CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC 1. Các khái niệm có liên quan 1. Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu: Khi tiếp cận khái niệm nhu cầu, trên thế giới và tại Việt Nam có nhiều các quan điểm khác nhau. Các khái niệm đều có các đặc điểm khác nhau và được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh riêng biệt, tuy nhiên nhìn chung các khái niệm này đều xoay quanh các đòi hỏi cơ bản của con người về cuộc sống.
Khái niệm "nhu cầu " có nghĩa là sự cần thiết của một người để hạn chế tình trạng khó khăn hoặc tăng cường tình trạng hạnh phúc. Nhu cầu của con người thường bao gồm các nhu cầu cơ bản như ăn uống, giường ngủ, và bảo vệ sức khỏe, và các nhu cầu cao hơn như giáo dục, sự an toàn, và giải trí. Tác giả Maslow xem nhu cầu của con người theo mô hình "tháp nhu cầu" (Maslow's Hierarchy of Needs). Theo đó, nhu cầu của con người từ thấp đến cao là nhu cầu cơ bản, nhu cầu ăn uống, nhu cầu xã hội, nhu cầu tự hoàn thiện, và nhu cầu được coi trọng.
Theo, nhu cầu của con người được chia thành hai nhóm là nhu cầu động lực (như sự hứng thú và sự đạt được) và nhu cầu bảo đảm (như sự an toàn và sự đảm bảo).[15] Theo Bùi Thị Xuân Mai thì nhu cầu là những đòi hỏi của con người để có thể tồn tại và phát triển bản thân, những nhu cầu này có cấp bậc và thường được thỏa mãn từ dưới lên, nhu cầu của con người có sự đa dạng và có khả năng chuyển đổi linh hoạt, thông thường các nhu cầu này có sự thay đổi nhất định phụ thuộc vào bối cảnh xã hội, môi trường sống của con người. [9] Trên cơ sở các khái niệm đã nêu, tác giả tổng hợp rằng: nhu cầu có thể được chia làm hai loại gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần. 12 Nhu cầu về vật chất: Nhu cầu về vật chất là tổng thể các yếu tố liên quan đến vật chất mà con người cần để tồn tại và phát triển trong một môi trường cụ thể như (tiền bạc, thức ăn, chỗ ở,…. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu về vật chất của con người sẽ tăng lên trên cả hai phương diện đó là số lượng và chất lượng.
Nhu cầu về tinh thần: Nhu cầu về tinh thần được hiểu là các yếu tố có thể giúp con người thỏa mãn về mặt tâm lý, là cơ sở để con người có thể phát triển về mặt trí lực, hạn chế những tác động, tâm lý tiêu cực của con người trong toàn bộ quá trình lao động. Nhu cầu được hình thành trong bản chất con người và luôn tồn tại mãi mãi. Tuy nhiên việc thỏa mãn nhu cầu thường chỉ là khởi đầu của động lực hoặc việc triển khai các hành động, yếu tố quyết định cốt lõi thường là lợi ích, kết quả của hành động và nó tác động trực tiếp đến sự thỏa mãn của con người. Thỏa mãn nhu cầu: Thỏa mãn nhu cầu là hành động của con người khi quyết định thực hiện một nhu cầu nhất định nào đó.
Thường là quá trình kết nối mong muốn của con người với một kết quả nhất định mà ở đó con người tin rằng việc thực hiện mong muốn hoặc nhu cầu này sẽ giúp con người trở nên hạnh phúc hơn. Quá trình đưa ra các nhu cầu luôn song hành với việc thỏa mãn nhu cầu, con người sẽ tìm các phương pháp để từ đó có thể hoàn thành được nhu cầu đó của bản thân. Tuy nhiên quá trình thỏa mãn nhu cầu bị tác động nhiều bởi quá trình thực hiện cũng như việc nhìn nhận kết quả có thể đạt được chính xác đến mức nào. Nếu trong quá trình thỏa mãn nhu cầu, con người gặp phải nhiều khó khăn hoặc nhận thấy kết quả đạt được sẽ không được như kỳ vọng thì quá trình này có thể bị dừng lại.
Động cơ Theo tâm lý học, động cơ là nguồn cảm hứng hoặc nguồn năng lượng cho hành vi hoặc mục tiêu của một người. Nó có thể được xem như một nguồn động viên hoặc một nguồn năng lượng cho sự hoạt động của một người. Động cơ theo nghĩa rộng nhất được hiểu là cái thúc đẩy con người hoạt động làm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và xu hướng của tính tích cực đó. Động cơ là nguyên nhân trực tiếp của hành vi.
Theo từ điển Tiếng Việt, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người ta suy nghĩ và hành động. Tác giả Vũ Dũng trong giáo trình Tâm lý học quản lý đã nêu. Động cơ là yếu tố thúc đẩy hành động, có mối quan hệ trực tiếp với việc thỏa mãn nhu cầu của con người. Động cơ là toàn bộ những yếu tố bên trong và bên ngoài có tác dụng khơi dậy tính tích cực của chủ thể.
[2] Theo Maslow, động cơ là một nguồn năng lượng trong một cá nhân mà đẩy họ về phía mục tiêu của họ và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ của họ. Maslow xem động cơ là một phần của hệ thống nhu cầu của một cá nhân và cho rằng nhu cầu của một người xuất hiện trong một thứ tự xác định và phải được thỏa mãn theo thứ tự đó mới có thể đến mục tiêu tiếp theo.[18] Từ đây có thể hiểu động cơ là toàn bộ những yếu tố về thái độ, ý thức của con người về hành động của bản thân. Động cơ xuất phát từ việc hình thành các mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, động cơ có nhiều dạng với các đặc tính khác nhau như: - Động cơ trí hướng: Thường xuất phát từ mong muốn của bản thân trong tương lai nhằm đạt được các ước mơ và hoài bão của chủ thể, đây là nguồn động lực thúc đẩy con người một cách mạnh mẽ nhất. - Động cơ bên ngoài: Đây là động cơ được hình thành bởi các yếu tố bên ngoài nhằm thúc đẩy con người thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu nhất định để đạt được kết quả đó.
Cơ sở của động cơ bên ngoài thường nhằm đạt được các 14 kết quả về vật chất và tinh thần. Đây cũng là dạng động cơ thường được sử dụng trong doanh nghiệp nhằm thúc đẩy động lực của người lao động. - Động cơ lý trí: Động cơ lý trí xuất phát từ việc hiểu sâu sắc một vấn đề cụ thể nhằm được các kết quả có lợi cho bản thân. - Động cơ cảm tính: Động cơ cảm tính cũng là một dạng động cơ bên ngoài, chịu nhiều tác động từ môi trường bên ngoài tuy nhiên cơ sở lại dựa trên việc tác động vào các yếu tố tình khảm nhằm khiến một người làm theo mong muốn của người khác hoặc việc khác.
Động cơ làm việc gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu của chủ thể. Việc thỏa mãn được các nhu cầu của bản thân sẽ giúp con người tiếp tục có động lực để tiếp tục các nhu cầu khái là động lực phát triển của con người. Việc nghiên cứu và nâng cao động lực của người lao động trong doanh nghiệp là nhiệm vụ cơ bản của nhà quản trị nhằm phát triển doanh nghiệp trong dài hạn. Lợi ích Gắn liền với động cơ làm việc đó là lợi ích nhận được sau quá trình thực hiện các hành động nhằm đạt được nó.
Lợi ích là yếu tố có tác động lớn đến việc hình thành nhu cầu cũng như động cơ làm việc. Theo Lê Thanh Hà trong giáo trình Quản trị nhân lực có đề cập. Lợi ích là mức độ đáp ứng nhu cầu của con người trên phương diện vật chất và tinh thần đạt được thông qua hoàn thành một công việc, hành động nhất định.[6] Cũng theo đó Frederick Herzberg có nêu lợi ích công việc của một người là một trong hai yếu tố quan trọng để xác định tình hình nhân lực và tạo điều kiện cho sự thỏa mãn và sự hấp dẫn của việc làm. Theo Maslow thì lợi ích là kết quả đạt được của việc các nhu cầu con người được thỏa mãn theo các thứ tự ưu tiên Theo các quan niệm đã tổng hợp, thì lợi ích là thành quả của con người nhận được sau khi thực hiện các mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu 15 của bản thân.
Lợi ích có thể là các lợi ích về tinh thần hoặc lợi ích về vật chất và nó có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý người lao động cũng như là cơ sở tạo động lực mạnh mẽ cho con người. Trong quá trình quản trị doanh nghiệp các nhà điều hành sẽ đưa ra các phương pháp nhằm tạo lợi ích và thỏa mãn nhu cầu của người lao động để người lao động cống hiến hết mình, từ đó phát triển doanh nghiệp một cách mạnh mẽ. Động lực và Động lực làm việc Động lực là một sự kích hoạt, một nguồn năng lượng của một cá nhân hoặc một nhóm, dẫn đến hành động hoặc sự tiến bộ. Động lực có thể đến từ nhiều nguồn, bao gồm mục tiêu, niềm đam mê, trách nhiệm và các giá trị cá nhân.
Nó cũng có thể được tạo ra bởi môi trường, quản lý hoặc các yếu tố ngoại cảnh. Theo Nguyễn Văn Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [5] Hay theo Bùi Anh Tuấn (2009) “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [11] Theo Lê Thanh Hà (2015): “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”[6] Từ đây theo quan điểm của tác giả, khái niệm động lực làm việc có thể hiểu là: “Động lực làm việc xuất từ bản thân, từ nội tại bên trong của mỗi con người. Động lực lao động có thể được nhận thấy rõ nhất thông qua các ý định và các hành động nhằm thực hiện ý định của người lao động cũng như thái độ làm việc của người lao động khi hoạt động trong tổ chức.
Mỗi người lao động 16 khác nhau sẽ đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau, cũng từ đó hình thành các động lực khác nhau.