Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Sức khỏe tâm thần Theo Tổ chức Y tế thế giới, Sức khỏe tâm thần là một bộ phận không thể tách rời của sức khỏe. Sức khỏe tâm thần không chỉ là không mắc các rối loạn tâm thần, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, nặng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân.
Ngoài ra, sức khỏe tâm thần có thể định nghĩa là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng cho mình (10). Lo âu, căng thẳng, trầm cảm Lo âu (anxiety): là hiện tượng phản ứng của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua và tồn tại. Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa (11). Sự lo âu, lo lắng quá mức xảy ra trong nhiều ngày, kéo dài ít nhất 6 tháng ở nhiều sự kiện hoặc hoạt động ( như công việc, học tập).
Rối loạn lo âu bao gồm các rối loạn đặc trưng bởi sự sợ hãi hoặc lo lắng quá mức, và có liên quan đến những rối loạn nhiều về hành vi (12). Căng thẳng (stress): là trạng thái của cơ thể khi phản ứng để đương đầu với những hoàn cảnh mới. Căng thẳng là kết quả của một sự kiện không mong muốn hay đe dọa từ phía môi trường, và một số điều chỉnh đối với cuộc sống cần được thiết lập để ứng phó với căng thẳng. Suy nghĩ, cảm giác, hành vi và tác động thể chất tất cả đều tham gia vào quá trình ứng phó với căng thẳng (9).
Rối loạn căng thẳng cấp là một khoảng thời gian ngắn xuất hiện các hồi tưởng mang tính thâm nhập xảy ra trong vòng 4 tuần chứng kiến hoặc trải qua một sự kiện sang chấn rất mạnh (12). Trầm cảm (depression) là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 7 10, trầm cảm điển hình thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm, mất mọi quan tâm hay thích thú, giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất là 2 tuần. Ngoài ra, còn có các triệu chứng khác như giảm sự tập trung chú ý, giảm tính tự trọng và lòng tự tin, ý tưởng bị tội và không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng.
Khái niệm ứng phó Ứng phó theo Lazarus và Folkman (1984) là sự thay đổi nhận thức và nỗ lực của cá nhân nhằm phản ứng lại với hoàn cảnh có những thách thức mà cá nhân đánh giá là vượt quá nguồn lực của họ. Hai tác giả cho rằng, có hai chiến lược ứng phó cơ bản là chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề và ứng phó tập trung vào cảm xúc (8). Sau các tác giả trên, Roth và Cohen (1986) đề xuất thêm khái niệm ứng phó né tránh. Ứng phó tập trung vào vấn đề chính là việc cá nhân tập trung hướng đến các tác nhân gây căng thẳng nhằm loại bỏ, hóa giải hoặc ít nhất là giảm thiểu tác động có hại của nó.
Chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề bao gồm các chiến thuật như sẵn sàng đương đầu, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ; thay đổi cách đánh giá vấn đề, học hỏi các tri thức và kỹ năng giải quyết vấn đề (8). Ứng phó tập trung vào cảm xúc là một chiến thuật nhằm làm giảm nhẹ mức độ gây hại/gây tổn thương do các tác nhân căng thẳng gây ra. Các chiến lược ứng phó tập trung vào cảm xúc phổ biến là: kiểm soát cảm xúc, đánh giá lại ý nghĩa của tình huống khó khăn/căng thẳng; chấp nhận tình huống và trách nhiệm của bản thân; thư giãn/giải trí; chia sẻ cảm xúc, tìm sự an ủi/động viên từ người khác; tìm đến với tôn giáo/tâm linh (8). Ứng phó né tránh theo Endler và Parker (2000) là sự tránh đối đầu với tình huống khó khăn, căng thẳng thông qua hành vi hoặc thay đổi nhận thức làm phân tâm, sao nhãng sự chú ý của chủ thể đến tình huống khó khăn/căng thẳng.
Các chiến thuật phổ biến của kiểu ứng phó này là sử dụng các chất kích thích; tránh nói về vấn đề/khó khăn; phủ nhận sự tồn tại của vấn đề; đổ lỗi; tự trách bản thân; giữ khoảng 8 cách với tình huống khó khăn/căng thẳng; đầu tư thời gian và sức lực quá mức (nghiện) vào các hoạt động như chơi game, quan hệ tình dục, mua sắm hay làm việc. Ứng phó né tránh chỉ có tác dụng tạm thời (8). Các thang đo lo âu, căng thẳng, trầm cảm Hiện nay, có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá các vấn đề về sức khỏe tâm thần trên thế giới. Một số bộ công cụ được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học như bộ câu hỏi đánh giá cảm nhận về stress (PSS 10); thang đánh giá lo âu của Beck (13); thang lo âu Zung; thang đánh giá trầm cảm và lo âu (AKUADS); thang đánh giá trầm cảm, lo âu ở bệnh viện (HADS); thang đánh giá lo âu, căng thẳng, trầm cảm của Lovibond (DASS 21 và DASS 42);… - Thang đo PSS 10 Thang đo gồm 10 câu dễ hiểu và đơn giản nhằm đo lường mức độ mà chủ thể nhận thấy cuộc sống của họ trong một tháng qua là không thể dự đoán trước, không kiểm soát được và quá tải.
Điểm số được tính từ 1 đến 50, điểm càng cao cho thấy mức độ stress càng nặng. Dưới 34 điểm: stress cấp tính, có thể kiểm soát được; từ 34 - 40 điểm: bắt đầu quá tải vì stress, không đủ năng lực kiểm soát các trở ngại gặp phải, cần được hỗ trợ để vượt qua; trên 41 - 50 điểm: bị stress nặng, cần được khám và điều trị. Thang đo PSS 10 với hệ số Cronbach's Alpha trong khoảng từ 0,67-0,91, là công cụ có độ tin cậy cao (14). Tuy nhiên, hạn chế của thang đo này là vẫn chưa được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam.
- Thang đánh giá trầm cảm của Beck (13) Thang đánh giá trầm cảm Beck (13) được xây dựng bởi Aaron T. Beck và các cộng sự vào năm 1961. Đây là một thang tự đánh giá gồm 21 câu hỏi, về cảm xúc bản thân trong vòng 1 tuần trở lại và là một trong những trắc nghiệm tâm lý được sử dụng rộng rãi nhất được sử dụng để đo mức độ nghiêm trọng của chứng rối loạn trầm cảm. Mỗi câu hỏi gồm bốn câu lựa chọn, được ấn định thang điểm từ 0-3 tương ứng mức độ của triệu chứng.
Các câu hỏi từ 1 đến 13 đánh giá các triệu chứng về mặt tâm lý, trong khi các câu từ 14 đến 21 là về các triệu chứng cơ thể (15). Thang đo đã được chuẩn hóa và sử dụng phổ biến tại Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia từ năm 1989 (16). 9 - Thang đánh giá trầm cảm, lo âu ở bệnh viện (HADS) Thang đánh giá trầm cảm, lo âu ở bệnh viện (HADS) được đề xuất bởi Zigmond và Snaith vào năm 1983, sau đó được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trên thế giới. Thang đo có 14 câu, trong đó 7 câu đánh giá về lo âu, 7 câu đánh giá về trầm cảm.
Thang đo tập trung ở các triệu chứng chủ yếu liên quan tới lo âu, trầm cảm. Kết quả được phân tích theo tổng điểm các câu theo 3 mức độ: Không (≤7 điểm), Có triệu chứng của trầm cảm / lo âu (8 - 10 điểm), Trầm cảm / Lo âu (≥11 điểm) (17) Thang đo đã được dịch sang tiếng Việt và được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tại Việt Nam. - Thang đánh giá trầm cảm PHQ-9 (Patient Health Questionnaire-9) Thang đánh giá trầm cảm PHQ-9 là một thang có giá trị trong việc tầm soát và theo dõi triệu chứng trầm cảm. Thang đo phù hợp để sử dụng với người lớn và hỏi về các triệu chứng trong hai tuần trước đó.
Thang đo có 9 câu hỏi dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm của DSM-IV. Điểm của các câu hỏi trong thang đo dao động từ 0 đến 3 (0 - không có, 1 - vài ngày, 2 - hơn một nửa số ngày và 3 - hầu như hàng ngày). Tổng điểm PHQ-9 dao động từ 0 đến 27, trong đó điểm số lần lượt là 5, 10, 15 và 20 tương ứng với trầm cảm nhẹ, trung bình, nặng vừa phải và trầm trọng. Thang đo PHQ-9 được sử dụng như là một công cụ kép, vừa phát hiện trầm cảm và vừa phản ánh được mức độ nặng của trầm cảm.
Tổng điểm PHQ-9 ≥ 10 có độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 88% đối với trầm cảm điển hình (18). Thang đo PHQ-9 đã được chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi tại Việt Nam (19). - Thang đo căng thẳng, lo âu, trầm cảm - DASS Thang đo DASS 42 đã được Lovibond xây dựng vào năm 1995, phiên bản DASS 21 là bản rút gọn được xây dựng vào năm 1997. Thang đo DASS 21 cho phép nhà nghiên cứu tổng lượt về tình hình thực tế của cả ba vấn đề là căng thẳng, lo âu và trầm cảm.
Thang đo DASS 21 đã được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trên nhiều nhóm đối tượng, trong đó có người bệnh lao, như nghiên cứu của Merina Widyastuti và các cộng sự về mối tương quan giữa tình trạng tinh thần và mức độ lo lắng ở người bệnh lao phổi tại Trung tâm Y tế Perak Timur Surabaya, Indonesia (20); nghiên cứu của Gregory Efosa Erhabor và các 10 cộng sự về sự kỳ thị và mối quan hệ của nó với lo âu, trầm cảm, căng thẳng trên người bệnh lao phổi ở Ile-ife, Nigeria (21). Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia biên dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng nghề nghiệp khác nhau. Thang đo DASS 21 đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị, độ tin cậy (hệ số Cronbach’s Alpha DASS - lo âu là 0,77, DASS - căng thẳng là 0,7 và DASS - trầm cảm là 0,72) và khẳng định có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hóa (22).