Chương I: Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh vật Chương II: U tân sinh Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và một số rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi Chương VI: Bệnh hệ thần kinh Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn Chương X: Bệnh hệ hô hấp Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa Chương XII: Bệnh da và tổ chức dưới da Chương XIII: Bệnh hệ cơ xương khớp và mô liên kết Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục Chương XV: Mang thai, sinh đẻ và hậu sản Chương XVI: Một số bệnh khởi phát trong thời kỳ chu sinh Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác 3 Luan van Chương XIX: Vết thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong Chương XXI: Yếu tố ảnh hưởng tình trạng sức khỏe và tiếp cận với cơ quan y tế Chương XXII: Mã dành cho những mục đích đặc biệt 1. Một số hình thái bệnh lý phụ khoa thường gặp Sinh lý phụ khoa nghiên cứu tất cả những vấn đề có liên quan đến những thay đổi về tính chất sinh dục và hoạt động sinh dục của người phụ nữ, chủ yếu là những hoạt động của bộ phận sinh dục nữ [7]. Bệnh phụ khoa là tên chung để chỉ các loại tổn thương bệnh lý bộ phận sinh dục của nữ. Các bệnh phụ khoa thông thường bao gồm các bệnh có tổn thương dạng u hoặc tổn thương dạng viêm nhiễm.
Theo thống kê của Nguyễn Hữu Cốc [8] có 64,6% mắc bệnh phụ khoa, trong đó các tổn thương thực thể thường gặp nhất trong số phụ nữ bị bệnh là viêm CTC chiếm 50%, tiếp đó là lộ tuyến CTC chiếm 8,6%, viêm âm hộ 7,1 % và viêm âm đạo là 5,4%. Các bệnh lý phụ khoa dạng u Bao gồm các bệnh thuộc chương II – U tân sinh theo bảng phân loại ICD – 10. U xơ tử cung Hình 1. Các vị trí của u xơ tử cung [9] 4 Luan van U xơ tử cung là khối u lành tính ở tử cung thường hặp ở phụ nữ ở độ tuổi hoạt động sinh dục, UXTC còn được gọi là u xơ cơ tử cung hay u cơ TC vì cấu tạo từ tổ chức liên kết và cơ trơn của tử cung [7].
Người ta ước lượng có khoảng 20% phụ nữ ở tuổi 35 trở lên bị UXTC và thường gặp ở lứa tuổi 30-45. Sau khi mãn kinh hiếm gặp hơn [10, 11]. Hình ảnh đại thể của u xơ tử cung UXTC làm tử cung to lên và gây rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ [10, 11]. Đây chính là lý do chính làm phụ nữ phải đến bệnh viện khám chữa bệnh.
Khối u buồng trứng Đó là những khối u lành tính hay ác tính xuất phát từ các tổ chức của buồng trứng, 90% là u nang bên trong chứa dịch [10, 11]. Các u nang buồng trứng lành tính thường gặp: u nang bì, nang thanh dịch, nang nhày, nang lạc nội mạc. Các u buồng trứng ác tính hầu hết thuộc nhóm biểu mô (từ 80 – 90%) các ung thư buồng trứng. 5 Luan van Hình 1.
Hình ảnh u nang buồng trứng [12] Chẩn đoán khối u buồng trứng có thể rất đơn giản chỉ cần thăm khám phụ khoa thông thường hoặc cũng có thể người bệnh tình cờ phát hiện ra khi đi khám vì một lý do khác. Hình ảnh ung thư buồng trứng [13] 1. Khối u lành tính ở đường sinh dục dưới Đó là các dạng nang, thường có kích thước nhỏ và không gây nguy hiểm cho tính mạng của người bệnh và có khi họ cũng không biết là mình có vì nó không có triệu chứng gì, đó là: Nang tuyến Bartholin: Thường nằm ở một bện môi lớn, ở vị trí của tuyến Bartholin, di dộng dễ, không đau. Thường do viêm nhiễm mãn tính dẫn đến tắc ông bài tiết, các chất tiết ứ đọng lại thành nang, nang này có thể dễ dàng bóc tách.
Nang nước, nang nhầy thành âm đạo: 6 Luan van Đó là những nang xuất hiện ở thành âm đạo bên trong có chứa dịch nước hoặc nhầy, kích thước nhỏ và nói chung không ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ nữ. Chẩn đoán các khối u nang dễ dàng, chỉ cần khám lâm sàng bằng cách đặt mỏ vịt [10, 11]. Các tổn thương lành tính khác của đường sinh dục dưới Vết trắng âm hộ: Đó là các tổn thương sừng hóa lành tính của âm hộ, chẩn đoán rất dễ dàng khi nhìn thấy da vùng âm hộ đổi màu, thường gây ngứa. Lộ tuyến cổ tử cung (CTC): Lộ tuyến CTC là một tổn thương do xuất hiện tế bào trụ ở mặt ngoài CTC, nơi mà bình thường chỉ có tế bào lát bào phủ.
Lộ tuyến CTC có thể là bẩm sinh, cũng có thể do sang chấn CTC như sau nạo, sau đẻ và cũng có thể do cường Estrogen là cho các tuyến có xu thế phát triển ra ngoài và chế tiết chất nhầy. Triệu trứng của lộ tuyến CTC chủ yếu là ra khí hư nhiều. Chẩn đoán lộ tuyến CTC thường dễ bằng cách mở mỏ vịt và nhìn thấy CTC bị mất lớp biểu mô lát mỏng, thay thế vào đó là một vùng nhiều nụ to nhỏ, màu đỏ và nếu lấy axit acetic 3% bôi lên thì các tuyến sẽ se lại và nếu soi CTC sẽ thấy chúng tập trung thành từng đám như chum nho và làm chứng nghiệm Lugol thấy không bắt màu [10, 11]. Tiến triển của lộ tuyến CTC nói chung là tốt nếu như không viêm nhiễm, nhưng nếu có viêm nhiễm mà không được điều trị sẽ dẫn đến sự tái tạo bất thường và đó là tiến triển bất lợi và là tiền đề của các tổn thương nghi ngờ ở CTC.
7 Luan van Hình 1. Cổ tử cung bình thường và viêm lộ tuyến CTC [14] Nang nhầy CTC: Là do sự nang hóa của các tuyến chế nhầy ở dưới sâu, khi chọc thường có chất nhầy chảy ra, nói chung đây là một bệnh lành tính. Polyp CTC: Là những khối u nhỏ có cuống dài màu đỏ, thường mọc ra từ trong ống CTC, polip CTC cũng gây ra tình trạng tiết khí hư nhiều và kéo dài. Về nguyên tắc điều trị polip CTC là xoắn bỏ hoặc cắt bỏ khối polip.
Các loại viêm nhiễm đường sinh dục dưới Là những bệnh lý nhiễm khuẩn đường sinh dục nữ, bệnh khá phổ biến 80% những người bị bệnh phụ khoa là viêm đường SD. Viêm SD có tầm quan trọng trong bệnh lý phụ khoa vì nó là nguyên nhân gây nhiều rối loạn trong đời sống và hoạt động sinh dục của người phụ nữ. Nguyên nhân - Lây qua đường sinh dục (giao hợp với người bị bệnh lây lan qua đường tình dục). - Thủ thuật y tế.
Lâm sàng viêm nhiễm đường sinh dục dưới Bệnh viêm nhiễm đường sinh dục về lâm sàng được biểu hiện bằng một hội chứng gồm 3 triệu chứng chính: ra khí hư, ra máu bất thường và đau bụng, trong đó triệu chứng ra khí hư là phổ biến nhất. Tính chất và màu sắc 8 Luan van của khí hư còn phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh song có 3 loại khí hư [15]. - Khí hư đặc, trắng: đặc trắng như bột, thường đọng lại ở túi cùng sau âm đạo, xét nghiệm thường thấy Candida. - Khí hư trong: trong, dính như lòng trắng trứng, xét nghiệm không thấy vi khuẩn và tế bào.
Nó tạo nên do sự tăng tiết của các tuyến, thường do tổn thương niêm mạc tử cung, cổ tử cung gây ra. - Khí hư xanh, vàng, có bọt: khí hư loãng, đục, có màu xanh hoặc vàng thường do trùng roi hoặc tạp trùng gây ra. Triệu chứng lâm sàng thứ 2 khá phổ biến là đau bụng, nhưng thường không điển hình, thường đau hoặc tức nặng vùng hạ vị. Ra máu âm đạo bất thường, thường sau giao hợp hoặc thăm khám phụ khoa, có thể thấy trong các viêm đường sinh dục cấp tính, hay gặp trong viêm lộ tuyến CTC.
Các đường lây truyền - Lây qua đường tình dục: các tác nhân thường gặp như: nấm, trùng roi, Chlamydia. - Lây qua tiếp xúc: qua quần áo, nước sinh hoạt, thói quen vệ sinh của phụ nữ. Thường gây do nấm, trùng roi hoặc viêm cơ quan sinh dục ngoài như âm hộ. - Lây qua dụng cụ y tế: qua các dụng cụ y tế khử khuẩn không tốt, đỡ đẻ không an toàn, nạo phá thai không an toàn, đặt dụng cụ tử cung.
Các tác nhân gây bệnh đường sinh dục dưới Nấm Candida: Nhiễm nấm candida có thể gặp ở mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và ở khắp mọi nơi trên thế giới. Theo Phan Thị Kim Anh (1994) nghiên cứu trên 305 phụ nữ đến khám tại bệnh viện phụ sản TW tỷ lệ bị nấm là 52,45% [16]. Theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh (2001) tỷ lệ viêm âm đạo do nấm Candida là 44,9% [17]. Trùng roi Trichomonas vaginalis: 9 Luan van Trichomonas là một loại ký sinh trùng đơn bào, ở dạng hoạt động di chuyển bằng roi, gậy bênh ở đường sinh dục dưới, khá phổ biến.
Ký sinh trùng roi âm đạo làm thay đổi môi trường pH âm đạo. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn khác phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm HIV và người ta cũng nhận thất có mối liên quan giữa tuổi, chu kỳ kinh nguyệt, sử dụng thuốc tránh thai hay kháng sinh đối với tình trạng nhiễm Trichomonas [17, 18]. Phan Thị Kim Anh và cộng sự (1994) tỷ lệ viêm do T. Theo Marai W (1998) tỷ lệ viêm sinh dục ở phụ nữ mang thai do T.
Neisseria gonorrhoeae: Theo Lander DV và cộng sự (2004) tỷ lệ bị viêm đường sinh dục do lậu là 11% [20]. Viêm đường sinh dục do tạp khuẩn: Theo Balaka và cộng sự (2003) khi nghiên cứu tình hình viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ có thai cho thấy có 15,49% viêm nhiễm do S.aureus và 10,9% do E. Theo Lander DV và cộng sự (2004) khi nghiên cứu trên 598 phụ nữ có vấn đề về đường sinh dục thấy tỷ lệ viêm âm đạo do các loại khuẩn khác (S.aureus, liên cầu, trực khuẩn đường ruột. Phan Thị Kim Anh (1994) xét nghiệm 653 bệnh phẩm âm đạo thấy có 27,25% là S.coli, 14,39% là liên cầu nhóm D [21].
Thai ngoài tử cung Thai ngoài tử cung (chửa ngoài tử cung) là bệnh thuộc chương XV – Mang thai, sinh đẻ và hậu sản. Thai ngoài tử cung là trường hợp trứng được thụ tinh, làm tổ và phát triển ở ngoài buồng tử cung.