ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đặc trƣng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Sự cản trở thông khí này thƣờng tiến triển từ từ tăng dần và là hậu quả của sự tiếp xúc lâu ngày với các chất và khí độc hại [28]. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trƣớc và nay vẫn đang là một thách thức lớn về sức khoẻ đối với y học toàn cầu vì tỷ lệ mắc cũng nhƣ tỷ lệ tử vong ngày càng gia tăng, kèm chi phí điều trị cao và hậu quả gây tàn phế của bệnh. Tỷ lệ tử vong do COPD cũng gia tăng theo thời gian, năm 1990 trên thế giới có khoảng 2,2 triệu ngƣời chết vì COPD, chiếm 8% tổng số ngƣời chết do bệnh tật và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 6 trong nguyên nhân gây tử vong.
Năm 2000 có 2,7 triệu ngƣời chết vì COPD [37]. Hiện nay COPD đang là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 5. Tổ chức y tế thế giới dự đoán số ngƣời mắc bệnh sẽ tăng 3 – 4 lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệu ngƣời chết mỗi năm và đến năm 2020 COPD sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 [37]. Với tính chất tiến triển trầm trọng nhƣ vậy COPD đang trở thành mối lo ngại về sức khoẻ và là mục tiêu quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuyên và cộng sự (2010) điều tra dịch tễ COPD trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ COPD trong cộng đồng dân cƣ từ 40 tuổi trở lên là 4,2% (nam: 7,1%; nữ: 1,9%). Dựa trên số liệu này, ƣớc tính ở nƣớc ta có khoảng 1,3 triệu ngƣời mắc COPD [18]. COPD là bệnh lý toàn thân có biểu hiện chủ yếu tại phổi, bệnh lý đi kèm làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh. Theo Chiến lƣợc toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD), trầm cảm là một rối loạn tâm thần thứ phát của bệnh COPD và là bệnh đi kèm chính trong COPD [29].
Nhƣng triệu chứng trầm cảm thƣờng khó xác định, dễ bị bỏ qua, ít đƣợc quan tâm vì thƣờng chồng chéo với triệu chứng COPD, công cụ sàng lọc trầm cảm thƣờng không đƣợc sử dụng cho ngƣời bệnh COPD và bệnh nhân thƣờng phủ nhận rằng họ không bị trầm cảm [34]. Trầm cảm ở ngƣời bệnh COPD không đƣợc chẩn đoán và điều trị sẽ làm giảm chất lƣợng cuộc sống, giảm tuân thủ điều trị, tăng chi phí chăm sóc y tế, tăng nguy cơ nhập viện, tăng thời gian nằm viện và tăng tỷ lệ tử vong [46]. 2 Theo Sara Fleehart và cộng sự (2014) [51], trong cuộc đời của ngƣời bệnh COPD đã từng có ý tƣởng tự sát và hành vi tự sát, các yếu tố nhƣ: trầm cảm, bệnh đi kèm, thƣờng xuyên nhập viện do đợt cấp COPD, khó thở nặng, không có khả năng tự chăm sóc phải phụ thuộc vào ngƣời thân, trầm cảm đã dẫn đến ý tƣởng tự sát của ngƣời bệnh COPD và đã có trƣờng hợp bệnh nhân đang nằm viện tự sát trong quá trình điều trị. Tỷ lệ trầm cảm ở ngƣời bệnh COPD đang điều trị nội trú rất khác nhau, một phần là do việc sử dụng những công cụ đánh giá, mức độ COPD và điều kiện kinh tế xã hội khác nhau.
Tze-Pin Ng cùng cộng sự (2007) nghiên cứu 376 ngƣời bệnh COPD điều trị nội trú, tỷ lệ trầm cảm là 44,4% [53]. Trong nghiên cứu của Yohannes AM (2010) cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở ngƣời bệnh COPD khoảng từ 8% – 80% [59]. Ở Việt Nam, theo Cao Thị Minh Tâm và cộng sự, nghiên cứu trên 53 ngƣời bệnh COPD đợt cấp và 53 ngƣời bệnh COPD giai đoạn ổn định điều trị tại khoa Lao và bệnh phổi Bệnh viện 103 thấy tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm tƣơng ứng là 84,9% trong đợt cấp; 81,1% ngoài đợt cấp [13]. Các nghiên cứu cho thấy trầm cảm có tỷ lệ cao, ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống và quá trình điều trị ở ngƣời bệnh COPD, nhƣng hiện nay chƣa đƣợc chú trọng trong quản lý COPD.
Do vậy, cần có chính sách thỏa đáng để giải quyết hợp lý, nâng cao chất lƣợng điều trị COPD. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị nội trú tại Bệnh viện Phổi Trung ƣơng năm 2015”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định thực trạng trầm cảm ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị nội trú tại khoa Bệnh phổi mạn tính, Bệnh viện Phổi Trung ƣơng từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2015.
Xác định một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang điều trị nội trú tại khoa Bệnh phổi mạn tính, Bệnh viện Phổi Trung ƣơng từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2015. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) 1. Khái niệm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh có thể phòng và điều trị đƣợc.
Bệnh đặc trƣng bởi tình trạng hạn chế lƣu thông khí trên đƣờng thở thƣờng xuyên, không hồi phục hoàn toàn. Hiện tƣợng hạn chế lƣu thông khí này thƣờng tiến triển nặng dần và kết hợp với đáp ứng viêm bất thƣờng của phổi với các khí hoặc hạt độc hại. Các đợt cấp và bệnh kết hợp góp phần làm nặng thêm tình trạng bệnh [29]. Dịch tễ COPD trên thế giới và Việt Nam 1.
Trên thế giới Ở Mỹ, chi phí cho COPD ngày càng tăng cao. Năm 2002, tổng chi phí cho COPD ƣớc tính là 32,1 tỷ USD, trong đó 18 tỷ USD chi phí trực tiếp điều trị; 14,1 tỷ USD cho chi phí gián tiếp [2], nhƣng đến năm 2010, chi phí cho COPD vào khoảng 49,9 tỷ USD, trong đó 29,5 tỷ USD chi phí trực tiếp cho điều trị, các chi phí này rất phụ thuộc vào quản lý điều trị dự phòng tránh các đợt cấp phải nằm viện. Chi phí nằm viện sẽ chiếm trên 70% chi phí tổng thể cho điều trị COPD [21]. Theo ƣớc tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 2004 trên toàn thế giới có 64 triệu ngƣời mắc COPD và hơn 3 triệu ngƣời chết vì COPD trong năm 2005, tƣơng ứng với 5% của tất cả các trƣờng hợp tử vong trên toàn cầu.
Năm 2010, khoảng 329 triệu ngƣời (4,8% dân số) mắc COPD [33]. Nghiên cứu BOLD (Burden of Obstructive Lung Disease study) công bố kết quả về tỷ lệ mắc COPD của 12 điểm tại 12 quốc gia (Cape Town – Nam Phi; Manila – Philipines; Adana – Thổ Nhĩ Kỳ; Guang Zhou – Trung Quốc; Krakow – Ba Lan; Hanver – Đức; Lexington – Mỹ; Bergen – Na Uy; Reykjavik – Icceland; Salzburg – Áo; Vancouver – Canada; Sydney – Úc), cao nhất tại Cape Town, Nam Phi: 22,2% ở nam và 16,7% ở nữ. Quảng Châu, Trung Quốc tỷ lệ mắc COPD ở nam giới là 9,3% và ở nữ giới là 5,1%. Ở Manila, Philippines tỷ lệ COPD ở nam giới là 18,8%, nữ giới là 6,8% [11].
5 López Varela MV và cộng sự, nghiên cứu tại 5 thành phố lớn của châu Mỹ La Tinh: Sao Paulo (Brazil), Mexico City (Mexico), Montevideo (Uruguay), Santiago de Chile (Chile) và Caracas (Venezuela), tỷ lệ mắc COPD từ 7,8% đến 19,7% [39]. Năm 2010, ở Anh có 3,2 triệu ngƣời có bệnh COPD và là nguyên nhân thứ năm gây tử vong. Mỗi năm ở Anh và xứ Wales, COPD làm 25000 ngƣời chết. Theo số liệu thống kê từ năm 2007 đến năm 2009 về tỷ lệ tử vong do bệnh đƣờng hô hấp của Anh, COPD chiếm 4,8% số ca tử vong [26].
Tại Việt Nam Năm 2010 chúng ta đã có số liệu đầy đủ về gánh nặng dịch tễ COPD trên toàn quốc thông qua đề tài cấp nhà nƣớc “Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam, và các biện pháp dự phòng, điều trị”. Nghiên cứu đƣợc thiết kế và thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở ngƣời trên 40 tuổi là 4,2%; nam: 7,1%; nữ: 1,9%; Nông thôn: 4,7%; thành thị 3,3%, miền núi 3,6 %; Miền Bắc: 5,7%; miền Trung: 4,6%; miền Nam: 1,9%. Dựa trên số liệu này ƣớc tính ở nƣớc ta có khoảng 1,3 triệu ngƣời mắc COPD cần chẩn đoán và điều trị [18]. Năm 2002, Ngô Quý Châu, Nguyễn Quỳnh Loan và Cộng sự, qua phỏng vấn 2001 đối tƣợng từ 35 tuổi trở lên tại phƣờng Khƣơng Mai – Quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội, tỷ lệ mắc COPD chung cho 2 giới là 1,53%; nam là 2,73%; ở nữ giới là 0,36% [3].
Tại khoa Hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai, trong 5 năm từ 1996 – 2000, tỷ lệ bệnh nhân chẩn đoán lúc ra viện là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chiếm 25,1% đứng hàng đầu trong các bệnh lý về phổi [1]. Ƣớc tính số tiền mà nhà nƣớc phải chi trả cho căn bệnh COPD (bao gồm cả chi phí khám, điều trị và số ngày làm việc bị mất) khoảng từ 6.000 tỷ đồng, tƣơng đƣơng với tổng thu nhập của toàn ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá thu đƣợc mỗi năm. Theo Ngô Quý Châu và cộng sự (2010), nghiên cứu trên 599 bệnh nhân nằm viện điều trị đợt cấp COPD, số ngày điều trị trung bình là 13,7 ± 10,5 ngày, tổng chi phí điều trị trong năm 2005 là 4.600 VNĐ và chiếm 40,5% tổng chi phí cho tất cả các bệnh nhân điều trị tại khoa. Chi phí trung bình cho một ngƣời bệnh COPD là 7.
Một số trắc nghiệm đánh giá tình trạng bệnh COPD 1. Đánh giá chất lƣợng cuộc sống ngƣời bệnh COPD qua thang điểm CAT (COPD Assessment Test) Bảng câu hỏi CAT là bảng câu hỏi bao gồm những vấn đề cốt lõi liên quan đến tác động của bệnh lý COPD đến chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh COPD. Bảng câu hỏi này ngắn gọn và đáng tin cậy để đánh giá tình trạng sức khỏe và tác động của COPD lên ngƣời bệnh. Điều này sẽ giúp cho bác sỹ lâm sàng có thêm công cụ hữu hiệu trong công tác điều trị và quản lý ngƣời bệnh COPD.
- Theo Thái Thị Thùy Linh và Lê Thị Tuyết Lan (2011) [8], CAT có đầy đủ các đặc tính tƣơng tự nhƣ bộ câu hỏi SGRQ (St. George Respiratory Questionnaire). Điều đó cho thấy CAT giúp đánh giá tình trạng sức khỏe ngƣời bệnh COPD tƣơng tự nhƣ bộ câu hỏi SGRQ, tuy nhiên nó đơn giản và dễ thực hiện hơn. - Cách tính điểm CAT: Điểm CAT đƣợc xem xét trong mối liên quan với mức độ nặng của mỗi bệnh nhân.
Các bệnh nhân nặng hơn (theo GOLD) có điểm CAT cao hơn những bệnh nhân nhẹ hơn.