CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan một số nghiên cứu về giao tiếp (GT) va đặc điểm giao tiếp 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Van dé giao tiếp đã được con người chú ý nghiên cứu từ rất sớm. Trong thời cô đại, một số nhà Triết học đã đề cập tới van dé giao tiép.
Socrate (470 — 399 TCN) va Platon (428 — 347 TCN) đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ giữa con người và con nguoi. Dén thoi ki phuc hung, Leonard De Vinci (1452-1519), nha bac hoc kiêm nghệ sỹ thiên tai Y, đã mô tả sự giao tiếp me con. Giữa thế kỉ XIX, trong “Bản thảo kinh tế - triết học” (1884), Karl Marx (1818 — 1883) đã có tư tưởng về nhu cầu xã hội giữa con người với con người: trong hoạt động xã hội và tiêu dùng xã hội, con người phải giao tiếp thực sự với người khác. Karl Marx đã dùng khái niệm “giao tiép vật chat” dé chỉ mối quan hệ sản xuất thực tiễn của con người.
Đầu thế kỷ XX, khi nghiên cứu và đề xuất ra phản xạ học, nhà triết học Nga V. đã đề cập nhiều đến vấn đề giao tiếp. Chính từ sự ra đời của thuyết điều khiển học, nhiều công trình nghiên cứu xuất hiện dựa trên lý thuyết thông tin, lý thuyết điều khiển của các tác giả phương Tây. Vào những năm 70 ở Liên Xô (cũ), giao tiếp trở thành một phạm trù cơ bản được thé hiện trong các công trình nghiên cứu của B.
Lomov (1978) với “giao tiếp là van đề của tâm lý học đại cương”, của A. Bodaliov (1972) về “giao tiếp và những đặc trưng của nó trong công việc với con người”, của A. Leonchiev (1974) “Tâm lý học giao tiếp”. GT được phân 12 tích chi tiết trong tác phẩm “Vẫn đề giao tiếp trong Tâm lý học” của B.
Tiếp sau đó, hàng loạt nghiên cứu về giao tiếp khác của K. dưới góc độ của tâm lý học đại cương và tâm lý học xã hội đã được thực hiện. Các công trình nghiên cứu về giao tiếp trên có thể khái quát theo hai hướng cơ bản: - Hướng thứ nhất: Nhân mạnh khía cạnh thông tin trong giao tiếp (K. C6 thé nhan thay nội dung này trong một số định nghĩa về giao tiếp của các tác giả như K.
Trong tác phẩm “Tâm lý học xã hội”, G. Andreeva đã cho rằng giao tiếp có ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau: + Thông tin + Tri giác của con người với nhau + Tác động qua lại của con người với nhau - Hướng thứ hai: Ban chất của giao tiếp được xem xét trong hệ thống khái niệm, phạm tru tâm lý hoc (A.) khi ban về giao tiếp và hoạt động. Leonchiev xem giao tiép là một dạng đặc biệt cua hoạt động, có đối tượng qua lại giữa chủ thê - chủ thể. Lomov xem giao tiếp là phạm trù đồng đăng với phạm trù hoạt động, biểu hiện sự tác động qua lại và chuyền hóa lẫn nhau giữa chủ thể - chủ thể.
Nhiều nhà tâm lý học như D. cho rang: Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lý học người. Giao tiếp là một dạng hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thé- chủ thể. Hoạt động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thé - khách thé.
Hai khái niệm này ngang bằng nhau và có quan hệ gắn bó 13 khăng khít với nhau trong phạm trù hoạt động, là hai mặt thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý. Tóm lại, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho ta thấy cái nhìn tổng thể nhất về các hướng tiếp cận trong tâm lý học khi nghiên cứu về giao tiếp. Và có một số đặc điểm sau: - Giao tiếp là sự trao đôi thông tin thể hiện mối quan hệ giữa người Với người trong xã hội. - Thông qua giao tiếp, các cá nhân mở rộng các mối quan hệ xã hội, tiếp thu và lĩnh hội tri thức dé hình thành và phát triển nhân cách cá nhân.
Một khía cạnh quan trọng khác của quá trình giao tiếp là sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau giữa các thành viên, xây dựng hình ảnh tinh than của mỗi người trong quan niệm của những người khác (nhân cách hóa ). Nghiên cứu ở Việt Nam về giao tiếp và đặc điểm giao tiếp Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ XX. Ngoài một vài lý luận như “Karl Marx và phạm trù giao tiếp” của Đỗ Long (1963), phần lớn các nghiên cứu tập trung ở khoa Tâm lý giáo dục, trường đại học Sư phạm Hà Nội I, như các bài “giao tiếp, tâm lý, nhân cách” (1981), “giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981), “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên sư phạm” (1985) của Trần Trọng Thủy, “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981) của Bùi Văn Huệ, “Giao lưu và điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý” (1988) của Phạm Minh Hạc, “Luyện giao tiếp sư phạm”(1991) của Nguyễn Thạc và Hoàng Anh, “Kĩ năng giao tiếp của sinh viên” (1991) của Hoàng Anh; “Vấn dé giao tiếp”(1992) - Nguyễn Văn Lê; “giao tiếp sư phạm” (1992) — Ngô Công Hoàn; “Marketing xã hội hay truyền thông giao tiếp”(1994) — Nguyễn Khắc Viện; “Vai trò của giao tiếp trong quan hệ xã hội và quan hệ nhân cách” (1995)- Nguyễn Ngọc Bích; “Tâm ly học giao tiếp” (1995) — Trần Tuấn Lộ; “giao tiếp sư phạm” (1995) — Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh; “Nhập môn khoa học giao tiếp” (1996) 14 — Trần Trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy; “giao tiếp và tâm lý” (2002) — Nguyễn Quang Uan. Giao tiếp là van dé rất quan trong, đó là công cụ sống của con người, giúp con người tồn tại và phát triển được.
Chỉ qua giao tiếp con người mới trở thành người đúng nghĩa. Những năm gan đây, có thé thấy một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về giao tiếp, chăng hạn: “Thực trạng khả năng giao tiếp của sinh viên sư phạm tỉnh Sơn La” của Lê Thị Mai Thoan (Tạp chí Tâm lý học số 2/2005), “Một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp” của Nguyễn Thị Thanh Bình (luận án PTS khoa học sư phạm — tâm lý, 1995), “Kĩ năng giao tiếp nghiệp vụ của trinh sát an ninh và phương pháp đánh giá chúng” của Võ Sỹ Lực (luận án TS Tâm lý học, 2002), “Quy trình giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá với bạn cùng lứa tuôi cho học sinh các lớp 4, 5 trường tiêu học” của Lưu Thu Thuỷ (luận án PTS khoa sư phạm tâm lý, 1995). Ở khoa Tâm ly học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Dai học Quốc gia Hà Nội, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp, nhưng tập trung cơ bản về các mang: giao tiếp giữa sinh viên và giảng viên, giao tiếp giữa quản giáo và tù nhân .Vấn dé giao tiếp giữa bác sĩ và người bệnh nói chung và đặc điểm giao tiếp giữa hai chủ thé này nói riêng vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu. Việc nghiên cứu giao tiếp ở Việt Nam có hai hướng nghiên cứu chính: - Khăng định bản chất tâm lý của giao tiếp.
Các tác giả Phạm Minh Hạc (1988), Nguyễn Ngọc Bích (1995), Ngô Công Hoàn (1992), Nguyễn Thạc, Hoàng Anh (1992). đã xem giao tiếp như là sự tiếp xúc tâm lý giữa hai hay nhiều người, thông qua đó, con người trao đổi với nhau những về thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, dựa vào phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Các tác giả này đã 15 khang dinh duoc ban chat tam ly hoc cua giao tiép, chỉ ra các nội dung, hiệu quả, phương tiện giao tiếp. Tuy chưa xác định một cách có hệ thống các đặc điểm giao tiếp của con người, nhưng họ đã định hướng đúng đắn cho việc nghiên cứu các đặc điểm đó.
- Xem giao tiếp là một tiễn trình truyền dat thông tin Các tác giả Nguyễn Văn Lê (1992), Nguyễn Khắc Viện (1995), đã phân tích, lý giải tiễn trình truyền thông, trực quan hóa, cụ thé hóa này vào mô hình sơ đồ; trong đó, chú ý tới các yếu tố tâm lý như tình cảm, nhận thức lẫn nhau, tỉnh cởi mở, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng sử dụng phương tiện giao tiếp. Tuy chưa xác định một cách có hệ thống các đặc điểm của con người tham gia truyền thông, nhưng họ đã định hướng cho việc xem xét chúng một cách cụ thể và sâu sắc hơn. Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về vấn đề giao tiếp và đặc điểm của giao tiếp, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: Giao tiếp là một dạng thức căn bản của con người và xã hội loài người. Thông qua giao tiếp con người không chỉ truyền đạt về thông tin, cảm xúc mà còn tri giác lẫn nhau.
Bên cạnh đó, giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Đó là quá trình hai mặt: 1 mặt cá nhân tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức từ bên ngoài xã hội; mặt khác, cá nhân đóng góp trở lại những suy nghĩ, quan điểm của bản thân đối với xã hội thông qua giao tiếp. Các tác giả cũng khẳng định bản chất tâm lý của giao tiếp, bởi có giao tiếp mới xuất hiện nhu cầu, động cơ, xúc cảm. giữa cá nhân với nhau trong xã hội.
Chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu về một số đặc điểm giao tiếp của bác sĩ với người bệnh hiện nay đóng vai trò hêt sức quan trọng trong việc 16 khám chữa bệnh tại bệnh viện, góp phần nâng cao sự tin tưởng của mỗi người bệnh khi mà họ tìm đến mỗi bác sĩ. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về giao tiếp 1. Giao tiếp và hoạt động A.
Leonchiev xem giao tiép là một dang đặc biệt cua hoạt động có đối tượng, biểu hiện sự tác động qua lại giữa chủ thé - chủ thé. Lomov xem giao tiếp là một phạm trù đồng đăng với phạm trù hoạt động, biểu hiện sự tác động qua lại và chuyên hóa lẫn nhau giữa chủ thê - chủ thể. Quan điểm của hai ông được các nhà tam ly như B. đánh giá và cho rằng ý kiến của 2 nhà tâm lý học trên đều có mặt hợp lý và chưa hợp lý.
Leonchiev khi bảo vệ quan điểm cho rằng giao tiếp là dạng đặc biệt của hoạt động có đối tượng đã lý giải chưa xác đáng về đối tượng động cơ, chủ thể của hoạt động này; trong khi đó, B.