CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm về giải phẫu và chức năng của bàng quang 1. Giải phẫu Bàng quang là một tạng rỗng, nằm dưới phúc mạc, trong chậu hông bé, sau xương mu, trên cơ nâng hậu môn, trước các tạng sinh dục (túi tinh của nam, tử cung của nữ) và trực tràng. Khi bàng quang không có nước tiểu sẽ nằm trong tiểu khung sau xương mu và được bảo vệ bởi khung chậu và tầng đáy chậu nên khó vỡ.
Khi bàng quang chứa đầy nước tiểu sẽ nhô lên trên xương mu có khi lên tới rốn hình thành cầu BQ. Bình thường bàng quang ở người lớn chứa được từ 250 - 350 ml, khi bí đái BQ sẽ căng to, có thể chứa được một, hai lít nước tiểu và rất dễ vỡ khi có sang chấn. Bàng quang ở trẻ nhỏ nằm cao hơn ở trẻ lớn và người lớn, phần lớn bàng quang ở ngoài tiểu khung, vì vậy khi khám dễ sờ thấy. Khi có cầu BQ, bệnh nhân dễ bị chấn thương gây vỡ bàng quang trong phúc mạc.
Dung tích bàng quang trẻ em tăng dần theo tuổi [20]: Trẻ sơ sinh : 30 - 60 ml Trẻ bú mẹ : 60 - 100 ml Trẻ 6 tuổi : 100 - 250 ml Trẻ 10 tuổi : 150 - 350 ml Trẻ 15 tuổi : 200 - 400 ml 1. Cấu tạo Thành bàng quang từ ngoài vào trong gồm có 3 lớp: - Thanh mạc (lớp ngoài cùng) là các mô liên kết xơ. - Lớp cơ gồm 3 lớp: Lớp ngoài: thớ dọc, giữa: thớ vòng, trong là thớ rối. 4 - Lớp niêm mạc BQ được cấu tạo bởi lớp biểu mô chuyển tiếp, lớp dưới niêm mạc có các mô liên kết chun.
Niệu đạo ở cổ BQ hình tròn và cách giữa khớp mu khoảng 3 cm. Hai niệu quản chọc chếch qua thành sau BQ để đổ vào BQ. Hai lỗ niệu quản và lỗ niệu đạo tạo nên tam giác BQ, vùng tam giác tạo thành đáy BQ, cơ thắt ngoài niệu đạo thuộc loại cơ vân, trong khi cơ thắt trong niệu đạo chỉ là hỗn hợp của sợi cơ vòng của cổ bàng quang và các sợi cơ dọc trong của niệu đạo sau. Liên quan bàng quang với phúc mạc và các tạng Bàng quang rỗng nằm trong chậu hông bé sau xương mu.
Phía trước BQ được che chở bởi nhánh ngang của xương mu và chỗ tiếp hợp hai xương mu. Phúc mạc che ở mặt trên và trải xuống mặt sau BQ. Qua phúc mạc, BQ liên quan với ổ bụng và các tạng trong ổ bụng như ruột, gan, lách. Phía sau BQ liên quan với các tạng sinh dục.
Phần lớn BQ gồm mặt trước, hai mặt bên, đáy bàng quang không được phúc mạc che phủ. Đáy BQ ở nam áp vào thành trực tràng. gần cổ BQ có ống dẫn tinh và túi tinh. Đáy BQ ở nữ áp vào thành trước âm đạo.
Phúc mạc chỉ phủ mặt trên BQ, trải xuống phía sau BQ, đi ra sau và phủ mặt trước tử cung ở nữ, phủ trước trực tràng ở nam tạo nên túi cùng Douglas (túi cùng bàng quang - trực tràng ở nam, túi cùng bàng quang - tử cung ở nữ). Phúc mạc chỉ phủ một phần trên của hai mặt bên BQ. Phần lớn BQ không liên hệ trực tiếp với phúc mạc.Phúc mạc dính rất chặt với BQ ở phần trước của chỏm BQ, nên việc bóc phúc mạc ra khỏi ở phần này rất khó, khi vỡ BQ thì phúc mạc cũng rách theo. Thiết đồ đứng dọc chậu hông nữ [25] Hình 1.
Thiết đồ đứng dọc chậu hông nam [25] 6 Do cách cấu tạo các lớp cơ của BQ, liên quan của phúc mạc và BQ nên có hai hình thái vỡ BQ về giải phẫu: - Ở mặt trước BQ, hai bên và phía sau không được phủ phúc mạc. Phần này nếu vỡ là vỡ BQ ngoài phúc mạc. Qua khoang chậu hông dưới phúc mạc, BQ liên quan với khoang Retzius phía trước, trực tràng và các hố ngồi trực tràng ở phía sau. Đây là khoang lỏng lẻo, nên nếu vỡ BQ ở mặt trước và hai mặt bên thì nước tiểu sẽ lan vào các khoang này.
- Qua phúc mạc, BQ liên quan với các tạng trong ổ bụng. Nếu vỡ phần vòm BQ nước tiểu và máu sẽ vào ổ bụng qua lỗ thủng. Đây là vỡ bàng quang trong phúc mạc (VBQTPM). Chức năng của bàng quang: Bàng quang có 2 chức năng chủ yếu là: dãn nở ra để chứa nước tiểu từ thận chảy xuống và co bóp để tống nước tiểu ra ngoài qua niệu đạo.
Hoạt động nhịp nhàng này do tác động của thần kinh và cấu tạo đặc biệt của cơ BQ. Trong quá trình chứa nước tiểu, bàng quang có đặc điểm: - Không tái hấp thu nước tiểu. - Có cảm giác mót tiểu lúc BQ đầy (vai trò của vùng tam giác BQ và cổ BQ) đảm bảo việc đi tiểu có kiểm soát). Lưu ý khi tổn thương vùng tam giác BQ, cắt lọc phải tiết kiệm và tránh không khâu vào hai lỗ niệu quản.
- Lúc BQ co bóp, không có hiện tượng trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên niệu quản và thận mà chỉ có nước tiểu tống ra ngoài qua niệu đạo. Nguyênnhân, cơ chế, tổn thương giải phẫu bệnh của vỡ bàng quang do chấn thương 1. Nguyên nhân Vỡ bàng quang do chấn thương bao gồm: Chấn thương bàng quang và vết thương bàng quang. 7 Chấn thương bàng quang gồm: vỡ BQ do vỡ xương chậu khi BQ căng đầy cũng như BQ xẹp và vỡ BQ do chấn thương bụng kín khi BQ căng đầy và bị đánh bằng gậy vào bụng, đá đấm, ngã đè, ép do đổ tường, sập hầm lò, ngã giàn giáo, ngã cao đập bụng xuống nền cứng.
Vết thương bàng quang: gây ra do lê đâm, do đạn bắn, mảnh đạn, cọc sắt, dao nhọn, trâu bò húc. Về nguyên nhân vỡ xương chậu: khoảng 80% đến 85% bệnh nhân chấn thương vỡ BQ làdo vỡ xương chậu. Vỡ xương chậu do tai nạn giao thông (tai nạn ô tô, mô tô, xe máy, xe công nông, xe bò, xe đạp), hoặc do tai nạn lao động (ngã giàn giáo, đổ tường, sập hầm lò). Xương chậu gãy, ép vào thành BQ khi đang căng nước tiểu bằng một lực đột ngột gây vỡ BQ.
Mặt khác, các mảnh nhọn sắc của xương chậu gãy chọc thủng BQ khi đang căng, kể cả khi BQ ít hoặc không có nước tiểu. Khi vỡ xương chậu không vững, xương bị di lệch đột ngột và co kéo các dây chằng giữa xương mu và BQ, kéo giật đột ngột gây rách, vỡ BQ. Trong vỡ xương chậu gây vỡ BQsẽ gặp vỡ BQ ngoài phúc mạc do đầu nhọn của xương chậu gãy chọc thủng, hoặc sẽ là vỡ BQ trong phúc mạc do BQ bị ép khi đang căng đầy. Một nguyên nhân gây vỡ BQ hay gặp là chấn thương bụng kín vùng trên xương mu, khi BQ đang căng (sau khi uống rượu bia hoặc uống nhiều nước, chưa đi tiểu đã lâu) do bị đánh bằng gậy hoặc đá, đấm, hoặc do tường đổ, sập hầm lò đè vào vùng này.Những trường hợp ngã cao (mái nhà, giàn giáo, cầu thang, trên cây) đập vùng bụng dưới rốn vào vật cứng lúc BQ đang căng cũng có thể gây nên chấn thương vỡ BQTPM.
Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác cũng có thể dẫn đến vỡ BQ nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này: - Vỡ BQ trong sản khoa do bị ép giữa hai vật cứng là đầu thai nhi ở phía sau, xương mu ở phía trước nên có thể bị vỡ trong khi đẻ khó, đặc biệt là quên 8 không thông đái trước. - Vỡ BQ do thầy thuốc gây nên, đặc biệt là thầy thuốc phụ khoa khi phẫu thuật và khi làm thủ thuật. - Vỡ bàng quang tự nhiên: do viêm BQ mạn (thí dụ viêm do lao), do ung thư phát triển và xâm lấn, loét bàng quang nặng. - Vỡ bàng quang tự nhiên ở thai nhi do van niệu đạo sau.
- Do tắc nghẽn ở cổ bàng quang gây bí đái không được xử lý kịp thời (sỏi kẹt cổ bàng quang, chít hẹp niệu đạo). Cơ chế Đối với vỡ BQ trong phúc mạc: Khi căng nước tiểu, BQ vượt lên trên xương mu, có khi lên đến rốn. Khi đó, thành BQ mỏng, các bó cơ giãn xa nhau, phúc mạc vẫn dính vào BQ ở vùng vòm. Một lực tác động đột ngột trực tiếp vào vùng dưới rốn như đá đấm, đánh bằng gậy, ngã cao đập vùng bụng dưới rốn trên nền cứng, thì BQ sẽ bị vỡ tại điểm yếu nhất là phần sau trên của vùng vòm và phúc mạc cũng bị xé rách một đoạn tương tự gây vỡ BQ vào ổ bụng, máu và nước tiểu sẽ vào ổ bụng.C cho rằng khi BQ căng, một lực tác động đột ngột trực tiếp vào vùng dưới rốn (đá, đạp, đánh gậy, ép bởi đổ tường, sập hầm lò, bánh xe ô tô, ép bởi khung chậu gãy, ngã cao đập vùng dưới rốn vào nền cứng) sẽ gây ra vỡ BQ.
Vùng cổ BQ và các mặt bên được bảo vệ bởi xương chậu, chỉ có vùng vòm nhô lên trên xương mu là điểm yếu dễ vỡ, vỡ ở vùng vòm vào ổ bụng gọi là vỡ BQTPM. Đối với vỡ BQ ngoài phúc mạc thì chỗ vỡ thường nằm ở mặt trước (đặc biệt phần trên) và thường do đầu sắc nhọn của mảnh xương chậu vỡ di lệch đột ngột chọc thủng khi BQ ít nước tiểu hoặc không chứa nước tiểu, ở mặt sau và hai bên thì hiếm gặp. Xương chậu gãy không vững làm đứt các dây chằng BQ - mu, đồng thời làm giật rách BQ ở tại nơi bám của dây chằng đó. 9 Trong gãy xương chậu không vững di lệch làm các đầu sắc nhọn của các mảnh xương chậu vỡ đâm thủng BQ.
Nước tiểu và máu lan vào khoang Retzius và các khoang quanh trực tràng. Đây là vỡ BQ ngoài phúc mạc [3], [4],[5]. Đối với vỡ bàng quang hỗn hợp (VBQHH): khi BQ căng bị nghiền, đè, giằng xé rách rộng cả phần BQ có phúc mạc phủ lẫn phần BQ không có phúc mạc phủ.R cho rằng ngoài các cơ chế trên, khi khung chậu gãy thì lực ép đó cũng ép luôn BQ và bàng quang sẽ vỡ khi nó chứa căng [9]. Trường hợp bàng quang quá căng do bí đái (sỏi kẹt, đứt niệu đạo) xử lý không kịp thời, lúc này các lớp cơ BQ dãn, thớ cơ xa nhau, chỉ cần một lực rất nhỏ ép vào BQ thì BQ cũng vỡ do va chạm nhẹ.
Đến lúc BQ quá dãn mỏng thì một chấn thương rất nhỏ nó cũng có thể bị vỡ [3],[5]. Thương tổn ban đầu chỉ là đụng dập một phần thành BQ hoặc là lớp niêm mạc hoặc có xen kẽ lớp cơ, không có đi tiểu ra máu hoặc chỉ đi tiểu ra máu thoáng qua.