ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và lối sống hiện đại dẫn đến tình trạng mắc bệnh rối loạn lipid máu càng gia tăng trong cộng đồng. Tuy nhiên, chưa được quan tâm và điều trị đúng mức, do đó dẫn tới xuất hiện nhiều biến chứng nguy hiểm, trong đó có các bệnh lý tim mạch. Theo thống kê năm 2012, toàn thế giới có khoảng 17,5 triệu người tử vong do bệnh tim mạch (31%), riêng tại châu Âu bệnh tim mạch gây tử vong 4 triệu người (47%). Theo thống kê năm 2013, Việt Nam có 528 ngàn người tử vong trong đó tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ 29% (153,4 ngàn người).
Nguy cơ mắc bệnh động mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác tăng cao hơn nếu rối loạn lipid máu đi kèm với các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, thói quen ít vận động, thừa cân, béo phì [39], [40]. Nghiên cứu rối loạn lipid máu ngoài việc phục vụ cho mục đích điều trị, còn mang một ý nghĩa dự phòng rất lớn đối với nguy cơ tim mạch. Điều trị và kiểm soát tình trạng rối loạn lipid máu sẽ tránh được các biến chứng tim mạch nguy hiểm như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, các biến chứng khác do bệnh vữa xơ động mạch gây ra, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội [8]. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ là một trong những bệnh viện lớn với đội ngũ bác sĩ có chuyên môn cao, luôn chú trọng đến nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
Tại đây, số lượng bệnh nhân nhập viện do mắc các bệnh lý về tim mạch, rối loạn lipid máu ngày càng tăng cao, là cơ sở số liệu thuận lợi giúp chúng tôi tiến hành đề tài “KHẢO SÁT TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU TẠI KHOA NỘI TIM MẠCH, BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ” nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu và góp phần nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân rối loạn lipid máu. 1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Khảo sát tình hình điều trị rối loạn lipid máu tại Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong khoảng thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 01/2018. Mục tiêu cụ thể 1. Khảo sát đặc điểm rối loạn lipid máu trên bệnh nhân tại khoa Nội tim mạch.
Khảo sát tỷ lệ các nhóm nguy cơ tim mạch. Khảo sát việc sử dụng thuốc statin trong điều trị rối loạn lipid máu. Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và khắc phục những hạn chế trong việc điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân. 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
ĐẠI CƯƠNG VỀ LIPID VÀ LIPOPROTEIN 1. Lipid Lipid là sự kết hợp cơ bản giữa 1 alcol (glycerol, sterol mà chất quan trọng nhất là cholesterol) và 1 acid béo (no hoặc không no) nhờ có liên kết ester, có tính chất không hòa tan trong nước chỉ hòa tan trong các dung môi hữu cơ. Lipid máu tồn tại dưới 4 dạng [9], [12]: - Cholesterol toàn phần (TC) bao gồm: cholesterol tự do và cholesterol ester hóa. - Các acid béo tự do (không ester hóa).
Lipoprotein Cấu trúc lipoprotein Hình 1.1: Cấu trúc lipoprotein 3 Lipid không tan trong nước do đó để vận chuyển trong máu lipid phải kết hợp với protein nhờ lực liên kết Vander Wal để tạo thành lipoprotein. Lipoprotein có dạng hình cầu với đường kính 100- 500 Å và gồm 2 phần: - Phần ưa nước (phần vỏ): chứa apolipoprotein và phospholipid ở phần vỏ ngoài rồi đến cholesterol tự do ở phần sau. - Phần kỵ nước (phần lõi): gồm TG và cholesterol ester hóa không phân cực. Chính phần vỏ gồm apolipoprotein phân cực và phospholipid, đảm bảo tính hòa tan của lipoprotein trong huyết tương [2], [24].
Phân loại lipoprotein Các lipoprotein có tỷ lệ lipid và protein khác nhau nên chúng có tỷ trọng và điện tích khác nhau, nhờ đó có thể tách riêng bằng cách điện di, bao gồm các loại sau theo tỷ trọng tăng dần [12]: - Hạt vi dưỡng trấp (Chylomicron). - Lipoprotein có tỷ trọng rất thấp (VLDL: Very Low Density Lipoprotein). - Lipoprotein có tỷ trọng thấp (LDL: Low Density Lipoprotein). - Lipoprotein có tỷ trọng trung gian (IDL: Intermediate Density Lipoprotein).
- Lipoprotein có tỷ trọng cao (HDL: High Density Lipoprotein). Thành phần của các lipoprotein [30], [31] Chylomicron VLDL LDL HDL Sản phẩm thoái Nguồn gốc Ruột Ruột và gan Mô, cơ hóa của IDL Tỷ trọng < 0,94 0,94 - 1,006 1,019 - 1,063 1,063 - 1,210 (g/mL) Đường kính 100 - 1000 30 - 80 18 – 25 5 - 12 (nm) Thành phần (%) - Protein 1-2 6 - 10 18 - 22 45 - 55 - TG 85 - 95 50 - 65 4-8 2-7 - Cholesterol 3-7 20 - 30 51 - 58 18 - 25 - Phospholipid 3-6 15 - 20 18 - 24 26 - 32 Vận chuyển Vận chuyển Vận chuyển Vận chuyển TG và TG và cholesterol đến cholesterol Chức năng cholesterol cholesterol các mô ngoại ngoại vi về sinh lý ngoại sinh từ nội sinh từ vi. ruột đến các gan đến các mô. A - 1, A - 2, B - 100, B - 100 A - 1, A - 2, Apolipoprotein B - 48, C - 1, C - 1, C - 2, C - 1,C - 2, C - 2, C - 3 C - 3, E C - 3, D, E Chuyển dịch Không di Pre – β Β Α điện từ chuyển.
5 Vai trò của lipoprotein Chylomicron: là loại lipoprotein rất giàu TG, được tạo ra trong quá trình tiêu hóa ở ruột non nhờ enzym lipase, có vai trò vận chuyển TG của thức ăn theo hệ thống bạch huyết vào đại tuần hoàn nên chyclomiron có nhiều trong huyết thanh sau khi ăn, có thể làm đục huyết thanh nhưng lại có rất ít khi đói. VLDL: là loại lipoprotein có tỷ trọng rất thấp, tổng hợp chủ yếu do gan, một phần nhỏ do ruột, là tiền chất của LDL sinh xơ vữa động mạch, thành phần là triglycerid và cholesterol. VLDL chủ yếu vận chuyển TG nội sinh, nồng độ VLDL khi đói cũng rất thấp. IDL: là lipoprotein có tỷ trọng trung gian, còn gọi là các chất dư còn lại sau chuyển hóa VLDL.
Khi IDL chuyển thành LDL quá nhanh dẫn đến tình trạng tăng quá mức LDL làm tăng nguy cơ gây xơ vữa động mạch. LDL - Cholesterol (LDL - C): là chất gây xơ vữa động mạch, do gan tổng hợp, chủ yếu vận chuyển cholesterol đến các tổ chức. LDL chuyên chở 70% cholesterol trong huyết tương tới các tế bào ngoại biên và tương tác với receptor LDL trên màng tế bào. HDL - Cholesterol (HDL - C): là lipoprotein có tỷ trọng cao, được tổng hợp ở gan và ruột.
Có nhiệm vụ vận chuyển cholesterol dư thừa từ các tế bào về gan. Lượng cholesterol trong HDL được gọi là cholesterol tốt vì cholesterol dư thừa, ứ đọng được HDL vận chuyển từ các tế bào ngoại vi về gan để đào thải ra ngoài bằng đường mật. HDL được coi là yếu tố bảo vệ tim mạch, lượng HDL càng cao thì nguy cơ bị xơ vữa động mạch càng thấp [2], [24], [27]. Các apolipoprotein Protein gắn vào các lipid có nguồn gốc tại niêm mạc ruột hoặc tại gan được gọi là apolipoprotein.
Các apolipoprotein, do cấu trúc petid của mình, có thể quyết định bản chất và lượng của lipid kết hợp. Apolipoprotein cũng quyết định sự nhận diện của một lipoprotein nhất định. Trong quá trình chuyển hóa lipid, các apolipoprotein có chức năng nhận biết các thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào, hoạt hóa hoặc ức chế hoạt động của một số enzyme. Những apolipoprotein tham gia chủ 6 yếu vào quá trình chuyển hóa lipid gồm: Apo A1, A2, B100, B48, C, E [2], [24], [27].
ĐẠI CƯƠNG VỀ RỐI LOẠN LIPID MÁU 1. Định nghĩa rối loạn lipid máu Rối loạn lipid máu (RLLM) là tình trạng bệnh lý khi có một hoặc nhiều thông số lipid bị rối loạn (như tăng cholesterol, TG huyết tương, tăng nồng độ lipoprotein phân tử lượng thấp LDL - C, giảm nồng độ lipoprotein phân tử lượng cao HDL - C) làm gia tăng quá trình xơ vữa động mạch. RLLM thường phát hiện cùng lúc với mội số bệnh lý tim mạch, nội tiết, chuyển hóa. Đồng thời, RLLM là yếu tố nguy cơ của các bệnh lý này.
Do đó, việc điều trị RLLM góp phần điều trị bệnh nguyên của nhiều bệnh lý tim mạch, nội tiết [6], [13]. Phân loại rối loạn lipid máu a. Phân loại theo Fredrickson/WHO (có bổ sung của WHO) Phân loại theo Fredrickson là phân loại có tính chất mô tả tình trạng RLLM. Phân loại này thiếu thành phần quan trọng là HDL - C và khó áp dụng trong thực hành lâm sàng.
Fredrickson phân loại rối loạn lipid máu thành 5 typ (I – V), sau đó tổ chức Y tế thế giới (WHO) phân loại bổ sung typ II thành typ IIa, IIb [8]. Phân loại rối loạn lipid máu theo Fredrickson/WHO [38] Type Thành phần lipoprotein Thành phần lipid tăng tăng I Chylomicron TG IIa LDL Cholesterol IIb LDL, VLDL TG và cholesterol III IDL TG và cholesterol IV VLDL TG V Chylomicron và VLDL TG và cholesterol 7 b. Phân loại theo hiệp hội tim mạch Châu Âu Phân loại RLLM theo hiệp hội tim mạch Châu Âu đơn giản và dễ áp dụng trên lâm sàng hơn: tăng cholesterol đơn thuần, tăng TG đơn thuần, tăng cả cholesterol và TG. Trong lâm sàng 99% trường hợp là tăng lipid máu typ: IIa, IIb, IV và 99% trường hợp XVĐM nằm trong các typ IIa, IIb, III, IV.
Do đó, người ta thường sử dụng phân loại RLLM theo hiệp hội tim mạch châu Âu vào mục đích điều trị. Phân loại rối loạn lipid máu theo hiệp hội tim mạch Châu Âu [25] Tăng lipid máu Tăng cholesterol Tăng triglycerid Loại hỗn hợp (Typ IIa) (Typ IV) (Typ IIb) Thành phần LDL VLDL LDL + VLDL lipoprotein tăng Thành phần TC TG TC + TG lipid tăng 1. Nguyên nhân gây rối loạn lipid máu Nguyên nhân gây RLLM bao gồm nguyên nhân nguyên phát (do di truyền, các bệnh về gen) và nguyên nhân thứ phát (do thói quen ăn uống, sinh hoạt, bệnh tật hoặc tác động của một số thuốc). Các nguyên nhân thứ phát có thể góp phần làm cho rối loạn lipid máu do nguyên nhân nguyên phát biểu hiện ra hoặc nặng nề hơn.
Nguyên nhân nguyên phát Do một hoặc nhiều gen đột biến làm tổng hợp quá mức hoặc thanh thải ít triglycerid hay cholesterol, hoặc tổng hợp không đủ hay đào thải quá mức HDL - C. Những rối loạn tiên phát là nguyên nhân hàng đầu gây RLLM ở trẻ em nhưng không phải là nguyên nhân thường gặp ở người trưởng thành [21].