sau mổ giữa nhóm có và không có biến chứng tĩnh mạch gan là một minh chứng cho sự quan trọng của kỹ thuật này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như tuổi tác, tình trạng bệnh lý nền và kỹ thuật phẫu thuật đều có ảnh hưởng đến kết quả. Việc cải tiến kỹ thuật và quy trình chăm sóc sau ghép cũng góp phần nâng cao tỷ lệ sống sót và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan từ người hiến sống không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để cải tiến quy trình phẫu thuật, từ đó nâng cao tỷ lệ thành công và giảm thiểu biến chứng. Hơn nữa, việc hiểu rõ về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ghép gan sẽ giúp các bác sĩ đưa ra các quyết định điều trị chính xác hơn. Các kỹ thuật mới trong tái tạo lưu thông mạch máu cũng có thể được áp dụng trong các lĩnh vực khác như phẫu thuật tim mạch và phẫu thuật mạch máu, mở ra hướng đi mới cho nghiên cứu và ứng dụng trong y học.

3.1. Tác động đến quy trình ghép gan

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc cải tiến kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu có thể làm tăng tỷ lệ thành công của ghép gan. Các bác sĩ phẫu thuật có thể áp dụng các kỹ thuật mới như khâu nối vi phẫu và sử dụng mạch nhân tạo để cải thiện kết quả. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu biến chứng mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sau phẫu thuật. Hơn nữa, việc theo dõi và đánh giá kết quả sau ghép cũng cần được thực hiện một cách chặt chẽ để phát hiện sớm các vấn đề có thể xảy ra, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu những đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ghép gan là phẫu thuật thay thế gan bệnh bằng gan lành khoẻ mạnh, từ người hiến sống hoặc người hiến chết não. Trường hợp ghép gan đầu tiên trên thế giới được thực hiện vào tháng 3/1963 bởi Thomas E.Starzl tại Đại học Colorado, Denver cho một bệnh nhân nhi bị teo đường mật bẩm sinh, bệnh nhân tử vong sau đó vì chảy máu [1]. Tháng 5/1996, Bệnh viện Queen Mary – Hồng Công thực hiện thành công ghép gan người lớn với mảnh ghép gan phải lần đầu tiên trên thế giới [2]. Trong ghép gan, thì cơ bản và quan trọng nhất là tái tạo lưu thông và khâu nối các mạch máu bao gồm: tạo hình mạch máu tại bàn rửa gan, khâu nối tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa, động mạch gan.

Kỹ thuật tái tạo lưu thông, khâu nối mạch máu sẽ quyết định đến việc tưới máu tạng mới trong cơ thể, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng mảnh gan ghép và kết quả của phẫu thuật. Ghép gan phải từ người hiến sống là một bước tiến lớn trong chuyên ngành ghép tạng, giúp khắc phục được những nhược điểm của hội chứng mảnh ghép gan nhỏ, đặc biệt ở những bệnh nhân người lớn, và hiện nay cũng là hình thái mảnh ghép được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Á. Tuy vậy, kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu đặc biệt là tĩnh mạch gan sẽ phức tạp và gặp nhiều thử thách hơn là sử dụng mảnh ghép gan trái bởi vì có thể gặp nhiều biến thể giải phẫu của tĩnh mạch gan như là tĩnh mạch gan phải, tĩnh mạch gan giữa, tĩnh mạch gan phải phụ [3], [4]. Nghiên cứu Pamecha và cộng sự [5], cho thấy kết quả của nhóm ghép gan có một miệng nối tĩnh mạch gan tốt hơn khi so sánh với nhóm có nhiều miệng nối.

Nghiên cứu của Rather và cộng sự [6], cho thấy tỷ lệ biến chứng mạch máu trong 5 năm đầu tiên khi khởi đầu chương trình ghép gan là 16,1%. Nghiên cứu của Piardi và cộng sự (2016) [7], thấy rằng tỷ lệ biến chứng chung của 2 ghép gan từ người hiến sống trên thế giới là 13% bao gồm: hẹp, chảy máu và tắc miệng nối mạch máu. Hiện nay, trên thế giới vẫn còn những tranh luận, quan điểm khác nhau về việc tái tạo lưu thông, khâu nối mạch máu trong ghép gan từ người hiến sống ví dụ: tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan giữa bằng đoạn mạch nhân tạo hay lấy kèm với mảnh ghép gan phải, trường hợp có biến đổi giải phẫu hoặc có huyết khối mạn tính tĩnh mạch cửa trước mổ, nối động mạch vi phẫu sử dụng mối khâu rời hay dùng kính lúp phẫu thuật và khâu mối vắt, các phương pháp xử lý đối với tổn thương bóc tách nội mạc động mạch gan [4],[8]. Vì vậy, đặc điểm kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống luôn là những vấn đề được nghiên cứu và cải tiến thường xuyên với mục đích nâng cao chất lượng và kết quả của phẫu thuật.

Tại Việt Nam, ghép gan phải từ người hiến sống được thực hiện lần đầu tiên vào năm 2007 và cho đến nay có khoảng 50 trường hợp mỗi năm được thực hiện trên cả nước. Hiện nay, các thống kê mới tập trung chủ yếu vào kết quả chung của ghép gan mà chưa có báo cáo, nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ về đặc điểm kỹ thuật cũng như kết quả của các phương pháp khâu nối, tái tạo lưu thông mạch máu trong phẫu thuật ghép gan phải từ người hiến sống cũng như tìm hiểu về mối liên quan của các yếu tố nguy cơ với biến chứng mạch máu [9], [10]. Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống.

Đánh giá kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống và một số yếu tố liên quan. 3 CHƯ NG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu và mạch máu gan liên quan đến ghép gan 1. Phân chia thuỳ gan 1.

Phân chia gan theo các hệ thống mạch máu Sự phân chia phân thuỳ gan dựa trên cơ sở phân bố các tĩnh mạch gan và các thành phần trong bao Glisson (động mạch gan, tĩnh mạch cửa và đường mật) tuỳ theo các tác giả. Mỗi phần gan này là một đơn vị đảm bảo chức năng một cách riêng biệt, chính vì vậy mà các phẫu thuật viên có thể cắt bỏ các hạ phân thuỳ, phân thuỳ gan theo giải phẫu mà không ảnh hưởng đến phần gan còn lại, đồng thời phần gan được cắt đi này còn có thể làm mảnh ghép hoàn chỉnh trong ghép gan. Quan điểm phân chia gan này được các nhà ngoại khoa ủng hộ và đến nay được xem là cách phân chia gan có ý nghĩa thực tiễn và về cơ bản được chấp nhận rộng rãi trong y văn. Hiện nay, phân chia gan theo Couinaud được thừa nhận rộng rãi bởi các Hội Ghép tạng ở Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ để mô tả các phần khác nhau của mảnh ghép nhất là những mảnh ghép được chia từ gan toàn bộ.

Theo phân loại này gan được chia làm 8 đơn vị chức năng, gọi là phân thùy (segment). Mỗi phân thùy có một cuống Glisson riêng, trong mỗi cuống Glisson có các thành phần tĩnh mạch cửa, động mạch gan và đường mật. Theo quan điểm Tôn Thất Tùng (1963) [11], danh từ thuỳ gan chỉ nên dùng để gọi các thuỳ cổ điển theo hình thể ngoài của gan: thuỳ phải và thuỳ trái ngăn cách nhau bởi khe dây chằng tròn hay khe rốn, còn lại gan được phân chia theo sự phân bố của đường mật. Hai nửa gan phải và trái ngăn cách nhau bởi khe chính hay khe dọc giữa, nửa gan phải được chia thành phân thuỳ trước và phân thuỳ sau ngăn cách nhau bởi khe bên phải; nửa gan trái được chia thành 2 phân thuỳ giữa và 4 phân thuỳ bên ngăn cách nhau bởi khe dây chằng tròn (khe rốn).

Riêng thuỳ đuôi được gọi là phân thuỳ lưng. Các phân thuỳ lại được chia thành các hạ phân thuỳ và được đánh số giống các phân thuỳ của Couinaud từ 1 đến 8. Phân chia gan theo Tôn Thất Tùng N u n: n h t ùn (1963) [11] 1. Ứng dụng giải phẫu phân chia gan trong phẫu thuật ghép gan Giải phẫu phân thùy gan chủ yếu ứng dụng trong chia gan từ người hiến tạng để ghép cho hai bệnh nhân cùng lúc.

Phân loại của Couinaud cho phép chia gan theo các đơn vị chức năng riêng biệt. Phân chia gan ở vị trí dây chằng liềm sẽ cho 2 mảnh ghép: một mảnh ghép bao gồm phân thùy 2 và 3 (mảnh ghép thùy trái) chiếm khoảng 25% tổng thể tích của gan ước tính khoảng 250-300 ml, mảnh ghép này để dành cho bệnh nhân nhi; còn mảnh thứ 2 là phần gan phải mở rộng ước tính khoảng 900 đến 1100 ml còn lại dành cho người lớn bao gồm phân thùy 1 và các phân thùy từ 4 đến 8). Mảnh ghép thuỳ trái còn có thể chia tiếp thêm thành mảnh ghép một phân thùy như phân thùy 3 đơn thuần cho trẻ rất nhỏ hoặc trẻ sơ sinh [12]. Để ghép cho 2 người nhận từ một gan của người lớn, cần phải chia gan trên một mặt phẳng đứng dọc ở bên phải hoặc ở bên trái tĩnh mạch gan giữa.

5 Tùy theo cân nặng của người nhận mà có 3 cách chia với 6 dạng khác nhau của mảnh ghép [12]. - Cách 1: chia gan cho một người lớn và một trẻ em với mảnh ghép thùy trái (phân thuỳ 2, 3) và mảnh ghép gan phải mở rộng (phân thuỳ 1, 4-8) - Cách 2: chia gan cho 2 người lớn hoặc một người lớn và 1 trẻ có kích thước lớn với mảnh ghép gan trái (phân thuỳ 2,3,4) chiếm khoảng 35% tổng thể tích gan và mảnh ghép gan phải (phân thuỳ 1, 5-8) chiếm 65% tổng thể tích gan. - Cách 3: chia gan ghép cho 2 người lớn với mảnh ghép gan trái đầy đủ bao gồm các phân thuỳ 1,2,3,4 chiếm khoảng 40 % tổng thể tích gan. Giải phẫu động mạch gan Giải phẫu bình thường của động mạch gan chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 75%, còn lại là những trường hợp có biến đổi giải phẫu.

Động mạch gan là thành phần có nhiều biến đổi giải phẫu nhất, những bất thường động mạch gan là động mạch gan đến từ nguồn khác ngoài động mạch thân tạng, từ nguồn động mạch thân tạng nhưng có bất thường khi xuất phát hoặc bằng đường đi với mối liên quan giải phẫu không bình thường. Các hình thái biến đổi giải phẫu đã được các tác giả tổng hợp trong các phân loại của mình, trong đó phân loại được áp dụng chủ yếu trong ghép gan là của tác giả Varotti [13] phân chia động mạch gan thành 6 dạng. - Dạng 1 (dạng bình thường – chiếm đa số): động mạch gan phải và trái xuất phát từ động mạch gan riêng. - Dạng 5 (hiếm gặp): động mạch gan riêng xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên.

- Dạng 6 (hiếm gặp): động mạch gan riêng xuất phát từ động mạch chủ bụng. Biến đổi giải phẫu động mạch gan theo Varotti N u n: Varotti G. Giải phẫu tĩnh mạch cửa Tĩnh mạch cửa là một tĩnh mạch chức năng, nhận máu tĩnh mạch từ lách, tụy và ống tiêu hoá ở trong ổ bụng đổ về gan. Tĩnh mạch cửa là thành phần trong cuống Glisson ít có biến đối giải phẫu nhất.

Theo phân loại của Torres [14], giải phẫu tĩnh mạch cửa chia làm 5 dạng. Biến đổi giải phẫu tĩnh mạch cửa theo Torres N u n: orres A. (2005) [14] - Dạng A (dạng bình thường – chiếm đa số): có tĩnh mạch cửa phải và trái, chiếm tỷ lệ 92,5%. - Dạng B (trifurcation): không có tĩnh mạch cửa phải, hay tĩnh mạch cửa phải chia sớm tại rốn gan, chiếm tỷ lệ 2,5%.

- Dạng C: tĩnh mạch cửa phân thùy trước xuất phát từ tĩnh mạch cửa trái ở ngoài gan, chiếm tỷ lệ 2,5%. - Dạng D: tĩnh mạch cửa phân thùy trước xuất phát từ tĩnh mạch cửa trái trong gan, chiếm tỷ lệ 1,7%. - Dạng E: không phân chia từ thân tĩnh mạch cửa riêng cho 2 gan, chiếm tỷ lệ 0,8%. Theo phân loại của Varotti [13], giải phẫu tĩnh mạch cửa chia làm 3 dạng.

- Dạng 1 (dạng bình thường – chiếm đa số): có tĩnh mạch cửa phải và trái, tương ứng dạng A của Torres. - Dạng 2 (trifurcation): không có tĩnh mạch cửa phải, tương ứng dạng B của Torres.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào các phương pháp kỹ thuật và hiệu quả của việc tái tạo lưu thông mạch máu trong quá trình ghép gan phải từ người hiến sống. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những thông tin chi tiết về quy trình phẫu thuật mà còn đánh giá kết quả lâm sàng, giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa kỹ thuật ghép gan để đảm bảo sự thành công và an toàn cho bệnh nhân. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai đang tìm hiểu hoặc làm việc trong lĩnh vực ghép tạng và phẫu thuật gan.

Để khám phá sâu hơn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống, một tài liệu chi tiết hơn với các phân tích chuyên sâu và kết quả nghiên cứu cụ thể. Đây là cơ hội tuyệt vời để mở rộng kiến thức và hiểu biết của bạn về lĩnh vực này.