Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đại dịch COVID-19 bùng phát từ cuối năm 2019 do virus SARS-CoV-2 gây ra đã nhanh chóng lan rộng trên phạm vi toàn cầu, dẫn đến hàng triệu ca nhiễm và tử vong. Bên cạnh các tổn thương thực thể ở hệ hô hấp và các cơ quan nội tạng, người nhiễm SARS-CoV-2 còn phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý nặng nề do sự đe dọa về tính mạng, sự cô lập trong môi trường cách ly y tế, cũng như nỗi sợ lây nhiễm cho người thân và cộng đồng. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng nhiều công bố y khoa quốc tế đã chỉ ra rằng các rối loạn tâm thần, đặc biệt là lo âu và trầm cảm, xuất hiện phổ biến trong và sau giai đoạn điều trị cấp tính.
Tại Việt Nam, đợt bùng phát dịch thứ tư kéo dài từ ngày 27/4/2021 đến tháng 8/2021 đã ghi nhận sự gia tăng đột biến về số ca nhiễm, trọng tâm là các tỉnh phía Nam. Tỉnh Đồng Tháp là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề với hàng nghìn ca mắc. Nhằm đáp ứng yêu cầu thu dung và phân tầng điều trị, Khu ký túc xá sinh viên của Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp (tại phường Hòa Thuận, thành phố Cao Lãnh) đã được trưng dụng thành bệnh viện dã chiến, tiếp nhận các bệnh nhân không triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ. Trong khi các can thiệp nội khoa tập trung vào kiểm soát tổn thương thể chất, khía cạnh sức khỏe tâm thần của nhóm bệnh nhân này vẫn chưa được khảo sát đầy đủ. Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ y đa khoa của tác giả Nông Thị Ngân Giang, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Viết Chung tại Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu này.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mô tả thực trạng trầm cảm, lo âu của bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021.
- Phân tích một số yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần của bệnh nhân COVID-19 tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhiễm SARS-CoV-2 đang điều trị nội trú tại bệnh viện dã chiến, đồng ý tham gia điền biểu mẫu khảo sát trực tuyến.
- Phạm vi không gian: Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu trong tháng 08 năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế và các thang đo tâm lý học lâm sàng đã được chuẩn hóa:
- Khái niệm và cơ chế bệnh sinh: Tác giả hệ thống hóa đặc điểm virus SARS-CoV-2 (thuộc chi Betacoronavirus, họ Coronaviridae), cơ chế gây viêm thông qua cơn bão cytokine và vai trò của thụ thể ACE-2 tác động lên hệ thần kinh trung ương. Trầm cảm được định nghĩa và phân loại theo Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10) và Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần lần thứ 5 (DSM-5), đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú và giảm năng lượng kéo dài tối thiểu 2 tuần. Rối loạn lo âu được phân tích theo DSM-IV và DSM-5, nhấn mạnh phản ứng căng thẳng quá mức, dai dẳng kèm theo các rối loạn thần kinh thực vật.
- Thang đo lường sử dụng:
- Thang Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (The Hospital Anxiety and Depression Scale - HADS): Phát triển bởi Zigmond và Snaith (1983), gồm 14 câu hỏi tự điền (7 câu đánh giá lo âu - HADS-A, 7 câu đánh giá trầm cảm - HADS-D). Mỗi câu tính điểm từ 0 đến 3. Tổng điểm từng phân thang từ 0-7 điểm là bình thường; 8-10 điểm là ranh giới (nghi ngờ); 11-21 điểm là có biểu hiện lo âu hoặc trầm cảm rõ rệt. Ngưỡng phát hiện bất thường là từ 8 điểm trở lên.
- Thang Cảm nhận Đa chiều về Hỗ trợ Xã hội (Multidimensional Scale of Perceived Social Support - MSPSS): Phát triển bởi Zimet và cộng sự (1988), gồm 12 câu hỏi đánh giá sự hỗ trợ từ ba nguồn: gia đình, bạn bè và người quan trọng khác trên thang Likert 7 điểm. Điểm tổng chia làm 3 mức: thấp (12-48 điểm), vừa phải (49-68 điểm), cao (69-84 điểm).
- Thiết kế và phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện kết hợp chọn toàn bộ bệnh nhân đủ điều kiện tại cơ sở điều trị trong thời gian khảo sát; tổng số thu được là 54 bệnh nhân.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân gặp khó khăn trong việc thao tác hoặc không thể hoàn thành biểu mẫu khảo sát trực tuyến.
- Thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát trực tuyến qua Google Forms (thời gian trả lời từ 2-5 phút) nhằm tuân thủ quy định cách ly chống lây nhiễm.
- Xử lý số liệu: Số liệu được làm sạch trên Microsoft Excel và xử lý bằng phần mềm SPSS. Phân tích mô tả sử dụng giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số và tỷ lệ phần trăm. Phân tích suy luận sử dụng tỉ số odds chênh tỷ lệ hiện mắc (POR), khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) và kiểm định thống kê với mức ý nghĩa $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề
Tác giả trình bày bức tranh tổng thể về dịch tễ học đại dịch COVID-19 trên thế giới và tại Việt Nam trong đợt dịch thứ tư. Phần này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu sức khỏe tâm thần song hành cùng các can thiệp điều trị tổn thương hô hấp, từ đó xác định mục tiêu mô tả thực trạng và tìm kiếm các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm tại cơ sở dã chiến Đồng Tháp.
Chương 1 - Tổng quan
Chương này tổng hợp toàn diện các tài liệu khoa học liên quan:
- Lịch sử nghiên cứu các rối loạn cảm xúc từ thời cổ đại (Hippocrates, Cicero) qua các giai đoạn tâm thần học cận đại (Jean Esquirol, Krafft-Ebing, Emil Kraepelin, Sigmund Freud) đến các hệ thống chẩn đoán hiện đại (ICD-10, DSM-5).
- Cơ chế bệnh sinh của trầm cảm và lo âu: giả thuyết monoaminergic, rối loạn trục dưới đồi - tuyến yên - thượng thận (HPA), vai trò của các cytokine tiền viêm và tác dụng phụ tiềm tàng của thuốc corticosteroid.
- Giới thiệu chi tiết hai công cụ đo lường HADS và MSPSS.
- Điểm luận các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế: nghiên cứu của Kong Xiangyu và cộng sự (2020) tại Bệnh viện Hỏa Thần Sơn (Vũ Hán) ghi nhận 34,72% lo âu và 28,47% trầm cảm; nghiên cứu của Jie Zhang (2020) tại Bệnh viện Phương Thương ghi nhận 20,9% lo âu và 18,6% trầm cảm; nghiên cứu của Xueyi Li (2020) tại Lôi Thần Sơn; phân tích gộp của Deng Jiawen (2020) trên 31 nghiên cứu với tỷ lệ trầm cảm 45% và lo âu 47%. Tại Việt Nam, tác giả dẫn số liệu khảo sát của TS. Trì Thị Minh Thúy (09/2021) tại Bệnh viện Hồi sức COVID-19 TP.HCM ghi nhận tỷ lệ trầm cảm 20%, rối loạn lo âu 53,3% và stress 16,7%.
Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tác giả mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại Ký túc xá Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Đồng Tháp (năng lực tiếp nhận khoảng 1.500 giường, chia làm khu 9 tầng và khu 6 tầng nhằm phân luồng bệnh nhân không triệu chứng hoặc diễn biến nhẹ). Chương này quy định hệ thống 15 biến số nghiên cứu độc lập và phụ thuộc, quy trình thu thập thông tin qua Google Forms để bảo đảm an toàn phòng chống dịch, các nguyên tắc đạo đức y sinh (tự nguyện, bảo mật thông tin, có sự chấp thuận của cơ sở) và 6 nhóm hạn chế phương pháp luận.
Chương 3 - Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả xử lý dữ liệu của 54 người bệnh:
- Đặc điểm nhân khẩu và lâm sàng: Tuổi trung bình $30,22 \pm 11,82$ (dao động từ 8 đến 60 tuổi), nhóm 19-50 tuổi chiếm ưu thế (72,2%); nữ giới chiếm 53,7%; trình độ tiểu học/THCS chiếm 46,3%, THPT chiếm 42,6%; 88,9% nằm viện trên 7 ngày (trung bình $12,28 \pm 4,04$ ngày); 87,0% không có triệu chứng lâm sàng; 72,2% có người thân nhiễm bệnh; 100% không có tiền sử bệnh mạn tính trước đó.
- Tâm lý khi mắc bệnh: 51,9% lo lắng mức bình thường về biến chứng; 57,4% cảm thấy giận dữ, không chấp nhận bị bệnh; 42,6% cảm thấy tội lỗi vì lây lan cho người khác; 98,1% hài lòng với điều trị.
- Tỷ lệ rối loạn tâm thần theo thang HADS: Điểm trung bình lo âu là $4,50 \pm 3,14$, tỷ lệ có biểu hiện bất thường ($\ge 8$ điểm) là 14,8% (trong đó 9,26% ở mức ranh giới và 5,55% lo âu thực sự). Điểm trung bình trầm cảm là $3,48 \pm 3,02$, tỷ lệ bất thường ($\ge 8$ điểm) là 11,1% (trong đó 9,2% ở mức ranh giới và 1,9% trầm cảm thực sự). Tỷ lệ đồng mắc cả lo âu và trầm cảm là 5,6%.
- Phân tích mối liên quan: Khảo sát mối liên quan giữa tình trạng lo âu với các yếu tố cá nhân (tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân, người thân nằm cùng phòng, người thân mắc bệnh, mức độ hỗ trợ xã hội) đều ghi nhận $p > 0,05$.
Chương 4 - Bàn luận
Tác giả biện luận các phát hiện thu được:
- Tỷ lệ lo âu (14,8%) và trầm cảm (11,1%) trong nghiên cứu này thấp hơn rõ rệt so với các công bố quốc tế tại Vũ Hán hay nghiên cứu tại TP.HCM. Lý do được chỉ ra là mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ bệnh nhân thể nhẹ hoặc không triệu chứng (87%), tuổi đời còn trẻ, không có bệnh nền mạn tính, được điều trị tại cơ sở phân tầng ban đầu và tỷ lệ hài lòng với điều kiện cơ sở dã chiến đạt mức rất cao (98,1%).
- Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh gia đình và hỗ trợ xã hội với rối loạn tâm thần chưa đạt mức ý nghĩa thống kê do dung lượng mẫu nhỏ ($n=54$), phân bố ca bệnh tập trung và phương thức khảo sát tự điền trực tuyến.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa thực trạng sức khỏe tâm thần trên nhóm bệnh nhân COVID-19 thể nhẹ và không triệu chứng tại tỉnh Đồng Tháp. Các số liệu dịch tễ, lâm sàng và tâm lý chính được tổng hợp chi tiết trong các bảng sau:
| Đặc điểm đối tượng nghiên cứu ($n=54$) |
Phân nhóm |
Số lượng ($n$) |
Tỷ lệ (%) |
| Nhóm tuổi |
$\le 18$ tuổi |
11 |
20,4 |
|
19 - 50 tuổi |
39 |
72,2 |
|
$> 50$ tuổi |
4 |
7,4 |
| Giới tính |
Nữ |
29 |
53,7 |
|
Nam |
25 |
46,3 |
| Tình trạng hôn nhân |
Độc thân |
25 |
46,3 |
|
Sống chung với vợ/chồng |
25 |
46,3 |
|
Ly thân / ly hôn |
3 |
5,6 |
|
Góa |
1 |
1,9 |
| Thời gian nằm viện |
$\le 7$ ngày |
6 |
11,1 |
|
$> 7$ ngày (TB: $12,28 \pm 4,04$ ngày) |
48 |
88,9 |
| Triệu chứng lâm sàng |
Không có triệu chứng |
47 |
87,0 |
|
Có triệu chứng |
7 |
13,0 |
| Hoàn cảnh liên quan |
Có người thân mắc SARS-CoV-2 |
39 |
72,2 |
|
Có người thân cùng phòng điều trị |
34 |
63,0 |
| Trạng thái cảm xúc |
Giận dữ, không chấp nhận mắc bệnh |
31 |
57,4 |
|
Cảm thấy tội lỗi vì gây bệnh cho người khác |
23 |
42,6 |
|
Hài lòng với cơ sở điều trị |
53 |
98,1 |
Về thực trạng rối loạn tâm thần được sàng lọc qua thang đo HADS:
| Phân loại theo thang HADS |
Điểm TB $\pm$ ĐLC |
Mức độ triệu chứng |
Tỷ lệ (%) |
Tỷ lệ chung nhóm bất thường ($\ge 8$ điểm) |
| Lo âu (HADS-A) |
$4,50 \pm 3,14$ |
Bình thường (0-7 điểm) Ranh giới (8-10 điểm) Có lo âu (11-21 điểm) |
85,19 9,26 5,55 |
14,8% ($n=8$) |
| Trầm cảm (HADS-D) |
$3,48 \pm 3,02$ |
Bình thường (0-7 điểm) Ranh giới (8-10 điểm) Có trầm cảm (11-21 điểm) |
88,90 9,20 1,90 |
11,1% ($n=6$) |
| Phân bố kết hợp |
- |
Không mắc cả hai rối loạn Mắc 1 rối loạn (lo âu hoặc trầm cảm) Đồng mắc cả hai rối loạn |
79,60 14,80 5,60 |
- |
Kết quả phân tích mối liên quan giữa lo âu và các biến số đặc điểm cá nhân:
- Giới tính: Nữ giới có tỷ lệ lo âu 6,9% so với nam giới 24% ($POR = 0,235$; KTC 95%: 0,043 - 1,290; $p = 0,125$).
- Tình trạng hôn nhân: Nhóm độc thân/ly thân/góa có tỷ lệ lo âu 15,6% so với nhóm sống chung vợ chồng 13,6% ($POR = 1,173$; KTC 95%: 0,250 - 5,509; $p = 1,000$).
- Có người thân cùng phòng: Tỷ lệ lo âu ở nhóm có là 14,7% so với nhóm không có là 15,0% ($POR = 0,977$; KTC 95%: 0,207 - 4,610; $p = 1,000$).
- Có người thân mắc bệnh: Tỷ lệ lo âu ở nhóm có là 15,4% so với không có là 13,3% ($POR = 1,182$; KTC 95%: 0,211 - 6,628; $p = 1,000$).
- Các biến số về tuổi ($p = 0,526$), trình độ học vấn ($p = 0,310$) và mức độ hỗ trợ xã hội theo thang MSPSS ($p = 0,614$) đều chưa cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$).
Đóng góp của nghiên cứu:
Khóa luận cung cấp cứ liệu thực nghiệm độc lập về sức khỏe tâm thần tại cơ sở dã chiến phân tầng thấp ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn đỉnh điểm của đợt dịch thứ tư. Nghiên cứu chứng minh rằng ở nhóm bệnh nhân không triệu chứng hoặc thể nhẹ, không bệnh nền, được điều trị trong môi trường có người thân ở cùng phòng (63%) và tỷ lệ hài lòng cao (98,1%), tỷ lệ lo âu và trầm cảm thấp hơn đáng kể so với nhóm bệnh nhân nặng tại các trung tâm hồi sức tích cực.
Kiến nghị của tác giả:
Cần duy trì việc đánh giá, phát hiện sớm các dấu hiệu sang chấn tâm lý ở người bệnh ngay khi tiếp nhận vào các cơ sở điều trị dã chiến; tổ chức tư vấn tâm lý kịp thời đối với những trường hợp có biểu hiện lo âu ranh giới nhằm ngăn ngừa tiến triển thành rối loạn tâm thần thực sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả đã chỉ rõ các hạn chế nội tại trong công trình nghiên cứu:
- Thiết kế mô tả cắt ngang chỉ ghi nhận tình trạng cảm xúc tại một thời điểm duy nhất trong đợt nằm viện, không đánh giá được sự biến thiên của các triệu chứng theo thời gian và không thể thiết lập mối quan hệ nhân quả.
- Phương thức thu thập dữ liệu bằng biểu mẫu trực tuyến Google Forms do yêu cầu cách ly y tế có thể dẫn đến sai số lựa chọn (chỉ tiếp cận được người biết sử dụng điện thoại thông minh) và sai số chủ quan khi người tham gia có thể phóng đại hoặc giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của triệu chứng.
- Cỡ mẫu còn nhỏ ($n=54$) và sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, làm hạn chế sức mạnh thống kê trong việc chứng minh các mối liên quan có ý nghĩa.
- Khách thể nghiên cứu thuần nhất là bệnh nhân thể nhẹ hoặc không triệu chứng, 100% không có bệnh mạn tính đi kèm, nên kết quả không đại diện cho toàn bộ quần thể bệnh nhân COVID-19.
- Thang đo HADS chỉ mang tính chất công cụ sàng lọc nhanh, không thay thế cho quy trình thăm khám lâm sàng chuyên khoa để đưa ra chẩn đoán xác định.
- Kinh nghiệm của học viên trong thu thập và phân tích dữ liệu tâm thần học còn giới hạn.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quy mô mẫu trên nhiều tầng điều trị (từ nhẹ đến hồi sức tích cực), kết hợp thăm khám lâm sàng trực tiếp bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần và thực hiện nghiên cứu đoàn hệ theo dõi dọc sau khi bệnh nhân xuất viện.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên ngành Y đa khoa, học viên sau đại học chuyên ngành Tâm thần, Y học dự phòng và Tâm lý học lâm sàng khi tiếp cận các phương pháp sàng lọc sức khỏe tâm thần trong bối cảnh thảm họa y tế công cộng. Nội dung khóa luận cung cấp mô hình ứng dụng chi tiết hai thang đo chuẩn hóa HADS và MSPSS, các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10 và DSM-5, cũng như quy trình thiết kế biến số dịch tễ học lâm sàng phục vụ điều tra cắt ngang tại các cơ sở điều trị dã chiến.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng thang đo nào để đánh giá tình trạng lo âu và trầm cảm của bệnh nhân?
Nghiên cứu sử dụng Thang Lo âu và Trầm cảm Bệnh viện (HADS) do Zigmond và Snaith xây dựng năm 1983. Thang đo gồm 14 câu hỏi (7 câu cho lo âu và 7 câu cho trầm cảm), mỗi câu có điểm từ 0 đến 3. Điểm từ 8 trở lên trên mỗi tiểu thang được xác định là ngưỡng có bất thường (từ ranh giới đến có triệu chứng rõ rệt).
2. Tỷ lệ mắc các triệu chứng lo âu và trầm cảm được ghi nhận trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát trên 54 bệnh nhân, tỷ lệ có bất thường về lo âu là 14,8% (điểm trung bình $4,50 \pm 3,14$), trong đó mức ranh giới chiếm 9,26% và mức có lo âu chiếm 5,55%. Tỷ lệ có bất thường về trầm cảm là 11,1% (điểm trung bình $3,48 \pm 3,02$), trong đó mức ranh giới chiếm 9,2% và mức trầm cảm chiếm 1,9%. Tỷ lệ đồng mắc cả hai rối loạn là 5,6%.
3. Vì sao tỷ lệ lo âu và trầm cảm trong nghiên cứu này lại thấp hơn so với nhiều nghiên cứu quốc tế công bố cùng thời điểm?
Đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện dã chiến Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp có 87% là người không có triệu chứng lâm sàng, độ tuổi trung bình trẻ (30,22 tuổi), 100% không có tiền sử bệnh mạn tính, 63% có người thân nằm cùng phòng điều trị và 98,1% người bệnh hài lòng với cơ sở điều trị. Đây là các yếu tố bảo vệ giúp giảm bớt căng thẳng tâm lý so với các bệnh nhân nặng hoặc người phải điều trị đơn độc tại khu hồi sức.
4. Nghiên cứu có tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đặc điểm cá nhân với tình trạng lo âu không?
Không. Phân tích thống kê cho thấy các yếu tố như nhóm tuổi ($p = 0,526$), giới tính ($p = 0,125$), tình trạng hôn nhân ($p = 1,000$), trình độ học vấn ($p = 0,310$), việc có người thân nằm cùng phòng ($p = 1,000$), có người thân mắc bệnh ($p = 1,000$) và mức độ hỗ trợ xã hội ($p = 0,614$) đều có giá trị $p > 0,05$, tức là chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong phạm vi cỡ mẫu 54 bệnh nhân.
5. Đối tượng tham gia nghiên cứu có những phản ứng cảm xúc nào đáng chú ý khi biết tin nhiễm SARS-CoV-2?
Dữ liệu khảo sát ghi nhận có 57,4% bệnh nhân cảm thấy giận dữ hoặc không chấp nhận việc mình bị nhiễm bệnh; 51,9% lo lắng ở mức bình thường về các biến chứng; và 42,6% xuất hiện cảm giác áy náy, tội lỗi vì nguy cơ lây truyền bệnh cho người khác.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Thị Ngân Giang đã phác họa thực trạng sức khỏe tâm thần của 54 bệnh nhân COVID-19 thể nhẹ và không triệu chứng tại Bệnh viện dã chiến khu ký túc xá Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đồng Tháp năm 2021. Kết quả ghi nhận tỷ lệ sàng lọc bất thường về lo âu là 14,8% và trầm cảm là 11,1% theo thang HADS, phản ánh mức độ căng thẳng tâm lý tương đối thấp hơn so với các cơ sở hồi sức bệnh nhân nặng. Mặc dù nghiên cứu chưa xác lập được các mối liên quan có ý nghĩa thống kê do dung lượng mẫu nhỏ, công trình đã đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng có giá trị về phản ứng tâm lý và sự thích ứng của người bệnh tại các cơ sở thu dung ban đầu trong đại dịch.