ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính phổ biến thứ tám trong tổng số các loại ung thư trên toàn thế giới, ước tính hàng năm có 604100 bệnh nhân (BN) mới mắc và 544076 bệnh nhân chết theo GLOBACAN [1]. Tại Việt Nam, ung thư thực quản đứng thứ 13 trong số các bệnh ung thư, có khoảng 3281 bệnh nhân mới mắc và 3080 bệnh nhân chết [1]. Bệnh thường được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển với tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ khoảng 31% [2]. Điều trị ung thư thực quản theo đa mô thức bao gồm: phẫu thuật, hoá trị, xạ trị và miễn dịch liệu pháp, trong đó phẫu thuật đóng vai trò chính.
Từ trước tới nay, đã có nhiều tác giả tiến hành cắt thực quản theo các phương pháp như: Sweet, Ivor-Lewis, Akiyama, Mc Keown. Cùng với sự tiến bộ của y học, phẫu thuật nội soi điều trị ung thư thực quản đã được áp dụng và trở nên phổ biến. Nhiều nghiên cứu gần đây trên thế giới cho thấy tính ưu việt rõ ràng của phẫu thuật nội soi ít xâm lấn so với mổ mở như: biến chứng ít hơn, giảm mất máu, hồi phục nhanh sau mổ [3]. Hiện nay, phẫu thuật điều trị ung thư thực quản vẫn tồn tại nhiều vấn đề còn tranh cãi như: phạm vi nạo vét hạch, loại hình ống cuốn dạ dày, vị trí đặt ống cuốn dạ dày, cách thức làm miệng nối.
Trong đó, vị trí đặt ống cuốn tại đường hầm trung thất sau hay sau xương ức vẫn là chủ đề của nhiều nghiên cứu. Năm 1976, Akiyama là tác giả đầu tiên phẫu thuật mở thay thực quản bằng ống cuốn dạ dày đặt sau xương ức điều trị ung thư thực quản [4]. Cho tới nay, đã có nhiều tác giả tiến hành phẫu thuật này bằng nội soi, Nhật Bản là nơi áp dụng rộng rãi nhất [5]. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về ưu, nhược điểm của phẫu thuật này [3], [5], [7].
Ống dạ dày đặt sau xương ức được cho là có ưu điểm vì tỷ lệ trào ngược dạ dày thấp, không có hội chứng dạ dày trong lồng ngực, tỷ lệ rò miệng nối thấp, khi có tái phát tại chỗ không ảnh hưởng tới ống dạ dày. Tuy nhiên, nhược điểm được chỉ ra là: đường đi dài, gập góc và có 2 tỉ lệ rò miệng nối cao hơn đường trung thất sau [8], [9]. Mặt khác, phương pháp làm đường hầm sau xương ức bằng mổ mở vẫn phổ biến, có một số nhược điểm: nguy cơ tổn thương màng phổi, mạch máu, đường hầm không đủ rộng. Phương pháp nội soi làm đường hầm gần đây mới được áp dụng và chưa có báo cáo về tính hiệu quả, tính khả thi và kết quả của phẫu thuật [10].
Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi cắt thực quản đã được thực hiện thường quy tại các bệnh viện lớn như: Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Trung Ương Quân Đội 108.Hầu hết các tác giả đang sử dụng đường hầm trung thất sau để đặt ống cuốn dạ dày. Việc áp dụng đường hầm sau xương ức có phù hợp với người Việt Nam không cũng như tính hiệu quả, an toàn, khả thi, kết quả của phương pháp này ra sao? Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ngực-bụng thay thực quản bằng dạ dày đặt sau xương ức điều trị ung thư thực quản” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm kĩ thuật của phẫu thuật nội soi ngực-bụng thay thực quản bằng dạ dày đặt sau xương ức điều trị ung thư thực quản. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ngực-bụng thay thực quản bằng dạ dày đặt sau xương ức điều trị ung thư thực quản.
Giải phẫu thực quản và đường hầm sau xương ức 1. Hình dáng, vị trí, kích thước Thực quản là đoạn đầu của ống tiêu hoá, nối hầu với dạ dày. Miệng thực quản nằm ngang bờ dưới sụn nhẫn. Đầu dưới đổ vào bờ phải phình vị lớn gọi là tâm vị.
Chiều dài thực quản vào khoảng 25cm, và có 4 chỗ hẹp. Từ trên xuống dưới, thực quản đi qua vùng cổ trước, trung thất sau, lỗ cơ hoành để xuống bụng. Như vậy thực quản có 3 phần chính, phần cổ dài 5 – 6 cm, phần ngực dài 16 – 18 cm, phần bụng dài 2 – 3 cm. Theo Ủy ban Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on Cancer) [11], thực quản chia thành 4 đoạn: - Thực quản cổ: bắt đầu ở bờ dưới sụn nhẫn và kết thúc ở lỗ trên lồng ngực ngang mức hõm ức.
Thực quản cổ nằm cạnh khí quản, bao cảnh và xương cột sống. - Thực quản ngực (1/3) trên: bắt đầu ở lỗ vào của lồng ngực và kết thúc ở bờ dưới tĩnh mạch đơn. Qua nội soi tiêu hóa, thực quản ngực trên là đoạn cách cung răng 20 cm đến <25 cm. - Thực quản ngực (1/3) giữa: là đoạn từ bờ dưới tĩnh mạch đơn đến tĩnh mạch phổi dưới.
Qua nội soi tiêu hóa, thực quản ngực giữa là đoạn cách cung răng 25 cm đến <30 cm. - Thực quản ngực (1/3) dưới và chỗ nối thực quản dạ dày: là đoạn từ tĩnh mạch phổi dưới đến dạ dày bao gồm cả chỗ nối thực quản dạ dày. Thực quản ngực dưới liên quan phía trước là màng ngoài tim, phía sau là cột sống và bên trái là động mạch chủ xuống. Qua nội soi tiêu hóa, thực quản ngực dưới là đoạn cách cung răng 30 cm đến <40 cm.
Giải phẫu thực quản ( Nguồn: Menezes M. Mạch máu và thần kinh chi phối - Động mạch: Phần cổ và phần ngực trên quai động mạch chủ, thực quản được cấp máu bởi động mạch giáp dưới. Phần thực quản ngực dưới quai động mạch chủ được cấp máu bởi 2 hệ động mạch: động mạch phế quản phải tách ra từ động mạch liên sườn một, động mạch phế quản trái cho một hoặc nhiều nhánh bên cấp máu cho mặt sau bên trái thực quản. Phần thực quản bụng được cấp máu bởi động mạch hoành dưới trái, nhánh thực quản tâm phình vị trước và sau của động mạch vị trái, nhánh tâm vị thực quản của động mạch lách.
Sau khi đi vào thành thực quản, các mạch máu chia nhánh theo kiểu vuông góc để tạo nên đám rối mạch máu dọc thực quản. Đám rối mạch máu này cung cấp lượng máu nuôi dưỡng dồi dào và cho phép di động thực quản từ dạ dày đến quai động mạch chủ mà không sợ thiếu máu. Các động mạch của thực quản (Nguồn: Netter F. H (2014) [13]) - Tĩnh mạch: Hình 1.
Tĩnh mạch dẫn lưu của thực quản (Nguồn: Netter F. H (2014) [13]) 6 Hệ thống tĩnh mạch thực quản xuất phát từ các mao mạch, toả ra trên thành thực quản 2 đám rối tĩnh mạch, đám rối dưới niêm mạc và đám rối tĩnh mạch cạnh thực quản. Các tĩnh mạch dẫn lưu máu theo từng vùng vào các tĩnh mạch giáp dưới, tĩnh mạch đơn. Hai tĩnh mạch này đổ vào tĩnh mạch chủ trên.
Một số tĩnh mạch đổ vào tĩnh mạch hoành dưới. Các tĩnh mạch đầu dưới thực quản đổ về tĩnh mạch vành vị, tĩnh mạch lách để về tĩnh mạch cửa. - Thần kinh: Thực quản và các đoạn khác của hệ tiêu hoá được 2 hệ thần kinh điều khiển, có hoạt động đối lập nhau, là hệ giao cảm và hệ đối giao cảm. Hệ giao cảm làm co mạch, co cơ thắt và dãn cơ thành ống tiêu hoá.
Hệ đối giao cảm làm tăng tiết các tuyến và tăng nhu động ống tiêu hoá. Dây thần kinh X ( Nguồn: Drake R. Đường hầm sau xương ức 1. Vị trí và các mối liên quan ĐSXU là đường hầm không có thật, chỉ được tạo ra trong quá trình phẫu thuật thay thế thực quản bằng ống dạ dày, hỗng tràng hoặc đại tràng.
Đây là 7 đường hầm tạo ra khi bóc tách khoang liên kết lỏng lẻo ngay phía sau xương ức. Đường hầm nằm ở trung thất trước và được giới hạn bởi các mặt như sau: + Mặt trước: chính giữa là phía sau xương ức. Về mặt giải phẫu, xương ức là một xương dẹt, dài tạo thành phần giữa của thành trước ngực. Nó bao gồm ba phần: cán xương ức, thân xương ức và mỏm ức.
Trên thân xương ức có các rãnh để tiếp xúc với xương sườn. Nhìn nghiêng, xương ức có hình chữ S, trong đó cán xương ức có chiều cong về phía sau lồng ngực tại nền cổ. Mặt trước của đường hầm sau xương ức (Nguồn: Susan Standring (2020) [15]) Mặt sau cán xương ức chính là điểm bám của 2 cơ: cơ ức giáp và cơ ức móng. Trong quá trình tạo đường hầm xương ức tại nền cổ, phẫu thuật viên sẽ phải cắt 2 cơ này để làm rộng đường hầm.
Các cấu trúc liên quan mặt sau của đường hầm sau xương ức (Nguồn: Susan Standring (2020) [15]) 8 Hai bên của mặt trước ĐSXU là khớp ức-sườn và bó mạch vú trong. Đây cũng chính là mốc giải phẫu bề chiều rộng khi tạo đường hầm. + Hai mặt bên: Là lá thành màng phổi phải và màng phổi trái. + Mặt sau: Phía dưới là màng ngoài tim.
Phía trên là các mạch máu lớn xuất phát từ quai động mạch chủ và tĩnh mạch chủ trên như: Thân động mạch cánh tay đầu, động mạch cảnh chung trái, tĩnh mạch cánh tay đầu, tĩnh mạch cảnh gốc phải. Ở phía trên, một cấu trúc quan trọng có thể gặp phải là tuyến ức. Cần cẩn thận trong quá trình phẫu tích tạo đường hầm từ nền cổ xuống dưới, tránh làm tổn thương các cấu trúc này. Một loại u khá thường gặp ở trung thất trước là u lympho.
U tế bàolymphobaogồm cả Hodgkin hay non- Hogdkin có thể là unguyên phát ở trung thất hay trong bệnh cảnh toàn thân [16]. + Mặt dưới: Là phần cơ hoành bám vào mặt sau xương ức. Lưu ý màng tim ở 2 bên. Khi tạo lỗ vào ĐSXU có thể rách màng tim.
Lối vào lồng ngực và các thành phần liên quan (Nguồn: Susan Standring (2020) [15]) + Mặt trên: Là lối vào lồng ngực (Thoracic Inlet). Lối vào lồng ngực bao gồm: cán xương ức, xương sườn 1 ở 2 bên và xương cột sống phía sau. Lối vào này có góc nghiêng khoảng 45 độ so với trục đứng thẳng của cơ thể. Về mặt lâm sàng, mốc giải phẫu để phân chia phần thực quản cổ và phần thực quản 9 ngực là màng phổi trung thất bao bọc 2 bên của thực quản ngực, trong khi phần cổ không có màng phổi bao bọc.
Trong lối vào lồng ngực là các thành phần quan trọng như: Khí quản, thực quản, bó mạch cảnh. Lối vào này có kích thước cố định, được xem như là nguyên nhân có thể dẫn tới rò miệng nối.