CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1. Khái quát bệnh tăng huyết áp Huyết áp: là lực đẩy máu chống lại các bức tường của các động mạch dẫn máu từ tim đến các bộ phận khác của cơ thể. Huyết áp thường tăng và giảm trong suốt cả ngày. Nhưng nếu nó vẫn cao trong một thời gian dài, nó có thể làm hỏng trái tim của bạn và dẫn đến các vấn đề sức khỏe.
Huyết áp cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Hoa Kỳ10. Định nghĩa Tăng huyết áp: Cho đến nay, Tổ chức Y tế thế giới và hội THA quốc tế (World Health Organization - WHO và International Society of Hypertension - ISH) đã thống nhất gọi là tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg11. Lần đo đầu tiên, cần đo huyết áp ở cả hai cánh tay, tay nào có chỉ số huyết áp cao hơn sẽ dùng để theo dõi huyết áp về sau. Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 1-2 phút.
Nếu số đo huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Giá trị huyết áp ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng12. Sinh lý hệ động mạch Chức năng chính của hệ động mạch là phân phối máu đến mao mạch tuần hoàn cơ thể, hệ động mạch gồm các ống dẫn đàn hồi và có sức cản cao. Huyết áp là áp suất của máu tác động trên một đơn vị diện tích thành động mạch.
Có thể đo áp suất này qua thiết bị gọi là dụng cụ đo huyết áp. Tuổi càng cao huyết áp càng tăng, mức độ tăng huyết áp song song với mức độ sơ cứu động mạch. Huyết áp được đo bằng đơn vị đo lường là milimet thủy ngân (mmHg) hay centimet nước (1 mmHg = 1. Huyết áp tối đa hay còn gọi là huyết áp tâm thu (HATT) là giới hạn cao nhất của những giao động có chu kì của HA.
7 trong mạch, thể hiện sức bom máu của tim HATT được coi là bình thường khi có trị số bằng hay nhỏ hơn 120mmHg. Huyết áp tối thiểu hay còn gọi là HA tâm trương (HATTr) là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kì của HA trong mạch thể hiện sức cản của mạch. HATTr được coi là bình thường khi có trị số bằng hay nhỏ hơn 80mmHg. Những biến đổi sinh học của huyết áp - Biến đổi ngẫu nhiên thường không thể kiểm soát được nhưng có thể giảm bớt bằng cách đo nhiều lần ở những thời điểm khác nhau.
Những biến đổi thường gập, thường có 3 dạng: - Biến đổi ngắn hạn lúc nghỉ ngơi, do ảnh hưởng của hô hấp và nhịp tim, chịu sự kiểm soát của hệ thần kinh tự động. - Biến đổi từng ngày chủ yếu do trạng thái tinh thần và hoạt động thể lực, được điều hòa bởi phản xạ áp cảm thụ quan, thông qua phản xạ này, nhịp tim và kháng lực ngoại biên được điều chỉnh. - Biến đổi hằng ngày do ảnh hưởng của những hoạt động xảy ra hằng ngày như làm việc tập thể dục, nói chuyện, đọc sách, suy nghĩ, thư giãn, ngủ… Bình thường huyết áp ban đêm là do ngủ và do cơ thể không hoạt động. Nếu ban đêm không ngủ, HA giảm rất ít, còn ban ngày mà ngủ thì huyết vẫn giảm.
HA thường tăng nhẹ trước khi thức giấc và tăng nhiều hơn sau khi đi lại. - Biến đổi hệ thống là những biến đổi có thể kiểm soát được nếu nhận diện ra chúng. Nếu không phát hiện được thì không thể giảm bằng cách đo nhiều lần. Ví dụ như: nhiệt độ của môi trường, đau đớn, hút thuốc, uống rượu, cà phê.
Nguyên nhân tăng huyết áp Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân, THA nguyên phát chiếm hơn 90%, chỉ có khoảng 10% các trường hợp là THA thứ phát. 8 Tăng huyết áp nguyên phát: Chiếm gần 90% trường hợp bị tăng huyết áp (theo Gifford - Weiss). Cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng, một số yếu tố sau có thể gây THA. Tăng hoạt động thần giao cảm sẽ làm tim ở trạng thái tăng động, tăng hoat động của tim dẫn đến tăng cung lượng tim và tần số tim.
Toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi và tác động cuối cùng là THA động mạch. Tăng hoạt động thần Tăng cung lượng tim kinh giao cảm Tăng huyết áp hệ Co thắt mạch ngoại vi thống động mạch Hình 1. Cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp do hoạt động của thần kinh giao cảm và tăng cung lượng tim. Tác dụng co mạch của adrenaline và noradrenaline.
Hai chất này là do tủy thượng thận tiết ra khi hệ giao cảm bị kích thích. Adrenaline có tác dụng co mạch dưới da nhưng lại làm giãn mạch vành, mạch cơ vân nên chỉ làm THA tối đa. Noradrenaline làm co mạch toàn thân nên làm tăng cả huyết áp tối đa và tối thiểu. Vai trò của hệ RAA: Renin-angiotensin-Aldosteron: Renin là enzym được tế bào của tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có kích.
Yếu tố kích thích tiết renin là nồng độ muối trong huyết tương và kích thích thụ thể β của angiotensinogen thành angiotensin I, theo máu đến tuần hoàn phổi được tách khỏi vận chuyển và cắt đi 2 acid amin nhờ coverting enzym ở phổi còn lại 8 acid amin được gọi là angiotensin II có tác dụng rất nhiều trên mạch máu, kích thích lớp cầu của vỏ thượng thận làm tăng bài tiết aldosterol, kích thích trực tiếp lên ống thận làm tăng tái hấp thu Natri. Giảm chất điều hòa huyết áp: Prostaglandin E2 và Kali krein ở thận có chức năng sinh lý là điều hòa huyết áp, hạ Canxi máu, tăng canxi niệu khi chất này bị ức chế hoặc thiếu gây THA. Vai trò của Natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: Natri có vai trò trong bệnh THA cả trong thực nghiệm lẫn điều trị. Trong điều kiện bình thường các hormon và thận sẽ hiệp đồng để thải Natri làm cho lượng Natri trong máu ổn định.
Hiện tượng ứ Natri xảy ra khi lượng Natri sẽ tăng giữ nước, hệ thống mạch sẽ tăng nhạy cảm với angiotensin và noadrenalin13. Tăng huyết áp thứ phát: - Bệnh thận: Viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn hai bên do mắc phải thận đa năng, ứ nước bể thận, u thận làm tiết rénin, hẹp động mạch thận. - Nội tiết: Bệnh vỏ tuyến thượng thận, hội chứng Cushing, hội chứng Conn, u sản xuất quá thừa các Corticosteroid khác (Corticosterone, desoxycortisone), sai lạc trong sinh tổng hợp Corticosteroid. - Bệnh tủy thượng thận, u tủy thượng thận (Pheochromocytome).
- Bệnh tim mạch: Bệnh hẹp eo động mạch chủ, viêm hẹp động mạch chủ bụng cho xuất phát động mạch thận, hở van động mạch chủ. - Thuốc: Các Hormone ngừa thai, cam thảo, carbenoxolone, A. Corticoides, Cyclosporine, các chất gây chán ăn, các IMAO, chất chống trầm cảm vòng. - Nhiễm độc thai nghén.
10 - Các nguyên nhân khác: Bệnh cường giáp, bệnh Beri-beri. Bệnh Paget xương, bệnh đa hồng cầu, hội chứng carcinoid, toan hô hấp, tăng áp sọ não. Triệu chứng của tăng huyết áp Tăng huyết áp có thể diễn tiến chậm, khi tăng huyết áp chưa có biến chứng lên các cơ quan thường bệnh nhân không có triệu chứng. Việc phát hiện bệnh có thể qua các lần thăm khám sức khỏe hay bệnh nhân đến khám vì một bệnh khác.
Các triệu chứng nếu có của tăng huyết áp, được xếp thành 3 nhóm triệu chứng: - Nhóm triệu chứng do huyết áp tăng: Nhức đầu vùng chẩm vào buổi sáng sau khi thức dậy, hay hết sau vài giờ, chóng mặt, hồi hộp, mau mệt mỏi. - Nhóm triệu chứng mạch máu do tăng huyết áp: Chảy máu mũi, nhìn lóa do tổn thương võng mạc, đau ngực do bóc tách động mạch chủ ngực, chóng mặt tư thế. - Nhóm triệu chứng do bệnh căn bản của tăng huyết áp thứ phát: Như nhức đầu từng cơn kèm hồi hộp, đánh trống ngực, đỏ bừng mặt (trong tăng huyết áp do u tủy thượng thận), yếu liệt cơ do hạ Kali máu (bệnh Crohn)14. Biến chứng tăng huyết áp Biến chứng tim - Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và nguyên nhân gây tử vong cao nhất đối với tăng huyết áp.
Dày thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái. Để đối phó sức cản ngoại biên nên gia tăng sức co bóp làm công tim tăng lên và vách cơ tim dày ra. Dần dần suy tim trái và với khó thở khi gắng sức, hen tim hoặc phù phổi cấp sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ với phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi. Xquang và điện tim có dấu dày thất phải.
- Suy mạch vành biểu hiện bằng các cơn đau thắt ngực điển hình hay chỉ có loạn nhịp. Điện tim có ST chênh xuống dưới đường thẳng điện ở các chuyển. 11 đạo tim trái, rõ hơn ở chuyển đạo Pescador khi biến chứng nhồi máu sẽ xuất hiện sóng Q hoại tử. Biến chứng não Tai biến mạch não, thường gặp như nhũn não, xuất huyết não, tai biến mạch não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú chỉ kéo dài, không quá 24 giờ hoặc bệnh não do tăng huyết áp với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mữa, nhức đầu dữ dội.
Biến chứng thận - Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh. - Xơ thận gây tình trạng suy thận dần dần. - Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây tăng huyết áp ác tính. - Ở giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ Renin và angiotensine II trong máu gây cường aldosterone thứ phát.
Biến chứng mạch máu - Tăng huyết áp là yếu tố sinh vữa xơ động mạch, tạo điều kiện cho sự hình thành vữa xơ động mạch. - Phình động mạch chủ, bóc tách. Hiếm gặp nhưng bệnh cảnh rất nặng nề dễ đưa đến tử vong. - Trong tất cả các biến chứng thì biến chứng thường gặp của THA đã được đề cập đến là: + Các biến chứng tim mạch: Nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, suy tim.
+ Các biến chứng về não: Tai biến mạch não (bao gồm cả xuất huyết não và nhũn não); bệnh não do THA. + Các biến chứng về thận: Tiểu đạm; suy thận. 12 + Các biến chứng về mắt, tiến triển theo các giai đoạn, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa. + Các biến chứng về mạch ngoại vi, trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách thành động mạch chủ có thể dẫn đến chết người.
Đại đa số các bệnh nhân bị THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu nào cảnh báo trước.