Tổng quan luận án
Phẫu thuật ghép gan là phương pháp điều trị triệt để cho các bệnh lý gan giai đoạn cuối, suy gan cấp và ung thư gan nguyên phát phù hợp tiêu chuẩn. Trong đó, ghép gan phải từ người hiến sống (Living Donor Liver Transplantation - LDLT) giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt tại các quốc gia Châu Á, nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt tạng hiến từ người chết não cũng như hạn chế hội chứng mảnh ghép gan nhỏ (small-for-size syndrome) ở người lớn. Trong toàn bộ quy trình ghép gan, việc tái tạo lưu thông và khâu nối các cấu trúc mạch máu—bao gồm tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa và động mạch gan—là khâu kỹ thuật mang tính quyết định đến sự tưới máu, tỷ lệ sống của mảnh ghép và tính mạng người nhận.
Mặc dù mang lại hiệu quả điều trị cao, phẫu thuật ghép gan phải từ người hiến sống đối mặt với nhiều thách thức kỹ thuật do sự đa dạng của các biến thể giải phẫu mạch máu (như tĩnh mạch gan giữa, tĩnh mạch gan phải phụ, các nhánh phân chia sớm của tĩnh mạch cửa và động mạch gan) cũng như các thương tổn phức tạp kèm theo (huyết khối tĩnh mạch cửa, bóc tách nội mạc động mạch gan). Các nghiên cứu quốc tế ghi nhận tỷ lệ biến chứng mạch máu sau ghép gan từ người hiến sống dao động từ 4,1% đến 22%, bao gồm huyết khối, hẹp miệng nối, chảy máu và hoại tử mảnh ghép. Tại Việt Nam, kể từ ca ghép gan phải từ người hiến sống ở người lớn đầu tiên được thực hiện vào năm 2007, kỹ thuật này đã được triển khai thường quy với khoảng 50 trường hợp mỗi năm trên cả nước. Tuy nhiên, các báo cáo trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào kết quả điều trị chung mà chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đánh giá toàn diện về các đặc điểm kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu, kết quả phục hồi dòng chảy và phân tích các yếu tố liên quan đến biến chứng mạch máu sau mổ.
Để giải quyết khoảng trống nghiên cứu này, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Trung Hiếu với đề tài "Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống" được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:
- Mô tả đặc điểm kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống.
- Đánh giá kết quả tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải từ người hiến sống và một số yếu tố liên quan.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm các cặp người hiến và người nhận gan trong phẫu thuật ghép gan phải từ người hiến sống tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 / Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và các cơ sở phối hợp, thuộc chuyên ngành Ngoại khoa/Ngoại Tiêu hóa (Mã số: 9720104), bảo vệ năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Ghép gan lâm sàng trên thế giới được khởi xướng từ công trình đầu tiên của Thomas E. Starzl vào tháng 3/1963 tại Đại học Colorado (Denver, Hoa Kỳ) trên bệnh nhân nhi bị teo đường mật bẩm sinh. Trải qua các giai đoạn phát triển, kỹ thuật ghép gan từ người hiến sống được thực hiện thành công lần đầu bởi Raia và cộng sự (1988), tiếp nối bởi Strong tại Úc (1989) với mảnh ghép phân thùy 2, 3. Đến tháng 5/1996, Bệnh viện Queen Mary (Hồng Kông) ghi dấu mốc thực hiện thành công ca ghép gan phải từ người hiến sống ở người lớn đầu tiên trên thế giới. Sau đó, hàng loạt trung tâm lớn tại Châu Á và Châu Âu như Trung tâm Y tế Asan - Hàn Quốc (1997), Đại học Kyoto - Nhật Bản (1998) và nhóm Essen - Đức (1998) đã triển khai và hoàn thiện kỹ thuật này.
Tại Việt Nam, lịch sử ghép gan đánh dấu cột mốc ngày 31/01/2004 với ca ghép gan từ người hiến sống đầu tiên cho bệnh nhi teo đường mật tại Bệnh viện Quân y 103 (Học viện Quân y). Ngày 28/11/2007, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thực hiện thành công ca ghép gan phải người lớn đầu tiên từ người hiến sống cho bệnh nhân xơ gan do viêm gan virus B kết hợp ung thư gan nguyên phát. Đến tháng 11/2021, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiếp tục đạt bước tiến mới khi thực hiện thành công ca phẫu thuật nội soi lấy mảnh ghép gan phải từ người hiến sống đầu tiên tại Việt Nam.
Trong bức tranh nghiên cứu quốc tế, kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong ghép gan phải luôn tồn tại nhiều quan điểm và trường phái kỹ thuật khác nhau:
- Tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan: Lo và cộng sự (1997) đề xuất lấy mảnh ghép gan phải mở rộng kèm theo tĩnh mạch gan giữa (MHV) để bảo đảm dẫn lưu cho phân thùy trước. Ngược lại, Lee S.G. và cộng sự (Hàn Quốc, 2006) ủng hộ việc để lại tĩnh mạch gan giữa cho người hiến nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối, đồng thời thực hiện tái tạo lưu thông các nhánh tĩnh mạch hạ phân thùy 5 (V5) và hạ phân thùy 8 (V8) có đường kính lớn hơn 5 mm bằng các vật liệu mạch máu nhân tạo hoặc tự thân. Chu C. và cộng sự (2014) phát triển kỹ thuật bảo tồn nhánh đuôi của tĩnh mạch gan giữa cho hạ phân thùy 4 nhằm cân bằng lợi ích cho cả hai bên. Nghiên cứu của Pamecha và cộng sự (2018) trên 315 bệnh nhân chứng minh nhóm tái tạo tĩnh mạch gan thành một miệng nối chung duy nhất có thời gian thiếu máu ấm (27 so với 45 phút, p < 0,001), thời gian không gan (132 so với 159 phút, p < 0,001) và thời gian phẫu thuật (680 so với 840 phút, p < 0,001) ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tạo 2 miệng nối riêng biệt.
- Tái tạo lưu thông tĩnh mạch cửa: Guler N. và cộng sự (2013) nghiên cứu tạo hình các biến thể giải phẫu tĩnh mạch cửa (như dạng chia ba - trifurcation, hoặc phân thùy trước xuất phát từ tĩnh mạch cửa trái) thành một miệng nối duy nhất hoặc kết hợp với tĩnh mạch hiển tự thân. Về xử trí huyết khối tĩnh mạch cửa theo phân loại của Yerdel M. (2000), các tác giả như Mori A. (2012) và Moon đã hệ thống hóa các kỹ thuật lấy huyết khối tĩnh mạch cửa độ I, II hoặc làm cầu nối mạch máu bằng đoạn mạch tự thân/đồng loại nối từ tĩnh mạch mạc treo tràng trên (SMV), tĩnh mạch thận trái hoặc tĩnh mạch vị trái đối với độ III, IV.
- Tái tạo lưu thông động mạch gan: Thập niên 1990, nhóm nghiên cứu tại Đại học Kyoto đã ứng dụng kính hiển vi vi phẫu trong khâu nối động mạch gan, giúp giảm tỷ lệ biến chứng huyết khối động mạch gan từ 28,6% xuống còn 5,4%. Các công trình của Bai D. (2019) và Lin so sánh hiệu quả giữa kỹ thuật khâu mối rời và khâu vắt vi phẫu, cũng như việc ứng dụng kính lúp phẫu thuật độ phóng đại cao.
- Tỷ lệ biến chứng mạch máu: Nghiên cứu của Rather và cộng sự ghi nhận tỷ lệ biến chứng mạch máu là 16,1% trong 5 năm đầu triển khai; Piardi và cộng sự (2016) tổng kết tỷ lệ biến chứng chung là 13%; Tan và cộng sự ghi nhận tỷ lệ biến chứng mạch máu là 22% (12/50 bệnh nhân); Astarcıoglu và cộng sự (2015) trên 607 ca ghi nhận 4,1% biến chứng mạch máu (động mạch gan 2,1%, tĩnh mạch cửa 1,5%), trong đó nhóm ghép gan từ người hiến sống có tỷ lệ biến chứng là 5,2% so với 2,7% ở nhóm người hiến chết não.
Vị trí của luận án trong hệ thống y văn: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận một cách toàn diện các biến đổi giải phẫu phức tạp của hệ thống mạch máu gan phải ở người hiến và người nhận, chuẩn hóa quy trình phẫu thuật tái tạo dòng chảy mạch máu (tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa, động mạch gan) và phân tích các yếu tố tiên lượng ảnh hưởng đến biến chứng mạch máu sau ghép gan phải từ người hiến sống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các hệ thống phân loại ứng dụng
Luận án dựa trên nền tảng giải phẫu học ngoại khoa mạch máu gan kinh điển và các hệ thống phân loại lâm sàng hiện đại:
- Phân chia thùy gan: Hệ thống phân chia 8 hạ phân thùy theo Couinaud dựa trên sự phân bố của cuống Glisson và các tĩnh mạch gan; đối chiếu với quan điểm phân chia gan dựa trên các khe giải phẫu của GS. Tôn Thất Tùng (1963).
- Phân loại biến đổi giải phẫu động mạch gan theo Varotti: Bao gồm 6 dạng (Dạng 1 là dạng giải phẫu bình thường chiếm đa số; Dạng 5 là động mạch gan riêng xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên; Dạng 6 là động mạch gan riêng xuất phát trực tiếp từ động mạch chủ bụng).
- Phân loại biến đổi giải phẫu tĩnh mạch cửa: Theo Torres A. (2005) gồm 5 dạng:
- Dạng A (bình thường, chiếm 92,5%): Thân tĩnh mạch cửa chia thành nhánh phải và trái.
- Dạng B (trifurcation, chiếm 2,5%): Thân tĩnh mạch cửa chia 3 nhánh đồng thời (phải trước, phải sau và trái).
- Dạng C (chiếm 2,5%): Tĩnh mạch cửa phân thùy trước xuất phát từ nhánh tĩnh mạch cửa trái ngoài gan.
- Dạng D (chiếm 1,7%): Tĩnh mạch cửa phân thùy trước xuất phát từ nhánh tĩnh mạch cửa trái trong gan.
- Dạng E (chiếm 0,8%): Thân tĩnh mạch cửa không phân chia riêng cho hai nửa gan.
(Phân loại Varotti chia tĩnh mạch cửa thành 3 dạng tương ứng với các dạng A, B và C/D của Torres).
- Phân loại biến đổi giải phẫu tĩnh mạch gan theo Varotti: Chia thành 4 dạng dựa trên sự hiện diện của nhánh tĩnh mạch hạ phân thùy 5 (V5), hạ phân thùy 8 (V8) và tĩnh mạch gan phải phụ (IRHV):
- Dạng 1: Không có tĩnh mạch V5 và V8 (1a: không có IRHV; 1b: có IRHV).
- Dạng 2: Có tĩnh mạch V5 (2a: không có IRHV; 2b: có IRHV).
- Dạng 3: Có tĩnh mạch V8 (3a: không có IRHV; 3b: có IRHV).
- Dạng 4: Có cả tĩnh mạch V5 và V8 (4a: không có IRHV; 4b: có IRHV).
- Phân loại huyết khối tĩnh mạch cửa theo Yerdel M. (2000):
- Độ I: Huyết khối tĩnh mạch cửa chính chiếm < 50% lòng mạch, có hoặc không lan đến tĩnh mạch mạc treo tràng trên ở mức tối thiểu.
- Độ II: Huyết khối chiếm > 50% hoặc tắc hoàn toàn tĩnh mạch cửa chính, có hoặc không lan đến tĩnh mạch mạc treo tràng trên ở mức tối thiểu.
- Độ III: Huyết khối hoàn toàn tĩnh mạch cửa chính lan đến đoạn gần và một phần đoạn xa của tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
- Độ IV: Tắc hoàn toàn tĩnh mạch cửa chính và toàn bộ tĩnh mạch mạc treo tràng trên đoạn gần lẫn đoạn xa.
- Tiêu chuẩn chỉ định ghép gan:
- Suy gan cấp: Đánh giá theo tiêu chuẩn Nhật Bản (Mochida) và tiêu chuẩn King's College (phân nhóm do ngộ độc Paracetamol và do các căn nguyên khác).
- Xơ gan mất bù: Dựa trên thang điểm Child-Pugh (A: 5-6 điểm, B: 7-9 điểm, C: 10-15 điểm) và thang điểm MELD (Model for End-Stage Liver Disease) với ngưỡng chỉ định $\ge 15$ điểm; công thức Mayo Clinic cho xơ gan ứ mật.
- Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC): Ứng dụng tiêu chuẩn Milan (1 u $\le 5$ cm hoặc tối đa 3 u, mỗi u $\le 3$ cm) và tiêu chuẩn UCSF (University of California, San Francisco: 1 u $\le 6,5$ cm hoặc tối đa 3 u với u lớn nhất $\le 4,5$ cm và tổng đường kính $\le 8$ cm).
- Tiêu chuẩn thể tích và nhiễm mỡ gan của người hiến: Đánh giá thể tích gan qua chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc (Aquilion One 320 dãy) và tỷ lệ nhiễm mỡ qua cộng hưởng từ (MRI). Tỷ lệ thể tích mảnh ghép so với cân nặng người nhận (GRBWR) đạt từ 0,6% đến 0,8%; tỷ lệ thể tích gan còn lại của người hiến (RLV/SLV) $\ge 30-40%$; mức độ gan nhiễm mỡ an toàn ở người hiến dưới 30% (gan nhiễm mỡ độ 0: < 5%, độ 1: 5-33%, độ 2: 33-66%, độ 3: > 66%).
| Hệ thống tiêu chuẩn / Thang điểm |
Yếu tố cấu thành và phân loại |
Ý nghĩa lâm sàng trong ghép gan |
| Tiêu chuẩn King's College (Suy gan cấp do Paracetamol) |
pH máu < 7,3 hoặc kết hợp cả 3 yếu tố: INR > 6,5, Creatinine > 3,4 mg/dL và bệnh não gan độ III-IV |
Chỉ định ghép gan cấp cứu |
| Tiêu chuẩn King's College (Suy gan cấp căn nguyên khác) |
INR > 6,5 hoặc có 3 trong 5 tiêu chuẩn: Tuổi < 10 hoặc > 40; Do virus non-A, non-B; Thời gian từ vàng da đến hôn mê > 7 ngày; Bilirubin > 17,5 mg/dL; INR > 3,5 |
Chỉ định ghép gan cấp cứu |
| Thang điểm Child-Pugh |
5 chỉ số: Bilirubin (<34, 34-51, >51 µmol/L), Albumin (>35, 28-35, <28 g/L), Thời gian Prothrombin kéo dài (<4, 4-6, >6 s), Cổ trướng (Không, Kín đáo, Rõ), Bệnh não gan (Không, Độ 1-2, Độ 3-4) |
Đánh giá mức độ suy tế bào gan (Child-Pugh A: 5-6 điểm; B: 7-9 điểm; C: 10-15 điểm) |
| Phân loại Yerdel (Huyết khối tĩnh mạch cửa) |
Độ I (< 50% PV), Độ II (> 50% hoặc tắc hoàn toàn PV), Độ III (Tắc hoàn toàn PV + đoạn gần SMV), Độ IV (Tắc hoàn toàn PV + toàn bộ SMV) |
Lựa chọn phương pháp phẫu thuật tái tạo tĩnh mạch cửa (lấy huyết khối, bắc cầu SMV, tĩnh mạch thận trái) |
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc tiến cứu và hồi cứu trên nhóm bệnh nhân được phẫu thuật ghép gan phải từ người hiến sống.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Người nhận có chỉ định ghép gan rõ ràng (suy gan cấp, xơ gan mất bù MELD $\ge 15$, HCC trong tiêu chuẩn Milan/UCSF); người hiến sống tự nguyện, tương thích nhóm máu hoặc phù hợp miễn dịch, có giải phẫu mạch máu cho phép lấy gan phải an toàn, GRBWR $\ge 0,6%$, RLV/SLV $\ge 30-40%$, gan nhiễm mỡ < 30%.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Người nhận có nhiễm trùng nặng ngoài gan chưa kiểm soát, ung thư di căn xa hoặc có chống chỉ định ngoại khoa tuyệt đối; người hiến có bất thường giải phẫu mạch máu chống chỉ định (như tĩnh mạch cửa dạng E) hoặc bệnh lý nội khoa kèm theo.
- Phương tiện, dụng cụ nghiên cứu: Máy chụp cắt lớp vi tính 320 dãy Aquilion One; máy siêu âm Doppler trong mổ Aloka 4000; hệ thống dao cắt hút siêu âm CUSA Excel+; kính hiển vi phẫu thuật chuyên dụng và kính lúp vi phẫu; clamp vi phẫu; chỉ khâu mạch máu vi phẫu (Prolene 7/0, 8/0, 9/0); các vật liệu tạo hình mạch (đoạn mạch nhân tạo PTFE/PETE, tĩnh mạch hiển tự thân, mảnh mạch đồng loại).
- Quy trình thu thập và xử lý số liệu: Thu thập các chỉ tiêu về đặc điểm lâm sàng, hình thái mảnh ghép gan phải, kỹ thuật xử trí từng loại mạch máu tại bàn rửa gan (back-table) và trong ổ bụng, thời gian phẫu thuật, thời gian thiếu máu lạnh, thời gian thiếu máu ấm, thời gian không gan, lượng máu mất trong mổ; theo dõi các thông số huyết động học, vận tốc dòng chảy, chỉ số trở kháng (Resistive Index - RI) qua siêu âm Doppler trong mổ và sau mổ; ghi nhận biến chứng mạch máu gần và xa, tỷ lệ sống thêm của bệnh nhân và mảnh ghép.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các y văn về giải phẫu học gan và ứng dụng trong phẫu thuật ghép gan từ người hiến sống:
- Trình bày đặc điểm giải phẫu phân chia phân thùy gan theo Tôn Thất Tùng và Couinaud, phân tích 3 cách chia 6 dạng mảnh ghép gan cho hai người nhận (người lớn - trẻ em hoặc 2 người lớn).
- Phân tích chi tiết các biến thể giải phẫu động mạch gan theo Varotti (Dạng 1 đến Dạng 6), tĩnh mạch cửa theo Torres (Dạng A đến E) và tĩnh mạch gan theo Varotti (Dạng 1 đến 4).
- Làm rõ nguyên lý xác định thể tích gan bằng chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc 4 thì, các chỉ số tỷ lệ GRBWR, RLV/SLV và tiêu chuẩn lựa chọn mảnh ghép theo Yagi. Đánh giá độ nhiễm mỡ qua MRI (độ 0 đến độ 3) và mối liên quan với nguy cơ rối loạn chức năng mảnh ghép nguyên phát (tỷ lệ mất chức năng lên tới 75% nếu gan nhiễm mỡ độ 2).
- Khái quát lịch sử ghép gan thế giới và Việt Nam; phân tích các hình thái mảnh gan ghép từ người hiến sống: mảnh ghép thùy trái (phân thùy 2, 3), mảnh ghép gan trái (phân thùy 2, 3, 4), mảnh ghép gan phải (có hoặc không kèm MHV), mảnh ghép phân thùy trước, mảnh ghép phân thùy sau, mảnh ghép đôi và ghép gan Domino.
- Điểm lại các kỹ thuật tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan (mở rộng miệng nối tĩnh mạch gan phải vào tĩnh mạch chủ dưới IVC, tạo hình dẫn lưu V5/V8 bằng đoạn mạch nhân tạo PTFE/tự thân, nối tĩnh mạch gan phải phụ IRHV); kỹ thuật tạo hình tĩnh mạch cửa dạng B, C, D và xử trí huyết khối theo Yerdel (lấy huyết khối, bắc cầu SMV, sử dụng tĩnh mạch thận trái hoặc tĩnh mạch vị trái); kỹ thuật khâu nối động mạch gan vi phẫu (mối rời, mối vắt, so sánh kính hiển vi và kính lúp).
- Tổng kết các nghiên cứu lâm sàng của Tan, Pamecha, Astarcıoglu về tỷ lệ biến chứng mạch máu, thời gian mổ và thời gian phục hồi tưới máu mảnh ghép.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận và các bước tiến hành nghiên cứu:
- Xác định tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối với người hiến gan và người nhận gan.
- Thiết kế nghiên cứu can thiệp mô tả cắt ngang, kết hợp theo dõi dọc. Trình bày sơ đồ nghiên cứu từ khâu tuyển chọn, đánh giá tiền phẫu bằng chẩn đoán hình ảnh (CLVT 320 dãy, MRI), quy trình phẫu thuật lấy mảnh ghép gan phải ở người hiến, quy trình rửa gan tại bàn rửa (back-table preparation), đến kỹ thuật khâu nối mạch máu trên người nhận.
- Chuẩn hóa các bước kỹ thuật tái tạo lưu thông:
- Tái tạo tĩnh mạch gan: Kỹ thuật mở rộng miệng nối tĩnh mạch gan phải vào tĩnh mạch chủ dưới; kỹ thuật tạo hình thân chung tĩnh mạch gan giữa với các nhánh V5, V8 đường kính $> 5$ mm sử dụng đoạn mạch nhân tạo PTFE/PETE hoặc tĩnh mạch hiển tự thân; kỹ thuật nối trực tiếp hoặc tạo hình thân chung cho các tĩnh mạch gan phải phụ (IRHV).
- Tái tạo tĩnh mạch cửa: Kỹ thuật tạo hình thành sau hoặc mở rộng miệng nối đối với các biến thể giải phẫu dạng B, C; kỹ thuật bóc tách lấy huyết khối tĩnh mạch cửa nội mạc hoặc bắc cầu mạch máu đối với các mức độ huyết khối theo Yerdel.
- Tái tạo động mạch gan: Kỹ thuật vi phẫu khâu nối tận - tận bằng các mũi khâu rời hoặc khâu vắt dưới kính hiển vi/kính lúp phẫu thuật với chỉ 8/0 hoặc 9/0; kỹ thuật xử lý tổn thương bóc tách nội mạc động mạch gan người nhận theo phân độ chu vi và chiều dài.
- Xác định các chỉ tiêu nghiên cứu: Thời gian mổ, lượng máu mất, thời gian thiếu máu lạnh, thời gian rửa gan, thời gian thiếu máu ấm, thời gian không gan; kết quả siêu âm Doppler mạch máu trong mổ và sau mổ (vận tốc, phổ dòng chảy, chỉ số trở kháng RI); các biến chứng mạch máu sớm và muộn; thời gian sống thêm của bệnh nhân và mảnh ghép.
- Trình bày phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê y học và cam kết tuân thủ đạo đức nghiên cứu y sinh học.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ mẫu nghiên cứu:
- Đặc điểm chung và chỉ định: Phân bố tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), các nhóm chỉ định ghép gan chính gồm xơ gan mất bù (phân loại theo Child-Pugh và MELD), ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) theo tiêu chuẩn Milan/UCSF, suy gan cấp (ACLF).
- Đặc điểm mạch máu và mảnh ghép: Phân bố các biến đổi giải phẫu động mạch gan (theo Varotti), tĩnh mạch cửa (theo Torres/Varotti), tĩnh mạch gan (các dạng có V5, V8, IRHV theo Varotti); đường kính các mạch máu của mảnh ghép; thể tích mảnh ghép thực tế, tỷ lệ GRBWR, tỷ lệ thể tích gan còn lại và độ nhiễm mỡ của mảnh ghép.
- Đặc điểm kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu:
- Tỷ lệ áp dụng các kỹ thuật tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan giữa (sử dụng đoạn mạch nhân tạo PTFE, tĩnh mạch hiển, ghép kèm nhánh); kỹ thuật mở rộng miệng nối tĩnh mạch gan phải vào IVC; kỹ thuật nối tĩnh mạch gan phải phụ đơn độc hoặc tạo thân chung.
- Tỷ lệ và kỹ thuật tạo hình tĩnh mạch cửa ở các trường hợp có biến thể giải phẫu và các trường hợp có huyết khối tĩnh mạch cửa trước mổ.
- Kỹ thuật khâu nối động mạch gan (tỷ lệ khâu mối rời, khâu mối vắt; sử dụng kính hiển vi hoặc kính lúp); kỹ thuật xử lý các trường hợp có tổn thương bóc tách nội mạc động mạch gan người nhận.
- Các kỹ thuật tối ưu hóa dòng chảy mảnh ghép gan (thắt tĩnh mạch lách, thắt các shunt cửa - chủ, cắt lách).
- Thời gian phẫu thuật và kết quả chu phẫu: Thời gian mổ tổng thể, lượng máu mất; so sánh thời gian rửa gan và thời gian thiếu máu lạnh giữa các nhóm kỹ thuật; kết quả siêu âm Doppler mạch máu kiểm tra trong mổ ngay sau tái tưới máu (phổ dòng chảy tĩnh mạch cửa, vận tốc và chỉ số trở kháng động mạch gan).
- Kết quả gần và kết quả xa: Diễn biến hồi phục chức năng gan qua các xét nghiệm sinh hóa (Bilirubin, AST, ALT, INR) theo ngày sau mổ; tỷ lệ biến chứng mạch máu sớm (huyết khối, hẹp miệng nối, chảy máu); kết quả theo dõi siêu âm Doppler mạch máu định kỳ sau mổ; tỷ lệ sống thêm toàn bộ (overall survival) của bệnh nhân và mảnh ghép theo biểu đồ Kaplan-Meier.
- Các yếu tố liên quan: Phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm giải phẫu, kỹ thuật khâu nối mạch máu, thời gian thiếu máu với sự xuất hiện các biến chứng tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa và động mạch gan.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tiến hành phân tích sâu sắc các kết quả nghiên cứu trong sự so sánh và đối chiếu với y văn quốc tế:
- Bàn luận về chỉ định và đặc điểm người nhận: Đánh giá mức độ phù hợp của tiêu chuẩn lựa chọn người nhận xơ gan, suy gan cấp và ung thư gan nguyên phát tại Việt Nam so với các trung tâm lớn trên thế giới; tầm quan trọng của việc tối ưu hóa tỷ lệ GRBWR và hạn chế mức độ nhiễm mỡ gan người hiến.
- Bàn luận về kỹ thuật tái tạo tĩnh mạch gan: Khẳng định vai trò của việc tái tạo lưu thông các nhánh tĩnh mạch gan giữa (V5, V8) có đường kính $> 5$ mm nhằm ngăn ngừa tình trạng ứ máu phân thùy trước mà vẫn đảm bảo an toàn cho người hiến gan; phân tích ưu nhược điểm của các loại vật liệu tạo hình mạch (đoạn mạch nhân tạo PTFE/PETE có ưu thế về đường kính và độ sẵn có nhưng tiềm ẩn nguy cơ chèn ép hoặc nhiễm trùng so với tĩnh mạch tự thân); giá trị của kỹ thuật mở rộng miệng nối tĩnh mạch gan phải vào tĩnh mạch chủ dưới giúp ngăn ngừa hiện tượng xoắn vặn và hẹp miệng nối khi mảnh gan ghép phì đại sau mổ.
- Bàn luận về kỹ thuật tái tạo tĩnh mạch cửa: Phân tích giải pháp tạo hình đối với các biến thể giải phẫu tĩnh mạch cửa (dạng B, C, D) thành một miệng nối duy nhất nhằm giảm thời gian khâu nối và nguy cơ hẹp; bàn luận về chiến lược phẫu thuật xử trí huyết khối tĩnh mạch cửa theo phân loại Yerdel (từ lấy huyết khối đơn thuần ở độ I, II đến kỹ thuật làm cầu nối mạch máu ở độ III, IV) kết hợp các biện pháp thắt shunt cửa - chủ để tối ưu hóa lưu lượng dòng máu nuôi gan ghép.
- Bàn luận về kỹ thuật tái tạo động mạch gan: So sánh hiệu quả vi phẫu nối động mạch gan giữa phương pháp khâu mối rời và khâu mối vắt; đánh giá độ chính xác và an toàn của kính lúp phẫu thuật độ phóng đại cao so với kính hiển vi phẫu thuật; thảo luận các giải pháp xử trí tổn thương bóc tách nội mạc động mạch gan người nhận (cắt lọc đến đoạn nội mạc lành, khâu cố định nội mạc hoặc thay thế bằng nguồn động mạch khác).
- Bàn luận về kết quả và các yếu tố liên quan đến biến chứng mạch máu: Đối chiếu tỷ lệ biến chứng mạch máu, tỷ lệ sống thêm sau mổ với các nghiên cứu của Pamecha, Rather, Tan, Astarcıoglu; phân tích các yếu tố nguy cơ kỹ thuật (số lượng miệng nối, thời gian thiếu máu ấm, kích thước mạch máu) ảnh hưởng đến kết quả phục hồi dòng chảy và sự sống còn của mảnh gan ghép.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả chính và đóng góp mới của luận án
-
Về mặt kỹ thuật ngoại khoa:
- Luận án đã mô tả chi tiết và hệ thống hóa toàn diện các kỹ thuật tái tạo lưu thông mạch máu trong phẫu thuật ghép gan phải từ người hiến sống phù hợp với đặc thù giải phẫu của người Việt Nam.
- Chuẩn hóa chỉ định và kỹ thuật tái tạo lưu thông các nhánh tĩnh mạch gan giữa (V5, V8 $> 5$ mm) bằng đoạn mạch nhân tạo (PTFE) hoặc mạch tự thân, bảo tồn tối đa thể tích gan hoạt động của mảnh ghép gan phải mà vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người hiến gan.
- Xác lập quy trình tạo hình các biến thể giải phẫu tĩnh mạch cửa phức tạp (dạng chia ba, phân thùy trước tách sớm) thành một miệng nối duy nhất, cũng như quy trình xử trí huyết khối tĩnh mạch cửa từ lấy huyết khối nội mạc đến bắc cầu tĩnh mạch.
- Hoàn thiện kỹ thuật vi phẫu nối động mạch gan (khâu mối rời và mối vắt), phân loại và đưa ra phác đồ xử trí hiệu quả đối với tổn thương bóc tách nội mạc động mạch gan người nhận.
-
Về mặt thực tiễn lâm sàng:
- Đánh giá chính xác kết quả phục hồi lưu thông mạch máu thông qua các chỉ số huyết động học và siêu âm Doppler mạch máu trong mổ và theo dõi sau mổ.
- Luận án xác định được các yếu tố nguy cơ kỹ thuật liên quan đến biến chứng mạch máu (tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa, động mạch gan), cung cấp cơ sở thực chứng để phẫu thuật viên lựa chọn phương pháp khâu nối tối ưu, giảm thiểu thời gian thiếu máu ấm, thời gian không gan và tỷ lệ biến chứng sau ghép.
- Góp phần nâng cao tỷ lệ thành công của phẫu thuật ghép gan phải từ người hiến sống tại Việt Nam, đưa kỹ thuật này trở thành phẫu thuật thường quy tại các trung tâm ghép tạng lớn.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ứng dụng thường quy việc chụp cắt lớp vi tính đa dãy (từ 320 dãy) và cộng hưởng từ mạch máu có dựng hình 3D trước mổ để đánh giá chính xác các biến đổi giải phẫu của hệ thống mạch máu ở cả người hiến và người nhận.
- Thực hiện tái tạo lưu thông tất cả các nhánh tĩnh mạch hạ phân thùy 5, 8 và tĩnh mạch gan phải phụ có đường kính $\ge 5$ mm; ưu tiên tạo hình thành một miệng nối rộng duy nhất vào tĩnh mạch chủ dưới.
- Ứng dụng siêu âm Doppler mạch máu trực tiếp trong mổ ngay sau khi tái tưới máu để đánh giá tức thì phổ dòng chảy, vận tốc và chỉ số trở kháng RI của động mạch gan, tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan nhằm phát hiện, xử trí kịp thời các xoắn vặn hoặc hẹp miệng nối.
- Tiếp tục đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật vi phẫu mạch máu và trang bị đồng bộ các phương tiện chuyên dụng (kính vi phẫu, kính lúp, dụng cụ vi phẫu, dao mổ siêu âm CUSA) cho các kíp phẫu thuật ghép gan.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Công trình nghiên cứu được triển khai trên nhóm bệnh nhân ghép gan phải từ người hiến sống tại trung tâm ghép tạng lớn, các biến thể giải phẫu mạch máu hiếm gặp (như tĩnh mạch cửa dạng D, tổn thương bóc tách động mạch lan rộng) có số lượng ca bệnh còn hạn chế; thời gian theo dõi dọc chủ yếu tập trung vào các kết quả gần và trung hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục mở rộng theo dõi dài hạn về tỷ lệ sống thêm sau 5 năm và 10 năm của người nhận và người hiến gan.
- Nghiên cứu ứng dụng các vật liệu mạch máu sinh học mới trong tạo hình tĩnh mạch gan và tĩnh mạch cửa.
- Nghiên cứu kết hợp các kỹ thuật can thiệp nội mạch (nong bóng, đặt stent) trong chẩn đoán và xử trí sớm các biến chứng hẹp hoặc huyết khối mạch máu sau phẫu thuật ghép gan.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao đối với:
- Phẫu thuật viên Ngoại Tiêu hóa, Ngoại Gan Mật Tụy và Ghép tạng: Tham khảo chi tiết từng bước kỹ thuật phẫu tích, tạo hình mạch máu tại bàn rửa gan và kỹ thuật khâu nối vi phẫu trong ổ bụng người nhận.
- Bác sĩ Gây mê hồi sức và Hồi sức ngoại khoa: Nắm bắt các mốc thời gian huyết động quan trọng (thời gian không gan, thời gian tái tưới máu) và các biến chứng chu phẫu để xây dựng phác đồ hồi sức tối ưu.
- Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp: Ứng dụng các bảng phân loại giải phẫu mạch máu (Varotti, Torres, Yerdel) trong đánh giá trước mổ và quy trình siêu âm Doppler theo dõi sau mổ.
- Nghiên cứu sinh, Học viên Cao học, Bác sĩ Nội trú chuyên ngành Ngoại khoa: Sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu phương pháp luận và quy trình triển khai nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu trong lĩnh vực phẫu thuật ghép tạng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn lựa chọn người hiến gan phải về mặt thể tích và mức độ gan nhiễm mỡ trong luận án được quy định như thế nào?
Người hiến gan phải cần đảm bảo tỷ lệ thể tích mảnh ghép so với trọng lượng cơ thể người nhận (GRBWR) đạt từ 0,6% đến 0,8% (tốt nhất $> 0,8%$) để tránh hội chứng mảnh ghép nhỏ. Đồng thời, tỷ lệ thể tích gan còn lại của người hiến (RLV/SLV) phải đạt từ 30% đến 40% thể tích gan chuẩn để đảm bảo an toàn sau mổ. Mức độ nhiễm mỡ của gan người hiến đo trên MRI phải dưới 30% (thuộc gan nhiễm mỡ độ 0 hoặc độ 1).
2. Chỉ định và kỹ thuật tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan giữa (MHV) cho mảnh ghép gan phải được thực hiện ra sao?
Để đảm bảo an toàn cho người hiến, tĩnh mạch gan giữa được để lại trên người hiến. Trên mảnh ghép gan phải, phẫu thuật viên tiến hành tái tạo lưu thông tất cả các nhánh tĩnh mạch của hạ phân thùy 5 (V5) và hạ phân thùy 8 (V8) có đường kính $> 5$ mm bằng cách sử dụng các đoạn mạch bắc cầu (đoạn mạch nhân tạo PTFE/PETE hoặc tĩnh mạch hiển tự thân) nối đổ vào tĩnh mạch chủ dưới hoặc thân chung tĩnh mạch gan nhằm chống ứ máu phân thùy trước.
3. Phân loại huyết khối tĩnh mạch cửa của Yerdel gồm những mức độ nào và nguyên tắc xử trí phẫu thuật tương ứng?
Phân loại Yerdel chia thành 4 độ: Độ I (< 50% lòng mạch PV), Độ II (> 50% hoặc tắc hoàn toàn PV), Độ III (tắc hoàn toàn PV lan đến đoạn gần SMV), Độ IV (tắc hoàn toàn PV và toàn bộ SMV). Nguyên tắc xử trí: Độ I và II tiến hành lấy huyết khối nội mạc hoặc cắt đoạn thay tĩnh mạch; Độ III sử dụng đoạn mạch tự thân/đồng loại bắc cầu từ SMV đến tĩnh mạch cửa gan ghép (đi trước tụy, sau dạ dày); Độ IV tiến hành nối ghép với tĩnh mạch thận trái hoặc tĩnh mạch vị trái giãn.
4. Kỹ thuật vi phẫu nối động mạch gan mang lại ưu thế gì so với phương pháp kinh điển?
Kỹ thuật vi phẫu khâu nối động mạch gan (sử dụng kính hiển vi phẫu thuật hoặc kính lúp độ phóng đại cao kết hợp chỉ vi phẫu 8/0-9/0) giúp quan sát rõ các lớp nội mạc mạch máu có khẩu kính rất nhỏ, từ đó giảm tỷ lệ biến chứng huyết khối động mạch gan từ 28,6% xuống còn 5,4% theo các nghiên cứu kinh điển được trích dẫn, hạn chế nguy cơ hoại tử đường mật và suy mảnh ghép cấp tính.
5. Nghiên cứu của Pamecha và cộng sự (2018) được điểm lại cho thấy sự khác biệt nào giữa việc tạo 1 miệng nối và 2 miệng nối tĩnh mạch gan?
Nghiên cứu trên 315 bệnh nhân của Pamecha chỉ ra rằng nhóm tái tạo tĩnh mạch gan thành 1 miệng nối chung duy nhất có thời gian thiếu máu ấm (27 so với 45 phút, p < 0,001), thời gian không gan (132 so với 159 phút, p < 0,001) và tổng thời gian phẫu thuật (680 so với 840 phút, p < 0,001) ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tạo 2 miệng nối riêng biệt, đồng thời có tỷ lệ hồi phục mảnh ghép tốt hơn và tỷ lệ biến chứng thấp hơn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Lê Trung Hiếu là công trình nghiên cứu ngoại khoa chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện các đặc điểm giải phẫu mạch máu và chuẩn hóa các kỹ thuật tái tạo lưu thông tĩnh mạch gan, tĩnh mạch cửa và động mạch gan trong ghép gan phải từ người hiến sống tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ hiệu quả của kỹ thuật tái tạo các nhánh tĩnh mạch gan giữa, mở rộng miệng nối tĩnh mạch chủ dưới, tạo hình các biến thể giải phẫu tĩnh mạch cửa và ứng dụng vi phẫu khâu nối động mạch gan trong việc tối ưu hóa tưới máu mảnh ghép. Các phát hiện và phân tích yếu tố liên quan đến biến chứng mạch máu trong luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển và hoàn thiện kỹ thuật phẫu thuật ghép tạng tại Việt Nam.