CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu học, mô học của thận 1. Vị trí và hình thể ngoài thận Mỗi người bình thường có 2 thận, hình hạt đậu, màu nâu đỏ, nằm ở phần sau ổ bụng, hai bên cột sống, ngay phía trước cơ thắt lưng, sau phúc mạc bao quanh bởi khối mô liên kết mỡ. Thận phải thường thấp hơn thận trái.
Ở người trưởng thành, mỗi thận kích thước 11 x 6 x 3cm nặng khoảng 150gr ở nam và 136gr ở nữ 5. Thận và các cấu trúc liên quan (Theo Frank H.Netter – Atlas giải phẫu người) 6 4 1. Hình thể trong của thận 1. Xoang thận Xoang thận có thể xác định một cách gián tiếp dựa trên hình ảnh chụp X- quang hay niệu đồ tĩnh mạch.
Rốn thận là chỗ lõm của phần giữa bờ trong thận có thể nhận ra ở thì chụp nhu mô của phim niệu đồ tĩnh mạch. Chiều cao xoang thận chiếm ½ chiều dài thận. Qua phim chụp thì nhu mô của niệu đồ tĩnh mạch có thể xác định được vị trí của bể thận so với xoang thận 7. Hình thể trong của thận (Theo Frank H.Netter – Atlas giải phẫu người) 6 1.
Nhu mô thận Nhu mô thận gồm 2 vùng tủy thận và vỏ thận. Vùng tủy thận được cấu tạo nên bởi các khối hình nón gọi là tháp thận Malpighi. Đỉnh tháp hướng về xoang thận tạo thành nhú thận. Hệ thống đài bể thận Bể thận được hình thành từ tập hợp của hai đài lớn trên và dưới nằm cùng bình diện với bể thận.
Đài lớn trên dài và mảnh, đi chéo xuống dưới và 5 vào trong theo một góc 450 và phần giữa đài này thu hẹp lại. Đài lớn dưới gần như nằm ngang, rộng hơn và không có chỗ hẹp. Đôi khi xuất hiện thêm đài lớn trung gian đổ vào góc hợp bởi hai đài lớn trên và dưới. Các dạng cấu trúc đại thể của hệ thống thu góp nước tiểu vô cùng đa dạng.
Hai thận với hai hệ thống thu góp nước tiểu là thể bình thường hay gặp nhất, tuy nhiên cũng rất khác biệt giữa bên này với bên kia. Không những số lượng và vị trí các đài thận nhỏ khác nhau, mà ngay cả cổ đài cũng có thể đa dạng từ hoàn toàn không tồn tại cho tới kéo dài. Hệ thống đài bể thận (Theo Anderson J.và cộng sự - 2012) 7 Sự kết hợp của hai đài lớn quy định hình thái bể thận là loại phân nhánh hay loại phình to. Khi đài lớn trên đổ cao hoặc xuất hiện thêm đài giữa cũng đổ cao thì đài lớn dưới sẽ tạo nên loại bể thận phình to gọi là loại bán bể thận (l’hemi - basinet).
Các đài lớn nhận từ 7 - 13 đài nhỏ đổ vào. Các đài nhỏ ở vùng giữa thận được sắp xếp thành 2 hàng đứng dọc theo mặt phẳng trước và sau, ngăn cách nhau bởi một đường viền cong lồi dọc theo bề ngoài thận. Các dạng đài thận và bể thận phát hiện trên phim UIV (Theo Anderson J. và cộng sự - 2012) 7 Các đài nhỏ hàng trước làm thành một góc 20 0 và các đài nhỏ hàng sau làm thành một góc 70 - 75 0 với mặt phẳng đứng ngang qua thận.
Còn các đài nhỏ ở hai cực trên và dưới thận nằm gần mặt phẳng đứng ngang cách đường cong lồi của thận 2 cm đối với đài lớn cực trên và 2,5 cm đối với đài nhỏ lớn cực dưới. Giải phẫu thận ứng dụng trong nội soi niệu quản thận ngược dòng bằng ống mềm Ngày nay, việc điều trị sỏi đài dưới bằng tán sỏi ngoài cơ thể cho tỷ lệ thành công thấp đã được báo cáo trong nhiều nghiên cứu. Các tác giả cũng cho rằng một vài đặc điểm đặc biệt của giải phẫu cổ đài dưới và bể thận đóng góp một phần quan trọng trong tỷ lệ sạch sỏi 8. Sampaio và cộng sự (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của giải phẫu góc đài dưới bể thận trên 74 trường hợp 7 sỏi đài dưới được tán sỏi ngoài cơ thể.
Sau theo dõi 9 tháng, có 75% trường hợp với góc tạo bởi cổ đài có sỏi với trục bể thận lớn hơn 90 độ sạch sỏi sau tán trong vòng 3 tháng, góc này nhỏ hơn 90 độ thì tỷ lệ sạch sỏi chỉ đạt 23%. Do vậy, việc xác định góc giữa bể thận và cổ đài thận có sỏi rất quan trọng, vì góc sẽ khác nhau trong cùng một thận, tùy thuộc vào vị trí sỏi. Góc này càng nhỏ thì việc đào thải sỏi sau tán sỏi ngoài cơ thể càng khó khăn 9. Để đo góc bể thận đài dưới, tác giả Elbahnasy và cộng sự (1998) đề nghị vẽ 2 đường thẳng.
Đường thẳng đầu tiên nối giữa hai điểm: điểm giữa của bể thận trên đường thẳng dọc bờ trong thận và điểm giữa của niệu quản đoạn trên ngang mức cực dưới thận (trục niệu quản bể thận). Đường thẳng thứ hai là trục giữa cổ đài thận dưới, được tạo nên bởi hai điểm giữa dọc cổ đài thận dưới (trục cổ đài dưới) 10. Xác định đặc điểm giải phẫu đài dưới thận A: Trục bể thận niệu quản và chiều rộng cổ đài dưới B: Chiều dài cổ đài dưới C: Góc bể thận đài dưới (Theo Elbahnasy A. và cộng sự - 1998) 10 8 Ngoài ra các tác giả còn quan tâm đến các đặc điểm khác của cổ đài thận dưới ảnh hưởng đến tỷ lệ sạch sỏi.
Bao gồm: chiều dài cổ đài dưới (IL: infundibular length), chiều rộng cổ đài dưới (IW: infundibular width) và chiều cao cổ đài dưới (PCH: pelvicaliceal high) 10,11. Chiều dài cổ đài thận được tính từ điểm xa nhất của đài thận chứa sỏi đến điểm giữa tiếp tuyến với bờ dưới bể thận. Chiều rộng là chỗ hẹp nhất của cổ đài thận (hình 1. Tuy nhiên tác giả Sampaio đề nghị đường vẽ thứ hai đi qua cổ đài thận có chứa sỏi.
Vì cùng cổ đài dưới, sỏi nằm trong đài thận bé không nằm trên trục đài dưới thì góc bể thận đài dưới thay đổi rất nhiều. Điều này ảnh hưởng đến quá trình đào thải sỏi sau tán 9. Ngoài cách đo trên phim niệu đồ tĩnh mạch, tác giả còn đề nghị đo góc này ngay trên màn ảnh của chụp huỳnh quang trong lúc bơm thuốc cản quang qua ống thông niệu quản. Góc bể thận đài dưới thay đổi theo vị trí sỏi (Theo Sampaio F.và cộng sự - 1997) 9 Trong nghiên cứu của tác giả Elbahnasy (1998), ông chia làm 3 nhóm điều trị sỏi đài dưới, tán sỏi ngoài cơ thể (TSNCT) (nhóm 1), tán sỏi thận qua da (TSQD) (nhóm 2) và nội soi niệu quản thận ngược dòng bằng ống mềm (NSOM) (nhóm 3).
Ông kết luận rằng, bằng cách xem xét kích thước, 9 thành phần sỏi và đặc điểm giải phẫu của cổ đài dưới (LIP, IL, IW), có thể lựa chọn một trong ba cách trên, đem lại hiệu quả cao nhất cho bệnh nhân. Bệnh nhân có yếu tố giải phẫu thuận lợi (LIP > 70 °, IL ≤ 3 cm và IW > 5 mm) nên chọn tán sỏi ngoài cơ thể cho sỏi đài dưới. Ngược lại, trong số 42% bệnh nhân của tác giả với sỏi đài dưới ≤ 17 mm và yếu tố giải phẫu học không thuận lợi (tức là, LIP < 70 °, IL > 3 cm và IW ≤ 5 mm hoặc LIP < 70 ° và IL > 3 cm), lấy sỏi thận qua da hay nội soi niệu quản thận ngược dòng có thể là chọn lựa đầu tiên hợp lý cho bệnh nhân. Các yếu tố LIP, IL và IW xuất hiện đơn độc hay kết hợp, tác động không có ý nghĩa thống kê trên kết quả của lấy sỏi thận qua da và nội soi niệu quản thận ngược dòng 10.
Tác giả Geavlete (2008), cũng cho thấy ảnh hưởng của giải phẫu hệ thống đài bể thận đến tỷ lệ thành công của kỹ thuật này qua nghiên cứu trên 47 bệnh nhân sỏi đài thận. Tỷ lệ thành công là 87,5% (7/8 bệnh nhân) ở những bệnh nhân với góc đài dưới bể thận rộng hơn 90 0, 74,3% (26/35 bệnh nhân) khi góc này dao động trong khoảng 300 và 900, và 0% (0/4 bệnh nhân) ở những bệnh nhân với góc nhỏ hơn 30 0. Ở những bệnh nhân với góc này giữa 300 và 900, tỷ lệ thành công 88,2% khi chiều dài của cổ đài dưới ngắn hơn 3 cm và chỉ có 61,1% khi cổ đài dưới trên 3 cm 12. Góc bể thận đài dưới 240, ống soi mềm không thể tiếp cận đài dưới (Theo Geavlete P.
- 2008) 12 10 Trong một nghiên cứu tương tự trước đó được thực hiện bởi Grasso và Ficazzola (1999) với 90 bệnh nhân bị sỏi đài dưới, tỷ lệ thành công là 91%. Tác giả cho rằng, nếu bệnh nhân có chiều dài cổ đài dưới trên 3 cm thì tiên lượng không tiếp cận được sỏi lên đến 38%. Góc đài dưới bể thận và hệ thống đài bể thận giãn là hai điều kiện khó khăn ảnh hưởng lên kết quả thành công 13. Tóm lại, sỏi tiết niệu là một bệnh lý có nhiều yếu tố tác động trong đó có yếu tố giải phẫu hệ tiết niệu.
Tìm hiểu các đặc điểm giải phẫu hệ tiết niệu không chỉ giúp hiểu biết thêm nguyên nhân hình thành sỏi đồng thời có thể cung cấp thêm thông tin để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp 14. Ống soi mềm niệu quản Năm 1964, Marshall 15 báo cáo trường hợp đầu tiên sử dụng nội soi ống mềm (NSOM). Cuối những năm 1980, việc sử dụng ống soi mềm (OSM) rộng rãi hơn nhờ vào sự ra đời của các ống soi có kênh tưới rửa và có thể điều khiển (gập, duỗi) ở phần đầu 16,17. Cùng với sự phát triển của công nghệ, OSM được cải tiến liên tục và NSOM được sử dụng ngày càng nhiều trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tiết niệu.
Năm 2001, các hãng sản xuất đã giới thiệu OSM có thể gập duỗi 2 chiều lên đến 270°, cho phép tiếp cận toàn bộ hệ thống đài bể thận 18. Ống soi kỹ thuật số được sản xuất vào năm 2006. Ống soi mềm sử dụng một lần (LithoVue™) cũng đã được một số tác giả báo cáo 19,20. Gần đây, một số nhà nghiên cứu đã mô tả hệ thống NSOM có robot hỗ trợ 21,22.
Ống soi mềm có khẩu kính từ 6.5 - 9 Fr ở đầu ống và có khả năng gập cong được. Đây là ưu điểm rõ nét cho phép khảo sát toàn bộ đài bể thận gồm cả cực dưới thận. Ống soi tiêu chuẩn có 1 chiều gập từ 120 - 170 độ theo 1 hướng và gập 170 - 270 độ theo 1 chiều khác 23-25. Tuy nhiên, độ gập góc của OSM còn liên quan với các dụng cụ đưa vào máy như sợi quang laser đưa vào kênh làm việc sẽ gây cản trở sự gập cong ống soi và gây khó khăn khi đẩy sợi laser đi bên trong máy 26.