CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược giải phẫu ứng dụng mũi xoang 1. Giải phẫu hốc mũi:[11], [14] Hốc mũi là hai ống dẹt nằm song song với nhau ở giữa mặt. Hai ống ngăn cách với nhau bởi vách ngăn.
Hốc mũi thông với bên ngoài qua tiền đình mũi và lỗ mũi trước, thông với vòm họng qua cửa mũi sau. Hốc mũi gồm có 4 thành: thành trên (trần hốc mũi), thành dưới (sàn hốc mũi), thành trong (vách ngăn mũi), thành ngoài (vách mũi xoang). Thành trên (trần hốc mũi): là một rãnh hẹp, cong xuống dưới chia làm 3 đoạn từ trước ra sau, đoạn trán mũi: tạo bởi xương chính mũi và gai mũi xương trán, đoạn sàng tạo bởi mảnh thủng của xương sàng và đoạn bướm tạo bởi phần trước của thân xương bướm. Trong đó liên quan trực tiếp giữa hốc mũi và hệ thống xoang là đoạn giữa, đoạn này gồm mảnh thủng của xương sàng phía trong và phần ngang xương trán ở phía ngoài tạo thành trần các xoang sàng.
Thành dưới (sàn hốc mũi): ở phía trước được tạo thành do các mỏm xương hàm trên, còn phần sau do mảnh ngang xương khẩu cái. Thành trong (vách ngăn mũi): phía sau là phần xương gồm mảnh thẳng xương sàng và xương lá mía, phía trước là phần sụn gồm sụn vách ngăn mũi và trụ trong sụn cánh mũi lớn, phía trước dưới da và phần màng. Giữa xương lá mía và sụn tứ giác có một đường khớp chạy từ trước ra sau và từ dưới lên trên. Đường khớp này hay bị biến dạng và gây ra vẹo, mào, gai vách ngăn mũi.
Thành ngoài (vách mũi xoang): có cấu tạo phức tạp hơn bao gồm mặt trong của xương hàm trên, mảnh đứng xương khẩu cái, cánh trong của chân bướm, phía trên có xương lệ và khối xương sàng. Vách mũi xoang không bằng phẳng do sự hiện diện của ba cuốn mũi nằm song song từ trước ra sau: cuốn mũi trên, cuốn mũi giữa, cuốn mũi dưới. Mỗi cuốn mũi được cấu tạo bởi một xương cuốn mũi và lớp niêm mạc dày. Xương cuốn thông thường đi từ dưới lên trên bao gồm: xương cuốn dưới, xương cuốn giữa và xương cuốn trên.
Đôi khi có xương cuốn thứ tư gọi là cuốn Santorini nằm ở trên xương cuốn trên. Khe mũi là những khe rãnh được tạo bởi các cuốn mũi với vách mũi xoang, tên gọi tương ứng với cuốn mũi bao gồm khe mũi dưới, khe mũi giữa và khe mũi trên. Khe mũi dưới: là khoảng hẹp nằm giữa cuốn mũi dưới và vách mũi xoang; có giới hạn dưới là sàn hốc mũi; phía trước - trên có lỗ đổ của ống lệ mũi, nằm phía sau lỗ mũi trước 3cm; phía sau trên là nơi tiếp nối của mỏm hàm xương cuốn dưới và xương khẩu cái. Khe mũi giữa: là khoảng hẹp giữa cuốn mũi giữa và vách mũi xoang.
Khe mũi giữa có các cấu trúc giải phẫu quan trọng đó là mỏm móc, thóp mũi, khe bán nguyệt, phễu sàng, bóng sàng, phức hợp lỗ thông xoang. Mỏm móc: Mỏm móc là một mảnh xương mỏng, hình liềm, có 2 phần là phần đứng và phần ngang; phía trước bám vào thành bên mũi; phía trong tự do, có hình lõm, song song với mặt trước bóng sàng; phía dưới bám vào cuốn mũi dưới và xương khẩu cái; phía trên bám vào các cấu trúc sau: type A (bám vào xương giấy: 52%, thành sau trong Agger nasi: 18,5%, xương giấy và chỗ tiếp nối cuốn giữa - mảnh sàng: 17,5%, chỗ tiếp nối cuốn giữa -mảnh sàng : 7%); type B1 ( bám vào sàn sọ: 3,6%); type B2 (bám vào cuốn giữa:1,4%). Mỏm móc Type A Mỏm móc Type B1 Mỏm móc Type B2 Hình 1.1: Các vị trí bám của mỏm móc [8] Mỏm móc bảo vệ lỗ thông tự nhiên của xoang hàm khỏi tác động của luồng không khí hít vào bằng cách hình thành một hành lang giống như một khe hẹp gọi là phễu sàng. Một số ít trường hợp không có mỏm móc hoặc mỏm móc không phát triển.
Chân bám phía trên của mỏm móc quyết định hình thái của đường dẫn lưu xoang trán qua ngách trán hoặc đổ trực tiếp vào khe mũi giữa hoặc vào phễu sàng, ngoài mỏm móc. Thóp mũi (Fontanelle): Thóp mũi là vùng trên vách mũi xoang, chỉ có niêm mạc, không có xương. Thóp mũi nằm trên thành trong của xoang hàm bao gồm thóp trước (trước dưới mỏm móc) và thóp sau (sau trên mỏm móc). Các lỗ xoang hàm phụ nếu có thường nằm ở các thóp, sẽ tạo hiện tượng dẫn lưu vòng.2: Lỗ thông xoang hàm phụ Khe bán nguyệt Khe bán nguyệt dưới là một khe lõm giới hạn giữa bờ tự do của mỏm móc đến mặt trước bóng sàng.
Khe bán nguyệt dưới là đường dẫn vào phễu sàng và lỗ thông xoang hàm. Khe bán nguyệt trên là khe hẹp nằm giữa mặt ngoài của cuốn mũi giữa và mặt trên của bóng sàng. Khe bán nguyệt trên dẫn đến vùng ngách trán ở phía trên. Phễu sàng Phễu sàng là khoang nằm giữa khe bán nguyệt dưới và phần trên thành xoang hàm, phía trong là mỏm móc và phía ngoài là xương giấy, phía trên có dạng chữ V ngược với đầu phễu sàng bít kín, phía dưới tiếp xúc trực tiếp với mặt trước của bóng sàng và đổ trực tiếp vào khe bán nguyệt dưới.
Bóng sàng Theo Kennedy, bóng sàng là một trong những tế bào sàng trước lớn nhất và thường hiện diện trong mê đạo sàng. Nó nằm ở khe mũi giữa ngay sau mỏm móc và trước mảnh nền cuốn mũi giữa. Bóng sàng dựa trên xương giấy và lồi vào khe mũi giữa, phía trên bóng sàng có thể phát triển đến sàn sọ và tạo nên giới hạn sau của ngách trán. Khoảng 8% bệnh nhân không có bóng sàng.
* Phức hợp lỗ thông xoang Phức hợp lỗ thông xoang là một vùng hẹp nằm trong khe mũi giữa gồm cuốn mũi giữa nằm bên trong, các khe và ngách của lỗ thông xoang hàm nằm bên ngoài; là nơi tập trung các đường dẫn lưu và thông khí của các xoang trước (xoang trán, xoang sàng trước, xoang hàm). Phức hợp lỗ thông xoang bị tắc nghẽn sẽ gây phù nề, sung huyết, ứ đọng dịch nhầy và nhiễm trùng; ban đầu là viêm mũi xoang cấp nhưng nếu điều trị không triệt để sẽ dẫn đến viêm mũi xoang mạn tính.3: Phức hợp lỗ thông xoang [Nguồn: Kennedy DW, 2001]. Khe mũi trên: giới hạn bởi cuốn mũi giữa ở phía ngoài và cuốn mũi trên ở phía trong, trong khe này thường có 2 lỗ: lỗ đổ ra của xoang sàng sau nằm ở phần trước, lỗ thông xoang bướm nằm ở phần sau.4: Thiết đồ đứng dọc qua vách mũi xoang (Nguồn: Dĩa CD-ROM giải phẫu vách mũi xoang ứng dụng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang – PGS. Đặng Xuân Hùng) 1.
Giải phẫu xoang hàm:[9], [11] Xoang hàm còn được gọi là hang Highmore, phát triển bên trong thân của xương hàm trên. Đây là xoang có kích thước lớn nhất (trung bình là 15ml) và là xoang duy nhất hoàn chỉnh lúc trẻ chào đời. Xoang hàm phát triển từ tháng thứ 3 của thai kỳ, lúc đầu chỉ là một rãnh nhỏ thông với rãnh sàng. Rãnh nhỏ này phát triển song song với hệ thống răng, dần dần ăn sâu vào xương hàm trên.
Lúc mới sinh cấu trúc này chứa đầy dịch, trước 4 - 5 tháng tuổi xoang hàm vẫn chưa thấy trên phim X-quang. Sự tăng trưởng của xoang hàm qua hai giai đoạn: 0 - 3 tuổi và 7 - 13 tuổi. Ba năm đầu tiên sau sinh là giai đoạn mở rộng của xoang hàm, khi trẻ. 4 tuổi bắt đầu thấy được hình ảnh của xoang trên phim X-quang.
Khi trẻ được 6 tuổi thì xoang hàm phát triển đầy đủ như xoang của người trưởng thành.5: Xoang hàm, lỗ thông xoang hàm tự nhiên, các cấu trúc liên quan [9] Xoang hàm là một hốc rỗng hình tháp gồm một đáy, một đỉnh và 3 mặt: - Đáy xoang hàm giáp ranh với hốc mũi tạo nên thành ngoài hốc mũi (vách mũi xoang). 3/4 trước liên quan đến khe mũi dưới, 1/4 sau liên quan đến khe mũi giữa và ở đây có lỗ thông xoang hàm tự nhiên vào hốc mũi qua khe mũi giữa. Lỗ thông này nằm cao hơn đáy xoang khoảng 15mm nên vai trò dẫn lưu tự nhiên cũng không thuận lợi lắm, đó cũng là điều kiện gây viêm xoang. Ngoài ra có thể có lỗ thông xoang phụ thường nằm ở các thóp mũi.
- Đỉnh xoang hàm nằm trong xương gò má, ở phía ngoài. - Ba mặt: Mặt trên: tương ứng với sàn ổ mắt, ở mặt này có rãnh dưới ổ mắt chứa thần kinh dưới ổ mắt. Có thể làm tổn thương thần kinh này khi thao tác. phẫu thuật ở xoang hàm.
Khi vỡ mặt này có thể cơ và các mô trong ổ mắt thoát vị vào xoang hàm gây kẹt nhãn cầu và song thị. Mặt trước: tương ứng với xương gò má, có 2 cấu trúc quan trọng là hố nanh và lỗ dưới ổ mắt. Hố nanh là nơi mở vào xoang hàm trong phẫu thuật Caldwell - Luc. Mặt sau: là thành ngăn cách giữa xoang hàm và hố chân bướm hàm.
Chức năng sinh lý xoang hàm:[8], [9], [10], [11], [14] Chức năng sinh lý của xoang hàm bao gồm: chức năng thông khí và chức năng dẫn lưu - Chức năng thông khí: khi ta hít vào, không khí chủ yếu qua khe mũi dưới và lọt vào các xoang tạo ra sự trao đổi khí giữa mũi và các xoang. - Chức năng dẫn lưu của xoang hàm: nhằm tống ra các chất tiết bình thường cũng như bệnh lý của lỗ thông xoang. Do vị trí của lỗ thông xoang cao hơn đáy xoang hàm nên cơ chế dẫn lưu không thể thuần túy là hiện tượng vật lý mà chủ yếu do cơ chế sinh học đó là nhờ hoạt động các lông chuyển của niêm mạc xoang.6: Chiều lưu chuyển của niêm dịch trong xoang hàm [2]. Sinh lý của niêm mạc xoang hàm: niêm mạc xoang hàm là loại biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển gồm các tế bào trụ có lông chuyển xen kẽ là những tế bào đáy và tế bào đài theo tỉ lệ một tế bào đài trên năm tế bào trụ có lông chuyển.
Tế bào đáy có vai trò sinh sản ra các tế bào của biểu mô, còn tế bào đài có vai trò tiết nhầy tạo nên lớp đặc (gel) và có số lượng thay đổi tùy tình trạng viêm nhiễm tại biểu mô. Phía dưới lớp biểu mô là lớp đệm thuộc loại mô liên kết thưa có chứa các tuyến nhầy có vai trò tiết ra lớp loãng (sol), là môi trường hoạt động của các lông chuyển. Độ dày của mỗi lớp là 5-6µ. Trong dịch nhầy sinh lý có Enzyme Lysozyme có thể phá hủy vi khuẩn, IgA, IgG.