Nghiên cứu đặc điểm stress ở bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện Thanh Nhàn và Phenika năm 2021

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp đặc điểm stress ở bệnh nhân nhiễm sars cov 2 tại bệnh viện thanh nhàn và bệnh, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

67
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái niệm về stress

1.2. Khái niệm về SARS-CoV-2

1.2.1. Lịch sử, dịch tễ học SARS-CoV-2

1.2.2. Đặc điểm của SAR-CoV-2

1.3. Đặc điểm stress ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

1.3.1. Các yếu tố gây stress ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

1.3.2. Các thang điểm đánh giá stress

1.3.2.1. Thang nhận thức stress PSS-10 (Perceived Stress Scale 10)
1.3.2.2. Thang điểm đánh giá lo âu – trầm cảm – stress DASS-21 (Depression Anxiety and Stress Scales)

1.4. Các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới

1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu, chọn mẫu

2.5. Các biến số nghiên cứu

2.6. Kĩ thuật và công cụ thu thập số liệu

2.7. Quy trình thu thập số liệu

2.8. Phương pháp xử lý số liệu

2.9. Đạo đức nghiên cứu

2.10. Hạn chế của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Thực trạng stress ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

3.3. Tình hình stress ở các bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

3.4. Điểm trung bình của các câu hỏi trong thang PSS-10

3.5. Điểm trung bình thang PSS-10

3.6. Thực trạng stress theo giới tính

3.7. Các yếu tố gây lo lắng ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

3.8. Một số yếu tố liên quan đến stress ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

3.8.1. Trình độ học vấn

3.8.2. Điều kiện kinh tế

3.8.3. Những người nhiễm SARS-CoV-2 xung quanh bệnh nhân

3.8.4. Các vấn đề gây lo lắng ở bệnh nhân

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Thực trạng stress ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.3. Một số yếu tố liên quan đến stress ở bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2

4.3.1. Trình độ văn hoá

4.3.2. Điều kiện kinh tế

4.3.3. Những người nhiễm SARS-CoV-2 xung quanh bệnh nhân

4.3.4. Các vấn đề khiến bệnh nhân lo lắng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặt vấn đề

Bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện Thanh Nhàn và Phenika năm 2021 đã trải qua nhiều áp lực tâm lý. Stress là một vấn đề phổ biến trong bối cảnh đại dịch. Theo nghiên cứu, bệnh nhân COVID-19 thường gặp phải tình trạng sức khỏe kém, lo âu và trầm cảm. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần mà còn có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng thể chất. Nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm tâm lý của bệnh nhân và các yếu tố liên quan đến stress trong bối cảnh dịch bệnh. Việc hiểu rõ về tác động tâm lý của COVID-19 là cần thiết để cải thiện hệ thống y tế và hỗ trợ bệnh nhân tốt hơn.

II. Đặc điểm stress ở bệnh nhân COVID 19

Nghiên cứu cho thấy rằng stress ở bệnh nhân COVID-19 có nhiều đặc điểm khác nhau. Các triệu chứng stress thường gặp bao gồm lo âu, trầm cảm và cảm giác cô đơn. Bệnh viện Thanh Nhànbệnh viện Phenika đã ghi nhận rằng khoảng 97,1% bệnh nhân trải qua stress ở mức độ nặng. Các yếu tố như tình hình dịch bệnh, sự lo lắng về sức khỏe cá nhân và tác động của dịch bệnh đến cuộc sống hàng ngày đã góp phần làm gia tăng tình trạng sức khỏe tâm thần của bệnh nhân. Việc đánh giá stress thông qua các thang điểm như PSS-10 và DASS-21 cho thấy mức độ stress cao hơn ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh lý hoặc điều kiện sống khó khăn.

III. Các yếu tố gây stress ở bệnh nhân

Nhiều yếu tố đã được xác định là nguyên nhân gây ra stress ở bệnh nhân COVID-19. Các yếu tố này bao gồm trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, và sự lo lắng về biến chứng hậu COVID. Bệnh nhân thường cảm thấy lo lắng về tình trạng sức khỏe của bản thân và những người xung quanh. Kỳ thị xã hội cũng là một yếu tố quan trọng, khi nhiều bệnh nhân cảm thấy bị cô lập và không được chấp nhận. Nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân có người thân cũng bị nhiễm bệnh thường có mức độ stress cao hơn. Điều này cho thấy rằng quản lý stress là cần thiết để cải thiện tình trạng sức khỏe tâm thần của bệnh nhân.

IV. Hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân

Việc cung cấp hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân COVID-19 là rất quan trọng. Các bệnh viện như Thanh NhànPhenika đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ tâm lý nhằm giảm thiểu stress cho bệnh nhân. Các biện pháp như tư vấn tâm lý, nhóm hỗ trợ và các hoạt động giải trí đã được áp dụng. Nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân nhận được hỗ trợ tâm lý có xu hướng cải thiện tình trạng stress và cảm thấy thoải mái hơn trong quá trình điều trị. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống y tế trong việc chăm sóc toàn diện cho bệnh nhân, không chỉ về mặt thể chất mà còn về mặt tâm lý.

V. Kết luận

Nghiên cứu về đặc điểm stress ở bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện Thanh Nhànbệnh viện Phenika năm 2021 đã chỉ ra rằng stress là một vấn đề nghiêm trọng cần được chú ý. Các yếu tố như tình hình dịch bệnh, trình độ học vấn, và điều kiện kinh tế đều có tác động lớn đến tình trạng sức khỏe tâm thần của bệnh nhân. Việc hiểu rõ về các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý y tế xây dựng các chương trình hỗ trợ hiệu quả hơn cho bệnh nhân, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống và sức khỏe tâm thần của họ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về stress Có nhiều quan niệm khác nhau về stress. Người có công lớn trong việc nghiên cứu stress liên quan đến y học là Hans Selye người Canada. Hens Selye là người nghiên cứu có hệ thống về stress. Ông cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về stress.

Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu, cuối cùng ông đưa ra một định nghĩa về stress như sau “Stress luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tồn tại của chúng ta. Một tác động bất kỳ tới một cơ quan nào đó đều gây ra stress. Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự tổn thương, ngược lại có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau: stress bình thường khoẻ mạnh là Eustress, stress độc hại hay stress tiêu cực là Dystress” [7]. Như vậy, theo quan điểm của Hans Selye, stress luôn có sẵn trong đời sống con người, là tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể, giúp cơ thể thích nghi với môi trường.

Một số nhà khoa học cho rằng quan điểm của H. Selye nghiêng về mặt sinh học của stress, coi stress như một phản ứng sinh học. Theo Lazarus Richard “Stress như một quá trình tương tác đặc biệt giữa con người và môi trường. Trong đó, chủ thể nhận thức sự kiện từ môi trường như sự thử thách, sự hụt hẫng hoặc như một đòi hỏi mà chủ thể không thể ứng phó được – chủ thể đối mặt với nguy hiểm” [8].

Theo Lazarus stress là kết quả của sự mất cân đối giữa nhận thức về tình huống và khả năng ứng phó của cá nhân đối với tình huống đó [9]. Các nhà tâm lý học Việt Nam khi nghiên cứu về stress cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau. Theo Tô Như Khuê “Stress là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố tâm lý có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thất là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó”. Khái niệm này đề cập đến vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress [10].

Nhóm các tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Sinh Phúc cho rằng “Stress vừa chỉ tác nhân kích thích vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước 3 Luan van các tác nhân đó”. Các tác giả mới đưa ra stress là phản ứng sinh lý của cơ thể, biểu hiện tâm lý của stress và tác nhân gây stress chưa được đề cập đến [10]. Theo Vũ Dũng, “Stress là căng thẳng sinh lý và tâm lý phát sinh do những tình huống, sự kiện, trải nghiệm khó có thể chịu đựng hoặc vượt qua như những biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xã hội [1]. Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hiểu “Stress là một trạng thái không thoải mái về sinh lý, nhận thức, cảm xúc và hành vi mà mỗi chủ thể gặp phải khi phản ứng lại các kích thích hoặc tình huống do tác động từ môi trường bên ngoài, có thể ảnh hưởng tới thể chất và tinh thần của cá nhân đó” 1.2 Khái niệm về SARS-CoV-2 1.1 Lịch sử, dịch tễ học SARS-CoV-2 Coronavirus được phát hiện lần đầu tiên ở gia cầm năm 1930, gây ra các bệnh về đường hô hấp, tiêu hoá và thần kinh ở động vật.

Trong đó chỉ có bảy loại được biết đến gây bệnh cho người. Bốn trong số bảy coronavirus thường xuyên gây các triệu chứng cảm lạnh thông thường: Coronavirus 229E, OC43, NL63 và HKU1 gây khoảng 15 – 30% các trường hợp cảm lạnh thông thường. Hiếm khi nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng, bao gồm viêm phổi, có thể xảy ra nhưng chủ yếu là trên trẻ sơ sinh, người cao tuổi và người suy giảm hệ miễn dịch. Ba loại còn lại gây ra các bệnh nhiễm trùng hô hấp ở người nặng hơn nhiều và đã gây ra những đợt bùng phát dịch viêm phổi gây tỷ lệ tử vong cao trong thế kỷ 21: SARS-CoV (2002), MER-CoV (2012), SARS-CoV (2019) [11].

SAR-CoV: lần đầu tiên được phát hiện ở Phật Sơn, Sơn Đông, Trung Quốc vào tháng 11 năm 2002 và sau đó lan rộng đến hơn 30 quốc gia. Trong đợt bùng phát dịch này trên 8000 trường hợp được ghi nhận trên toàn thế giới và có 774 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong thay đổi đáng kể theo độ tuổi từ <1% số trường hợp ở người dưới 24 tuổi đến >50% ở người trên 65 tuổi). Đợt bùng phát dịch này đã lắng xuống và không có trường hợp nào được xác định kể từ năm 2004. Nguồn lây trực tiếp được cho là cầy hương, được bán ở một chợ động vật sống và đã bị nhiễm bệnh do tiếp xúc với dơi trước khi được bắt từ tự nhiên để bán.

Dơi thường là vật chủ của nhóm coronavirus. SARS-CoV lây truyền từ người này sang người khác bằng cách tiếp xúc gần gũi và được lây truyền dễ dàng nhất 4 Luan van bởi các giọt bắn khi người bệnh ho hay hắt hơi. Mặc dù không có trường hợp mới nào được báo cáo kể từ năm 2004, không nên xem xét loại bỏ SARS vì virus gây bệnh có một ổ nguồn gốc từ động vật trong tự nhiên do vậy sự xuất hiện loại virus này là hoàn toàn có thể [11,12]. MER-CoV: Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) là một bệnh hô hấp cấp tính nặng do coronavirus MERS gây ra.

Những trường hợp nhiễm MERS-CoV được báo cáo lần đầu vàng tháng 9 năm 2012 tại Ả Rập Xê út. Cho đến cuối tháng 10 năm 2021, có 2578 trường hợp nhiễm MERS-CoV được ghi nhận với 888 trường hợp tử vong được báo cáo trên toàn thế giới với tỷ lệ tử vong (CFR) là 34,4%. Phần lớn trường hợp mắc bệnh từ Ả Rập Xê Út với 2178 trường hợp mắc bệnh bao gồm 810 trường hợp tử vong (CFR 37,2%). Đặc điểm nhân khẩu học và dịch tễ học của các trường hợp được báo cáo trong 6 tháng giữa năm 2021 khi so sánh với giai đoạn 2016 đến 2021 không có sự khác biệt đáng kể.

Nguồn lây MERS-CoV được cho là lạc đà một bướu, nhưng vẫn chưa rõ cơ chế lan truyền từ lạc đà sang người. Lây truyền từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp, các giọt nước bọt (trên 5µm), hoặc các hạt khí dung rất nhỏ (dưới 5µm) [13]. Vào cuối tháng 12 năm 2019, một số cơ sở y tế ở Vũ Hán, Trung Quốc đã báo cáo về nhiều nhóm bệnh nhân nhiễm viêm phổi không rõ nguyên nhân. Tương tự với các bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2, những bệnh nhân này có các triệu chứng của viêm phổi do virus, bao gồm ho, sốt, đau tức ngực và trong các trường hợp nặng là khó thở và thâm nhiễm phổi hai bên.

Trong số 27 bệnh nhân nhập viện đầu tiên được ghi nhận, hầu hết các trường hợp đều có liên quan về dịch tễ với chợ hải sản Huanan, khu chợ này không chỉ bán hải sản mà còn bán cả động vật sống, bao gồm cả gia cầm và động vật hoang dã. Theo một nghiên cứu hồi cứu, trường hợp đầu tiên được biết đến bắt đầu từ ngày 8 tháng 12 năm 2019. Vào ngày 31 tháng 12 năm 2019, Uỷ ban Y tế Thành phố Vũ Hán đã thông báo đến người dân về một đợt bùng phát viêm phổi không xác định được nguyên nhân và thông báo cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [14]. Bằng cách giải trình tự RNA siêu phân lập và phân lập virus từ mẫu bệnh phẩm dịch rửa phế quản, phế nang, các nhà khoa học Trung Quốc đã xác định tác nhân gây ra căn bệnh này là một loại betacoronavirus chưa từng được tìm thấy trước đây, kết quả này được công bố vào ngày 9 tháng 1 năm 2020.

Sau đó, nhiều 5 Luan van bệnh nhân không có tiền sử tiếp xúc với chợ hải sản Huanan được ghi nhận. Một số nhóm nhiễm bệnh trong cùng gia đình được báo cáo. Tất cả các trường hợp này đều cung cấp bằng chứng về sự lây truyền giữa người với người của virus mới. Do đợt bùng phát trùng với dịp Tết Nguyên đán nên việc đi lại giữa các thành phố tạo điều kiện cho virus lây lan ở Trung Quốc.

Trong vòng 1 tháng, nó đã lâu lan đến kháp 34 tỉnh thành của Trung Quốc. Số lượng các trường hợp nhiễm bệnh tăng đột biến, với hàng nghìn trường hợp mới được chẩn đoán hàng ngày trong cuối tháng 1. Ngày 30 tháng 1, WHO tuyên bố đợt bùng phát virus coronavirus mới là tình trạng khẩn cấp về sức khoẻ cộng đồng. Ngày 11 tháng 2, Uỷ ban Quốc tế và phân loại virus (ICTV) đã đặt tên cho loại coronavirus mới là ‘SARS-CoV-2’, và WHO đã đặt tên cho căn bệnh này là ‘COVID-19’.

Ngày 11 tháng 3, WHO tuyên bố gọi ‘COVID-19’ là ‘Đại dịch toàn cầu’ [15]. Đến ngày 21 tháng 1 năm 2022 tổng số case mắc đã lên tới hơn 332 triệu người và đã làm hơn 5,5 triệu người tử vong. Trong hai năm, chủng virus gốc gây bệnh COVID-19 đã biến đổi thành 5 “biến thể đáng lo ngại”, căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, hiệu quả của các biện pháp ứng phó y tế và khả năng lây lan từ người sang người. Trong đó, các biến thể alpha, beta và gamma đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hạ xuống thành “các biến thể cần theo dõi” vào tháng 9 năm 2021, trong khi biến thể delta và omicron hiện vẫn bị xem là “các biến thể lo ngại” [4].

Biểu đồ số trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 theo tuần từ tháng 12/2019 đến 21/01/2022 6 Luan van Biểu đồ 1. Biểu đồ số trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 theo khu vực từ tháng 12/2019 đến 21/01/2022 Đại dịch COVID-19 xuất hiện trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23/1/2020. Trong năm 2020, cả nước kiểm soát tốt dịch bệnh với số trường hợp nhiễm bệnh gần 1500 người và tổng số trường hợp tử vong cả năm là 35 trường hợp. Tuy nhiên đến năm 2021, số trường hợp nhiễm bệnh và tử vong tăng cao đột biến với làn sóng dịch thứ 3 và thứ 4, đặc biệt là đợt bùng phát dịch thứ 4 đã lan rộng 64 tỉnh, thành phố và đến hiện nay vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Thời điểm đầu của đợt bùng phát thứ 4, dịch đánh vào các nhà máy, khu công nghiệp lớn tại Bắc Giang với mật độ người đông, môi trường khép kín, dùng chung đồ ăn uống. Bắc Giang thời điểm đó ghi nhận số trường hợp nhiễm bệnh kỷ lục 1881 case trong vòng 22 ngày. Trong đợt bùng phát dịch thứ 4 COVID- 19 gây hậu quả nghiêm trọng nhất tại TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh Nam Bộ và TP Hà Nội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu đặc điểm stress ở bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện Thanh Nhàn và Phenika năm 2021" của tác giả Dương Thị Thu Hà, dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Thị Quỳnh và ThS. Nguyễn Viết Chung, tập trung vào việc phân tích các yếu tố gây stress cho bệnh nhân COVID-19 trong bối cảnh dịch bệnh tại hai bệnh viện lớn ở Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tâm lý của bệnh nhân trong thời kỳ khủng hoảng sức khỏe mà còn giúp các chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về nhu cầu hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và chăm sóc bệnh nhân, bạn có thể tham khảo bài viết "Thực Trạng Tự Kỳ Thị và Yếu Tố Liên Quan ở Bệnh Nhân HIV/AIDS Tại Phòng Khám Đông Anh Hà Nội (2017)", nơi cũng đề cập đến các yếu tố tâm lý trong điều trị bệnh nhân. Ngoài ra, bài viết "Thực trạng chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng tại khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020" có thể cung cấp thêm thông tin về quy trình chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật, một khía cạnh quan trọng trong việc giảm stress cho bệnh nhân. Cuối cùng, bài viết "Thực trạng chăm sóc đường truyền tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Giang" cũng liên quan đến việc chăm sóc bệnh nhân và có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp hỗ trợ tâm lý trong điều trị.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và chăm sóc bệnh nhân trong bối cảnh dịch bệnh.