Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Dị tật tim bẩm sinh (Congenital Heart Defects - CHD) là các bất thường cấu trúc tim và mạch máu lớn phát sinh trong giai đoạn phôi thai, chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong giai đoạn sơ sinh. Theo các thống kê dịch tễ học được tác giả dẫn giải, tần suất mắc tim bẩm sinh trên thế giới dao động trong khoảng 8/1000 trẻ sinh sống, tương đương 1% đến 2% tổng số trẻ mới sinh. Tại Việt Nam, thống kê của Bộ Y tế ghi nhận mỗi năm có khoảng 8.000 trẻ chào đời mắc bệnh tim bẩm sinh; trong đó khoảng 50% rơi vào tình trạng rất nặng và chỉ có khoảng 5.000 trẻ được can thiệp phẫu thuật kịp thời, số còn lại phải chờ đợi hoặc đối mặt với nguy cơ tử vong trước khi đến lượt can thiệp. Tử vong do tim bẩm sinh nặng chiếm tới 71,4% tổng số ca tử vong do dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Một nghiên cứu dẫn chứng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 (giai đoạn 2017 - 2018) cho thấy tỷ lệ tim bẩm sinh nặng là 21,9%, trong đó tỷ lệ tử vong ở nhóm không nặng là 3,8% nhưng ở nhóm nặng lên tới 28,8%.

Bệnh tim bẩm sinh không chỉ gây tổn thương nghiêm trọng đến thể chất, dẫn đến hàng loạt biến chứng phức tạp như viêm phế quản phổi tái phát, suy dinh dưỡng, tăng áp động mạch phổi, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, áp-xe não và suy tim, mà còn đòi hỏi các liệu trình can thiệp ngoại khoa kỹ thuật cao kèm thời gian nằm viện kéo dài. Điều này tạo ra gánh nặng kinh tế trực tiếp rất lớn cho gia đình người bệnh và hệ thống an sinh xã hội. Tại Bệnh viện E, trước thời điểm nghiên cứu chưa có số liệu thống kê cụ thể về cơ cấu chi phí cũng như các yếu tố làm gia tăng chi phí điều trị tim bẩm sinh ở bệnh nhi, dẫn đến những khó khăn nhất định trong công tác tư vấn tài chính cho thân nhân và hoạch định chính sách chi trả của cơ quan Bảo hiểm Y tế (BHYT).

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát chi phí trực tiếp điều trị bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em tại Khoa Phẫu thuật tim mạch trẻ em – Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E Hà Nội từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2021.
  2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí trực tiếp điều trị bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em tại Khoa Phẫu thuật tim mạch trẻ em – Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E Hà Nội từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2021.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhi dưới 16 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh điều trị nội trú tại Khoa Phẫu thuật tim mạch trẻ em – Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E Hà Nội trong mốc thời gian từ tháng 01/2021 đến hết tháng 06/2021, có hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin và đã hoàn tất quá trình điều trị ra viện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết, nghiên cứu vận dụng phương pháp phân tích giá thành bệnh (Cost of illness - COI) trong chuyên ngành Kinh tế Dược. Đây là phương pháp lượng giá toàn bộ các chi phí cần thiết để chẩn đoán và điều trị một mặt bệnh cụ thể mà không tính đến hiệu quả điều trị lâm sàng. Nghiên cứu tiếp cận dưới quan điểm của cơ quan chi trả quỹ BHYT kết hợp với góc độ cùng chi trả của người bệnh, tập trung phân tích chi phí trực tiếp y tế (CPTTYT). Theo định nghĩa được tác giả áp dụng: $$\text{CPTTYT} = \text{Chi phí thuốc} + \text{Chi phí dịch vụ y tế}$$ Trong đó, chi phí dịch vụ y tế bao gồm: chi phí tiền giường bệnh, chi phí chẩn đoán hình ảnh, chi phí xét nghiệm, chi phí khám chuyên khoa, chi phí thủ thuật/phẫu thuật, chi phí máu và chế phẩm máu cùng các dịch vụ y tế hỗ trợ khác.

Về phân loại lâm sàng tim bẩm sinh, đề tài dựa trên cơ sở sinh lý bệnh học chia thành ba nhóm chính:

  • Bệnh tim bẩm sinh có luồng máu thông từ trái sang phải (Shunt trái - phải, không tím hoặc tím muộn): thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch, kênh nhĩ thất.
  • Bệnh tim bẩm sinh có luồng máu thông từ phải sang trái, ít máu lên phổi (tím sớm): tứ chứng Fallot, teo van động mạch phổi, teo van ba lá, bệnh Ebstein.
  • Bệnh tim bẩm sinh có luồng máu thông từ phải sang trái, nhiều máu lên phổi: chuyển gốc động mạch, thân chung động mạch, tim một tâm thất.

Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu. Nguồn dữ liệu thu thập gồm hồ sơ bệnh án (HSBA) và phiếu thanh toán viện phí lưu trữ của bệnh nhi. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm: bệnh nhi dưới 16 tuổi, được chẩn đoán mắc tim bẩm sinh, điều trị nội trú tại cơ sở nghiên cứu trong thời gian quy định, hồ sơ bệnh án hoàn chỉnh và bệnh nhân hoàn tất đợt điều trị (không bỏ điều trị, không chuyển viện, không tử vong). Các trường hợp tử vong, xin về, chuyển viện hoặc hồ sơ bệnh án rách mờ, thiếu thông tin bị loại trừ khỏi mẫu. Tổng số hồ sơ đạt chuẩn đưa vào phân tích là 116 HSBA.

Dữ liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm Microsoft Excel 2013, sau đó phân tích thống kê bằng phần mềm IBM SPSS Statistics 22. Tác giả sử dụng các đại lượng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, khoảng biến thiên) và thống kê suy luận (kiểm định t-test cho so sánh hai nhóm độc lập, phân tích phương sai một chiều ANOVA cho so sánh từ ba nhóm trở lên, kiểm định tương quan Pearson để xác định hệ số tương quan tuyến tính $r$ với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em và chi phí điều trị

Chương này hệ thống hóa các kiến thức nền tảng về giải phẫu, sinh lý bệnh học, nguyên nhân gây dị tật tim bẩm sinh (đột biến di truyền, bất thường nhiễm sắc thể số 21, 13, 18, 22q11, hoặc yếu tố môi trường, nhiễm virus trong 10 tuần đầu thai kỳ), các dấu hiệu lâm sàng, phương pháp cận lâm sàng (siêu âm Doppler tim, điện tâm đồ, X-quang, thông tim chụp mạch) và các cấp độ dự phòng từ cấp 0 đến cấp 3. Đồng thời, tác giả trình bày hệ thống phân loại chi phí y tế (chi phí trực tiếp, gián tiếp, vô hình, chi phí cố định và biến đổi) cùng phương pháp phân tích COI.

Phần tổng quan y văn điểm lại các công trình tiêu biểu trên thế giới và trong nước. Các nghiên cứu quốc tế tại Hoa Kỳ, Bỉ, Canada (như O'Byrne et al., 2019; Ruben Willems et al., 2017, 2019; Nelangi M Pinto et al., 2018) cho thấy chi phí phẫu thuật và nằm viện do tim bẩm sinh rất tốn kém, dao động từ hàng chục nghìn đến hàng trăm nghìn USD hoặc Euro cho mỗi đợt điều trị. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Võ Đức Trí, Cam Ngọc Phượng, Nguyễn Thanh Nguyên (2019) và Nguyễn Kiến Mậu (2015) tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 xác định chi phí can thiệp tim bẩm sinh nặng ở trẻ sơ sinh có trung vị từ 14 triệu đến 92,3 triệu đồng, trong đó chi phí vật tư y tế và thủ thuật chiếm tỷ trọng chi phối (vật tư chiếm 38%, thủ thuật chiếm 29% chi phí lâm sàng).

Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương II cụ thể hóa địa điểm nghiên cứu tại Khoa Phẫu thuật tim mạch trẻ em thuộc Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện E Hà Nội trong thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2021. Tác giả thiết lập bảng danh mục 12 biến số nghiên cứu, phân chia cụ thể thành biến định tính (giới tính, nhóm tuổi, nơi ở, mức hưởng BHYT, bệnh mắc kèm) và biến định lượng (số ngày điều trị nội trú, tiền xét nghiệm, tiền chẩn đoán hình ảnh, tiền giường bệnh, tiền thuốc, tiền thủ thuật/phẫu thuật, chi phí dịch vụ khác). Toàn bộ 116 hồ sơ bệnh án được trích xuất qua quy trình 5 bước nghiêm ngặt: tra cứu mã bệnh án, đối chiếu tiêu chuẩn chọn/loại, rút phiếu thanh toán, nhập số liệu theo phiếu thu thập thống nhất và xử lý trên phần mềm. Nghiên cứu bảo đảm đạo đức y sinh thông qua việc mã hóa thông tin cá nhân và chỉ sử dụng số liệu cho mục đích học thuật.

Chương III: Kết quả nghiên cứu

Kết quả mô tả đặc điểm mẫu và phân tích chi phí trực tiếp điều trị trên 116 bệnh nhi ghi nhận nhiều số liệu cụ thể:

  • Đặc điểm mẫu: Nam chiếm 56,03% (65 trẻ), nữ chiếm 43,97% (51 trẻ), tỷ lệ nam:nữ là 1,27:1. Độ tuổi trung bình là 2,14 ± 2,22 tuổi (dao động từ 1 đến 13 tuổi); trong đó nhóm 1 - 5 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo với 88,79% (103 trẻ). Về nơi ở, 88,79% (103 trẻ) cư trú tại các tỉnh ngoài Hà Nội, chỉ 11,21% ở Hà Nội. Về bảo hiểm y tế, 100% bệnh nhi có BHYT, trong đó 96,55% (112 trẻ) hưởng mức chi trả 100% viện phí (đúng tuyến). Về thời gian điều trị, nhóm nằm viện 20 - 50 ngày chiếm 42,24%, nhóm 50 - 100 ngày chiếm 31,03%.
  • Tổng chi phí trực tiếp điều trị: Tổng chi phí trung bình cho một đợt điều trị nội trú của một bệnh nhi là 118.704,75 nghìn VNĐ (độ lệch chuẩn SD = 66.xxx nghìn VNĐ). Chi phí điều trị cao nhất lên tới 403.354,00 nghìn VNĐ và thấp nhất là 4.495,00 nghìn VNĐ, mức chênh lệch giữa ca cao nhất và thấp nhất xấp xỉ 90 lần.
  • Cơ cấu theo loại chi phí: Chi phí điều trị chiếm 94,01%, gấp 15,7 lần chi phí chẩn đoán (chiếm 5,99%). Trong đó, phẫu thuật - thủ thuật là khoản chi lớn nhất với trung bình 59.190,38 nghìn VNĐ (50,27%), tiếp đến là vật tư y tế 28.306,18 nghìn VNĐ (23,95%), tiền giường bệnh chiếm 8,52%, thuốc - dịch truyền chiếm 8,12%, máu và chế phẩm máu chiếm 2,29%, xét nghiệm chiếm 4,90%, chẩn đoán hình ảnh chiếm 0,91%, thăm dò chức năng chiếm 0,10%, khám chuyên khoa chiếm 0,08% và dịch vụ khác chiếm 0,86%.
  • Cơ cấu chi phí thuốc: Trung bình mỗi bệnh nhân tiêu tốn 9.110,18 nghìn VNĐ tiền thuốc. Trong 13 nhóm thuốc sử dụng, kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn nhất với 47,71%, kế đến là nhóm thuốc tim mạch chiếm 30,14% (hai nhóm này chiếm gần 78% tổng chi phí thuốc).
  • Cơ cấu chi phí chẩn đoán: Tổng chi phí chẩn đoán trung bình là 7.903,60 nghìn VNĐ. Xét nghiệm chiếm 81,75%, chẩn đoán hình ảnh chiếm 15,19%, thăm dò chức năng chiếm 1,73% và khám tim mạch chiếm 1,34%. Trong xét nghiệm, sinh hóa máu chiếm 49,60% (nổi bật là xét nghiệm định lượng NT-proBNP và Pro-calcitonin); xét nghiệm đông máu chiếm 13,20%; xét nghiệm truyền máu chiếm 14,00%. 100% bệnh nhi đều được thực hiện siêu âm Doppler tim (đơn giá 222.000 VNĐ/lần), chiếm 50,08% chi phí khám, chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng.
  • Phân định đối tượng chi trả: Quỹ BHYT chi trả trung bình 77.288,92 nghìn VNĐ (tương ứng 65,03%), trong khi gia đình người bệnh đồng chi trả trung bình 41.415,83 nghìn VNĐ (tương ứng 34,97%). Chi phí BHYT gánh vác cao gấp 1,86 lần chi phí người bệnh tự trả.
  • Các yếu tố ảnh hưởng:
    • Giới tính: Chi phí ở bệnh nhi nam (124.862,34 nghìn VNĐ) cao hơn nữ (111.464,69 nghìn VNĐ) 1,12 lần nhưng kiểm định t-test cho thấy khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($p = 0,15 > 0,05$).
    • Nhóm tuổi: Chi phí trung bình nhóm 1 - 5 tuổi là 115.422,00 nghìn VNĐ; nhóm 5 - 10 tuổi là 144.xxx nghìn VNĐ; nhóm trên 10 tuổi là 64.422,00 nghìn VNĐ. Phân tích ANOVA cho thấy khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($F = 1,31 < F_{\text{crit}} = 3,08; p = 2,07$).
    • Nơi ở: Bệnh nhân tại Hà Nội có chi phí trung bình (123.975,77 nghìn VNĐ) cao hơn các tỉnh khác (117.223,94 nghìn VNĐ) do xu hướng nằm giường dịch vụ, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê qua t-test ($p = 0,78 > 0,05$).
    • Số ngày điều trị: Nhóm điều trị dưới 10 ngày có chi phí trung bình chỉ 9.612,0 nghìn VNĐ, số ngày nằm viện càng dài thì chi phí điều trị càng tăng cao rõ rệt. Phân tích ANOVA ghi nhận sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê ($F = 21,3 > F_{\text{crit}} = 2,45; p = 4,63 \times 10^{-13} < 0,05$). Kiểm định tương quan Pearson khẳng định chi phí trực tiếp điều trị tương quan thuận chặt chẽ với số ngày nằm viện ($r = 0,45; p = 0,00$).

Chương IV: Bàn luận

Tác giả tập trung luận giải nguyên nhân dẫn đến chi phí phẫu thuật - thủ thuật và vật tư y tế chiếm tới trên 74% tổng viện phí. Phẫu thuật tim bẩm sinh đòi hỏi kỹ thuật cao, phần lớn can thiệp có sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể với mức viện phí rất lớn, chẳng hạn: phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot có chi phí trên 51 triệu VNĐ, phẫu thuật bắc cầu chủ - phổi trên 49 triệu VNĐ, phẫu thuật tim mạch khác có chạy máy tim phổi nhân tạo trên 20 triệu VNĐ. Đi kèm với đó là các vật tư y tế đắt tiền như: bộ phổi nhân tạo tích hợp màng lọc kèm dây dẫn chạy máy (hơn 15 triệu VNĐ), quả lọc máu rút nước Terumo (hơn 2,3 triệu VNĐ), miếng vá nhân tạo Aesculap 4x5 cm (hơn 2,2 triệu VNĐ).

Khi so sánh với nghiên cứu của Võ Đức Trí tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2019 (chi phí trung bình 38 triệu đồng/ca) và năm 2015 (107,66 ± 40,47 triệu đồng), chi phí tại Bệnh viện E cao hơn đáng kể (118,7 triệu đồng). Sự khác biệt này xuất phát từ đặc điểm mẫu nghiên cứu tại Khoa Phẫu thuật tim mạch trẻ em Bệnh viện E phần lớn là các ca phẫu thuật tim hở phức tạp, cần hồi sức dài ngày. Về mặt sử dụng thuốc, mặc dù bệnh viện ưu tiên sử dụng thuốc gốc có đơn giá cao, chi phí thuốc chỉ chiếm 8,12% tổng chi phí điều trị, phản ánh tính hợp lý trong chỉ định phác đồ của bác sĩ điều trị.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các chỉ số định lượng cơ bản về chi phí điều trị tim bẩm sinh tại Bệnh viện E qua bảng tổng hợp sau:

Chỉ số tài chính và dịch tễ Giá trị ghi nhận trong nghiên cứu Tỷ lệ tương đối / Ghi chú
Cỡ mẫu nghiên cứu ($n$) 116 hồ sơ bệnh án 65 nam (56,03%), 51 nữ (43,97%)
Độ tuổi trung bình 2,14 ± 2,22 tuổi 88,79% thuộc nhóm 1 - 5 tuổi
Tỷ lệ có thẻ BHYT 100% mẫu nghiên cứu 96,55% hưởng mức chi trả 100%
Tổng CPTTĐT trung bình/bệnh nhân 118.704,75 nghìn VNĐ Dao động: 4.495 đến 403.354 nghìn VNĐ
Chi phí phẫu thuật - thủ thuật 59.190,38 nghìn VNĐ 50,27% tổng chi phí trực tiếp
Chi phí vật tư y tế 28.306,18 nghìn VNĐ 23,95% tổng chi phí trực tiếp
Chi phí giường bệnh 10.104,40 nghìn VNĐ 8,52% tổng chi phí trực tiếp
Chi phí thuốc và dịch truyền 9.110,18 nghìn VNĐ 8,12% (kháng sinh 47,71%, tim mạch 30,14%)
Chi phí xét nghiệm cận lâm sàng 5.803,xx nghìn VNĐ 4,90% (sinh hóa máu chiếm 49,60%)
Chi phí do Quỹ BHYT chi trả 77.288,92 nghìn VNĐ 65,03% tổng chi phí
Chi phí do người bệnh tự chi trả 41.415,83 nghìn VNĐ 34,97% tổng chi phí
Yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa ($p < 0,05$) Số ngày điều trị nội trú (LOS) $F = 21,3; p = 4,63 \times 10^{-13}$; tương quan $r = 0,45$

Về mặt khoa học và thực tiễn, công trình đóng góp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên về chi phí điều trị trực tiếp tim bẩm sinh tại Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện E, một trong những trung tâm phẫu thuật tim mạch lớn ở miền Bắc. Khóa luận chỉ ra rằng phẫu thuật - thủ thuật và vật tư y tế là hai yếu tố chi phối gánh nặng tài chính (chiếm 74,22%). Đồng thời, nghiên cứu chứng minh số ngày nằm viện là yếu tố then chốt quyết định tổng chi phí điều trị, làm cơ sở khoa học cho các nhà quản trị bệnh viện tối ưu hóa quy trình điều trị và giúp cơ quan BHYT hoạch định mức thanh toán phù hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Cỡ mẫu còn ở mức trung bình ($n = 116$) và thời gian thu thập dữ liệu giới hạn trong vòng 6 tháng (từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2021) tại một khoa phẫu thuật duy nhất của Bệnh viện E, chưa đại diện cho bức tranh điều trị tim bẩm sinh toàn quốc.
  • Tiêu chuẩn nghiên cứu loại trừ các ca tử vong, bỏ điều trị hoặc chuyển viện. Điều này khiến số liệu chưa phản ánh được chi phí thực tế phát sinh ở những trường hợp bệnh biến chứng tối cấp, điều trị thất bại hoặc tiên lượng quá nặng.
  • Đề tài chỉ tiếp cận chi phí trực tiếp y tế dựa trên hồ sơ bệnh án và hóa đơn viện phí, chưa đánh giá chi phí trực tiếp phi y tế (chi phí ăn ở, đi lại của gia đình) và chi phí gián tiếp (tổn thất ngày công lao động, giảm năng suất của người chăm sóc).

Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:

  • Kéo dài thời gian theo dõi và mở rộng quy mô nghiên cứu đa trung tâm tại các bệnh viện chuyên khoa tim mạch trên cả nước.
  • Thiết kế nghiên cứu đánh giá toàn diện cả chi phí trực tiếp ngoài y tế và chi phí gián tiếp để đo lường toàn bộ gánh nặng kinh tế của bệnh lý tim bẩm sinh đối với hộ gia đình.
  • Phân tích chi tiết định mức chi phí cho từng dạng tổn thương dị tật cụ thể (như thông liên thất, thông liên nhĩ, tứ chứng Fallot đơn thuần) và đánh giá chi phí - hiệu quả giữa can thiệp phẫu thuật mở với phương pháp bít dù qua da.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho các đối tượng chuyên môn sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Dược (Quản lý và Kinh tế Dược, Dược lâm sàng): Tài liệu cung cấp ví dụ mẫu mực về phương pháp phân tích giá thành bệnh tật (COI) hồi cứu, quy trình xây dựng bảng thu thập biến số kinh tế y tế và kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê y sinh học bằng SPSS.
  • Cán bộ quản lý y tế và cơ quan Bảo hiểm xã hội: Dữ liệu thực chứng về tỷ lệ chi trả BHYT (65,03%) và phần người bệnh cùng chi trả (34,97%) là căn cứ thực tế để tính toán phương án chi trả theo nhóm chẩn đoán (DRG), điều chỉnh danh mục vật tư y tế kỹ thuật cao được thanh toán.
  • Bác sĩ và điều dưỡng lâm sàng khoa tim mạch: Báo cáo phản ánh mối tương quan thuận giữa thời gian nằm viện và chi phí điều trị ($r = 0,45$), định hướng nhân viên y tế tối ưu hóa liệu trình hồi sức sau mổ nhằm rút ngắn số ngày nằm viện một cách an toàn, qua đó giảm gánh nặng viện phí cho người bệnh.

Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là hệ thống bảng thu thập biến số (Bảng 2.1), cơ cấu chi tiết chi phí phẫu thuật, thuốc, vật tư y tế tại Chương III và các biện luận đối sánh chi phí thực tế tại Chương IV.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng chi phí trực tiếp điều trị trung bình cho một bệnh nhi mắc tim bẩm sinh tại Bệnh viện E là bao nhiêu?
Theo kết quả nghiên cứu trên 116 bệnh nhi, tổng chi phí trực tiếp điều trị trung bình cho một đợt nằm viện là 118.704,75 nghìn VNĐ (tương đương khoảng 118,7 triệu đồng). Mức chi phí có sự phân hóa rất lớn giữa các ca bệnh, dao động từ thấp nhất là 4.495,00 nghìn VNĐ đến cao nhất là 403.354,00 nghìn VNĐ (chênh lệch xấp xỉ 90 lần).

2. Hạng mục chi phí nào chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí điều trị?
Chi phí phẫu thuật - thủ thuật chiếm tỷ trọng cao nhất với 50,27% (trung bình 59.190,38 nghìn VNĐ), tiếp đến là chi phí vật tư y tế chiếm 23,95% (trung bình 28.306,18 nghìn VNĐ). Hai hạng mục can thiệp ngoại khoa này chiếm tới 74,22% tổng chi phí trực tiếp điều trị của bệnh nhi.

3. Cơ cấu chi trả giữa quỹ BHYT và gia đình người bệnh được phân chia như thế nào?
Quỹ BHYT chi trả trung bình 77.288,92 nghìn VNĐ cho mỗi đợt điều trị, chiếm 65,03% tổng chi phí. Phần chi phí do gia đình bệnh nhi tự chi trả trung bình là 41.415,83 nghìn VNĐ, chiếm 34,97%. Chi phí do BHYT chi trả cao gấp 1,86 lần chi phí người bệnh tự chi trả.

4. Những yếu tố nào ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến chi phí điều trị trong nghiên cứu?
Chỉ có yếu tố số ngày điều trị nội trú có mối liên hệ và tương quan thuận chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê với chi phí điều trị ($F = 21,3; p = 4,63 \times 10^{-13} < 0,05$; hệ số tương quan Pearson $r = 0,45; p = 0,00$). Các yếu tố khác gồm giới tính ($p = 0,15$), nhóm tuổi ($p = 2,07$) và nơi cư trú ($p = 0,78$) không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

5. Trong cơ cấu chi phí thuốc, các nhóm thuốc nào chiếm tỷ trọng lớn nhất?
Tổng chi phí thuốc trung bình cho một đợt điều trị là 9.110,18 nghìn VNĐ (chiếm 8,12% tổng chi phí). Trong 13 nhóm thuốc điều trị được sử dụng, nhóm thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,71%, kế tiếp là nhóm thuốc tim mạch chiếm 30,14%. Hai nhóm này chiếm tới 77,85% tổng tiền thuốc sử dụng cho bệnh nhi.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Cố Thị Thảo đã khảo sát toàn diện chi phí trực tiếp điều trị bệnh tim bẩm sinh trên 116 bệnh nhi tại Bệnh viện E giai đoạn 6 tháng đầu năm 2021, xác định chi phí điều trị trực tiếp trung bình là 118.704,75 nghìn VNĐ/đợt điều trị. Kết quả nghiên cứu khẳng định chi phí phẫu thuật - thủ thuật và vật tư y tế là hai khoản mục chiếm tỷ trọng chi phối (74,22%), trong khi BHYT đóng vai trò trợ lực tài chính chủ đạo với mức chi trả 65,03%. Số ngày điều trị nội trú được chứng minh là yếu tố duy nhất có mối tương quan thuận và tác động trực tiếp có ý nghĩa thống kê đến tổng chi phí điều trị của bệnh nhi. Công trình cung cấp nguồn dữ liệu kinh tế dược giá trị cho công tác quản trị bệnh viện và hoạch định chính sách an sinh y tế.