Đánh giá tính tương đồng chức năng của máy đông máu IL ACL và STA Compact Max

Luận văn phân tích Đánh giá tính tương đồng của máy đông máu IL ACL và STA Compact Max trong luận văn, vận dụng lý thuyết vững chắc, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Bách Khoa - ĐHQG - HCM

Chuyên ngành

Vật Lý Kỹ Thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

100
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về máy đông máu

Máy đông máu là thiết bị y tế quan trọng trong việc thực hiện các xét nghiệm đông máu, giúp xác định tình trạng đông máu của bệnh nhân. Hai loại máy đông máu được nghiên cứu trong luận văn này là IL ACLSTA Compact Max. Cả hai thiết bị đều có nguyên lý hoạt động khác nhau, với IL ACL sử dụng phương pháp quang học và STA Compact Max sử dụng phương pháp cơ học. Việc hiểu rõ về nguyên lý hoạt động và đặc tính kỹ thuật của từng thiết bị là cần thiết để đánh giá tính tương đồng của chúng trong việc thực hiện các xét nghiệm đông máu.

1.1. Nguyên lý hoạt động của máy IL ACL

Máy IL ACL hoạt động dựa trên nguyên lý quang học, nơi mà sự thay đổi độ hấp thụ ánh sáng được sử dụng để đo lường thời gian đông máu. Thiết bị này cho phép phân tích nhanh chóng và chính xác các thông số như thời gian prothrombin (PT) và thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần (APTT). Việc sử dụng công nghệ quang học giúp tăng cường độ chính xác và giảm thiểu sai sót trong quá trình xét nghiệm.

1.2. Nguyên lý hoạt động của máy STA Compact Max

Ngược lại, máy STA Compact Max sử dụng phương pháp cơ học để đo lường các thông số đông máu. Thiết bị này hoạt động bằng cách theo dõi sự thay đổi trong độ nhớt của mẫu máu khi nó đông lại. Phương pháp này cũng mang lại độ chính xác cao và thường được sử dụng trong các phòng xét nghiệm hiện đại. Sự khác biệt trong nguyên lý hoạt động giữa hai thiết bị là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tính tương đồng của chúng.

II. Phân tích kết quả và đánh giá độ tương đồng

Nghiên cứu đã thực hiện trên 225 mẫu bệnh nhân với mục tiêu so sánh độ tương đồng giữa hai thiết bị IL ACLSTA Compact Max. Kết quả cho thấy rằng cả hai thiết bị đều cho ra kết quả xét nghiệm PT và APTT có độ tương đồng cao. Cụ thể, hệ số tương quan cho xét nghiệm PT đạt trên 0.9, cho thấy sự nhất quán trong các kết quả. Đối với APTT, 100% dữ liệu đều nằm trong giới hạn cho phép, chứng tỏ rằng hai thiết bị này có thể được sử dụng thay thế cho nhau trong thực hành lâm sàng.

2.1. Kết quả xét nghiệm PT

Kết quả xét nghiệm PT từ hai thiết bị cho thấy ISI đạt ≥ 1.2 và ISI ~ 1.0, cho thấy sự tương đồng tốt trong việc đo lường thời gian đông máu. Việc này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân.

2.2. Kết quả xét nghiệm APTT

Đối với xét nghiệm APTT, kết quả cho thấy 100% dữ liệu đều nằm trong giới hạn cho phép, cho thấy rằng cả hai thiết bị đều có khả năng đo lường chính xác thời gian đông máu. Điều này khẳng định rằng việc lựa chọn giữa IL ACLSTA Compact Max có thể dựa trên sự thuận tiện và khả năng sẵn có mà không lo ngại về độ chính xác của kết quả.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Đánh giá tính tương đồng giữa hai thiết bị đông máu không chỉ có ý nghĩa trong việc cải thiện chất lượng xét nghiệm mà còn giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho bệnh viện. Việc sử dụng các thiết bị tự động như IL ACLSTA Compact Max giúp giảm thiểu sai sót trong xét nghiệm, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các bệnh viện đang phải đối mặt với tình trạng quá tải và áp lực cao từ số lượng bệnh nhân ngày càng tăng.

3.1. Ứng dụng trong y học

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong các phòng xét nghiệm để tối ưu hóa quy trình xét nghiệm đông máu. Việc hiểu rõ về tính tương đồng của các thiết bị giúp các bác sĩ lâm sàng có thể đưa ra quyết định chính xác hơn trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh nhân, từ đó cải thiện kết quả điều trị.

3.2. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu này mở ra hướng đi cho các nghiên cứu tiếp theo về độ chính xác của các thiết bị xét nghiệm khác nhau. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá tính tương đồng giữa các thiết bị khác trong lĩnh vực xét nghiệm đông máu, nhằm đảm bảo rằng các phương pháp xét nghiệm luôn đạt tiêu chuẩn chất lượng cao nhất.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Máy phân tích đông máu tự động được sử dụng để thực hiện các xét nghiệm đông máu với công suất và độ chính xác cao hơn rất nhiều so với các phương pháp thủ công. Ngoài ra trên các hệ thống đông máu tự động đều có khả năng gắn cờ cảnh báo đối với các mẫu bệnh nhân có rối loạn đông máu bất thường, các rối loạn đông máu này có thể gặp trên thực tế lâm sàng của nhiều chuyên khoa và là một trong những nguyên nhân gây tử vong cho bệnh nhân. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, hàng loạt các hệ thống phân tích đông máu tự động được nghiên cứu phát triển và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám và điều trị của các chuyên gia y tế. Bên cạnh khai thác tiền sử, thăm khám phát hiện triệu chứng lâm sàng, việc tiến hành các xét nghiệm đông cầm máu một cách hợp lý đóng vai trò quan trọng trong phát hiện, chẩn đoán và xử trí các rối loạn đông cầm máu.

Chẩn đoán chính xác các rối loạn đông cầm máu và đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh là điều cần thiết cho chiến lược điều trị phù hợp của bệnh nhân. Đây thực sự là một vấn đề đáng quan tâm, nhất là đối với các đối tượng bênh nhân đang được theo dõi điều trị hàng ngày. Tuy nhiên, sự khác biệt về kết quả xét nghiệm có thể xuất hiện giữa các hệ thống máy phân tích đông máu tự động khác nhau tạo ra khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả của phác đồ điều trị. Bên cạnh đó, đảm bảo chất lượng xét nghiệm là một lĩnh vực đã và đang là vấn đề nổi bật trong công tác quản lý phòng xét nghiệm.

Theo hướng dẫn của bộ tiêu chí đánh giá liên phòng xét nghiệm, hướng dẫn của ISO 15189 thì việc thực hiện thẩm định thiết bị xét nghiệm là một yêu cầu bắt buộc, trong đó tiêu chí so sánh sự tương đồng giữa các hệ thống xét nghiệm trong cùng phòng là một tiêu chí không thể thiếu. Cùng với đó đến năm 2025 tiến hành liên thông kết quả xét nghiệm của các bệnh viện để tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh, giảm tải bệnh viện, tiết kiệm thời gian và nhân lực bệnh viện, vừa tạo thuận tiện cho bệnh nhân vừa đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh. Do đó, việc đánh giá độ tương đồng giữa các hệ thống máy phân tích đông máu -2- là hết sức quan trọng để đảm bảo kết quả xét nghiệm bệnh nhân khi chạy trên các hệ thống xét nghiệm. Xuất phát từ những tình hình trên, đồng thời để so sánh độ tương đồng giữa các kết quả xét nghiệm đông máu được đo bằng phương pháp cơ học (hãng Stago) và phương pháp quang học (hãng Instrumentation Laboratory), chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG ĐỒNG CHỨC NĂNG GIỮA HAI THIẾT BỊ ĐÔNG MÁU TỰ ĐỘNG CỦA HÃNG INSTRUMENTATION LABORATORY VÀ HÃNG STAGO”.

Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá độ tương đồng về chức năng giữa hai thiết bị đông máu của hãng Instrumentation Laboratory và hãng Stago thông qua ước lượng độ lệch (bias, nếu có) giữa hai dòng hóa chất PT và APTT. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan về các phương pháp phân tích xét nghiệm đông máu. - Tìm hiểu về nguyên lý và đặc tính kỹ thuật của thiết bị Sta Compact Max - Hãng Stago (nước sản xuất: Pháp) và ACL TOP - Hãng Instrumentation Laboratory (nước sản xuất: Mỹ) - Thực hiện các thí nghiệm so sánh, xử lý và phân tích kết quả. - Bàn luận và đánh giá độ tương đồng chức năng giữa hai thiết bị.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan đông máu 1. Cơ chế đông máu cơ bản 1. Cầm máu Cầm máu là trạng thái tự bảo vệ của bản thân và là quá trình sinh lý, sinh hóa tổng hợp nhằm chấm dứt hoặc ngăn cản sự mất máu của cơ thể khi mạch máu bị tổn thương hoặc bị đứt.

Quá trình cầm máu được diễn ra một cách tức thời và có hai bước quan trọng. Co Mạch Ngay sau khi mạch bị tổn thương, mạch máu co lại do tính đàn hồi của thành mạch. Những kích thích gây đau từ nơi tổn thương, những chất trung gian hoá học được giải phóng khi đau gây phản xạ co cơ trơn thành mạch. Đồng thời lúc này tại nơi tổn thương, tiểu cầu bị vỡ ra, giải phóng serotonin gây co mạch tại chỗ.

Sự hình thành nút tiểu cầu Tại nơi tổn thương, tế bào nội mạc hoặc thành mạch tổn thương để lộ sợi collagen, tiểu cầu bám vào những nơi này và bị hoạt hoá. Khi tiểu cầu bị hoạt hoá, các protein trong nó co rút mạnh và giải phóng ra các yếu tố 4 hoạt hoá các tiểu cầu bên cạnh, làm cho chúng dính vào nhau tạo nên nút tiểu cầu bịt kín chỗ tổn thương (nếu là các tổn thương nhỏ). Hàng ngày cơ thể ta phải chịu hàng trăm vết rách rất nhỏ nơi mao mạch do sang chấn. Nhờ có chức năng này mà cơ thể tránh được sự chảy máu mao mạch.

Sự hình thành cục máu đông Tiểu cầu giải phóng ra các yếu tố gây co mạch và gây đông máu, tạo ra cục máu đông bổ sung cho nút tiểu cầu để bịt kín chỗ tổn thương (nếu là các tổn thương lớn hơn). Đông máu phát triển nhanh trong vòng 1-2 phút. Những chất hoạt hoá gây đông HVTH: TRẦN TUẤN DŨNG GVHD: PGS.TS HUỲNH QUANG LINH MSHV: 1670732 -4- máu được giải phóng do tổ chức và mạch máu bị tổn thương, những chất do tiểu cầu giải phóng và những chất gây đông máu của huyết tương được hoạt hoá, đã phát động một quá trình đông máu. Nếu vết thương không quá nặng, sau 3-6 phút cục máu đông hình thành bịt kín vết thương.

Sau 20 phút đến 1 giờ, cục máu đông co lại làm cho cục máu vững chắc hơn. Sau khi cục máu đông hình thành, vài giờ sau các nguyên bào sợi xâm nhập, biến cục máu đông thành mô xơ trong 1-2 tuần, nếu là cục máu đông nhỏ và vết thương nhỏ. Nếu là vết thương lớn, tổn thương rộng, máu mất nhiều, cơ thể không tự bảo vệ được, cần phải có sự can thiệp kịp thời. Đông máu Đông máu là quá trình chuyển máy từ thể lỏng sang thể đặc, mà thực chất là chuyển fibrinogen ở dạng hòa tan trong huyết tương thành fibrin ở dạng không hòa tan dưới xúc tác của thrombin.

Cơ chế đông máu [1]: Diễn ra theo một cơ chế phức tạp. đây là quá trình hoạt hóa và hoạt động của các enzyme với mục đích là tạo ra fibrin. Thông thường chia quá trình đông máu ra làm ba giai đoạn. Giai đoạn hình thành phức hợp Prothrombinase [1]: Khởi động cho cơ chế đông máu là sự hình thành phức hợp prothrombinase.

Đây là một cơ chế rất phức tạp (có lẽ là phức tạp nhất) và kéo dài nhất của quá trình đông máu. Quá trình được xảy ra khi có chấn thương thành mạch và mô, khi có chấn thương máu, khi có sự tiếp xúc của máu với tế bào nội mạc tổn thương hoặc với sợi collagen của mạch máu, với các mô khác ngoài nội mạc hoặc với bất kỳ vật lạ nào. Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo hai cơ chế ngoại sinh và nội sinh. Cơ chế ngoại sinh xuất hiện nếu có chấn thương thành mạch hoặc các mô kế cận.

Cơ chế nội sinh xuất hiện nếu có chấn thương máu hoặc máu lấy ra ngoài cơ thể từ lòng mạch. HVTH: TRẦN TUẤN DŨNG GVHD: PGS.TS HUỲNH QUANG LINH MSHV: 1670732 -5- Trong cả hai cơ chế nội sinh và ngoại sinh có một loạt protein huyết tương (đặc biệt là a2-globulin) đóng vai trò rất quan trọng, đó là các yếu tố gây đông máu của huyết tương. Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế ngoại sinh [1]: Mô bị tổn thương giải phóng yếu tố III, phospholipid từ màng tế bào mô. Yếu tố X được hoạt hoá (Xa) nhờ yếu tố III, yếu tố VIIa (yếu tố VII được hoạt hoá nhờ yếu tố III), ion Ca++ và phospholipid.

Sự hình thành phức hợp prothrombinase từ yếu tố Xa có sự tham gia của yếu tố Va (yếu tố V được hoạt hoá nhờ thrombin), ion Ca++ và phospholipid. Yếu tố Va làm tăng hoạt tính của yếu tố Xa. Phospholipid đóng vai trò là chất nền còn ion Ca++ làm cầu nối giữa các yếu tố. Thrombin trong trường hợp này có tác dụng điều hoà.

Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế nội sinh [1]: Máu bị chấn thương, máu tiếp xúc với collagen hoặc bề mặt vật lạ thì làm hoạt hoá yếu tố XII và giải phóng phospholipid tiểu cầu. Yếu tố XIIa chuyển yếu tố XI thành yếu tố XIa (có sự tham gia của yếu tố Fletcher và Fitzgerald). Yếu tố XIa chuyển yếu IX thành yếu tố IXa (có sự tham gia của yếu tố tiểu cầu). Yếu tố X được hoạt hoá có sự tham gia của yếu tố VIIIa (yếu tố VIII được hoạt nhờ thrombin), yếu tố IXa, ion Ca++ và phospholipid.

Sự hình thành phức hợp prothrombinase từ yếu tố Xa có sự tham gia của phospholipid, yếu tố Va (yếu tố V được hoạt hoá nhờ thrombin) và ion Ca++. Sự hình thành phức hợp prothrombinase theo cơ chế nội sinh chậm hơn rất nhiều (1-6 phút) so với cơ chế ngoại sinh (15 giây). Prothrombinase được hình thành từ cơ chế nội sinh hoặc ngoại sinh hoặc đồng thời cả hai cơ chế nội sinh và ngoại sinh. Điều này chứng tỏ hoạt tính của prothrombinase là phụ thuộc vào sự hoạt hoá của các yếu tố tham gia vào quá trình này.

Giai đoạn hình thành thrombin [1]: HVTH: TRẦN TUẤN DŨNG GVHD: PGS.TS HUỲNH QUANG LINH MSHV: 1670732 -6- Prothrombin là a2-globulin, do gan sản xuất, có trọng lượng phân tử 68.700, nồng độ trong máu bình thường là 15mg/100ml máu. Khi phức hợp prothrombinase hình thành nó sẽ chuyển prothrombin thành thrombin. Giai đoạn này cũng cần sự có mặt của ion Ca++. Sự hình thành thrombin từ prothrombin là rất nhanh, được tính bằng vài giây.

Giai đoạn hình thành fibrin [1]: Fibrinogen là một protein do gan sản xuất, trọng lượng phân tử 340.000, nồng độ trong máu bình thường là 100-700mg/100ml máu. Bình thường fibrinogen rất khó vào dịch kẽ. Khi thành mạch tăng tính thấm (mô bị viêm) thì fibrinogen vào dịch kẽ và bị đông lại do các yếu tố gây đông máu cùng vào dịch kẽ. Thrombin sau khi được hình thành đã chuyển fibrinogen thành fibrin đơn phân.

Các fibrin đơn phân tự trùng hợp thành fibrin ở dạng sợi. Một mạng lưới fibrin đã hình thành và được ổn định nhờ yếu tố XIII. Giai đoạn này cũng có sự tham gia của ion Ca++. Các tế bào máu được giữ lại trên lưới fibrin và tạo nên cục máu đông.

Chính mạng lưới này dính vào vị trí tổn thương của thành mạch để ngăn cản sự chảy máu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá tính tương đồng chức năng của máy đông máu IL ACL và STA Compact Max" của tác giả Trần Tuấn Dũng, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Huỳnh Quang Linh, tập trung vào việc so sánh và đánh giá các chức năng của hai loại máy đông máu hiện đại. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu suất của từng thiết bị mà còn giúp các chuyên gia y tế có được thông tin hữu ích trong việc lựa chọn thiết bị phù hợp cho phòng thí nghiệm của họ. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả qua việc cung cấp những kiến thức cơ bản về công nghệ máy đông máu, từ đó nâng cao chất lượng xét nghiệm và chẩn đoán trong y học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực vật lý kỹ thuật, hãy tham khảo thêm bài viết Phát triển phần mềm nhận dạng tín hiệu não bộ trong giao tiếp đánh vần, nơi nghiên cứu về công nghệ nhận diện tín hiệu não, hoặc bài viết Nghiên cứu tương tác giữa phân tử curcumin và vật liệu fullerene, giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng của vật lý trong các lĩnh vực khác nhau. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về sự phát triển công nghệ trong y học và vật lý kỹ thuật.