Luận văn công tác xã hội nhóm - Bệnh nhân ĐTĐ tại BV Sa Đéc

Chuyên khảo Công tác xã hội với bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa sa phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Công Tác Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2022

171
8
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đái tháo đường và Công tác xã hội

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính ngày càng phổ biến, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được kiểm soát tốt. Theo tài liệu, tỷ lệ mắc ĐTĐ đang gia tăng trên toàn cầu, đặt ra thách thức lớn cho hệ thống y tế. Tại Việt Nam, số lượng người mắc ĐTĐ cũng không ngừng tăng, đòi hỏi sự quan tâm và can thiệp kịp thời.

Công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh ĐTĐ, giúp họ hiểu rõ về bệnh, tuân thủ điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống. CTXH nhóm là một phương pháp hiệu quả, tạo môi trường chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và hỗ trợ lẫn nhau giữa các bệnh nhân. Tuy nhiên, việc áp dụng CTXH nhóm cho người bệnh ĐTĐ tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện. Luận văn này tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng CTXH nhóm với người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động.

II. Thực trạng Công tác xã hội nhóm với người bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc

Luận văn đã khảo sát 101 người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc để đánh giá thực trạng CTXH nhóm. Kết quả cho thấy hoạt động CTXH nhóm tại bệnh viện còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào hỗ trợ thủ tục hành chính. Việc hỗ trợ tâm lý, chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức về bệnh còn chưa được chú trọng. "Hầu như chưa có bệnh viện tuyến tỉnh và huyện nào thực hiện hỗ trợ người bệnh về mặt tâm lý hay can thiệp CTXH để giúp người bệnh cải thiện tình trạng sức khỏe của mình." Điều này cho thấy sự cần thiết phải phát triển và hoàn thiện các hoạt động CTXH nhóm để đáp ứng nhu cầu của người bệnh ĐTĐ.

III. Các yếu tố ảnh hưởng và Mô hình can thiệp CTXH nhóm

Luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả CTXH nhóm, bao gồm yếu tố chủ quan (như kiến thức, thái độ, hành vi của người bệnh) và yếu tố khách quan (như nguồn lực, cơ sở vật chất, chính sách hỗ trợ). "Nghiên cứu này nếu chúng ta can thiệp trợ giúp người bệnh ĐTĐ nâng cao khả năng nhận thức về bệnh ĐTĐ vai trò của dinh dưỡng và luyện tập trong bệnh điều trị bệnh ĐTĐ hiệu quả hơn." Từ đó, luận văn đề xuất mô hình can thiệp CTXH nhóm gồm các giai đoạn: thành lập nhóm, hoạt động nhóm, can thiệp và lượng giá. Mô hình này tập trung vào việc cung cấp kiến thức về bệnh, kỹ năng tự chăm sóc, hỗ trợ tâm lý và tạo môi trường chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm. Việc áp dụng mô hình này được kỳ vọng sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong việc hỗ trợ người bệnh ĐTĐ.

IV. Đánh giá và Đề xuất

Luận văn đánh giá kết quả thực nghiệm mô hình CTXH nhóm và cho thấy sự cải thiện về kiến thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ. "Cho thấy công tác tư vấn, hướng dẫn người bệnh đạt hiệu quả, người bệnh ĐTĐ có nhu cầu và quan tâm đến cách tự chăm sóc bản thân." Tuy nhiên, để mô hình được triển khai rộng rãi và đạt hiệu quả cao hơn, cần có sự hỗ trợ từ phía bệnh viện, các ban ngành liên quan và cộng đồng. Luận văn đề xuất một số biện pháp như: đào tạo nhân viên CTXH, tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng chính sách hỗ trợ và tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ và vai trò của CTXH. Những đề xuất này có giá trị thực tiễn cao, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và hỗ trợ người bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc và các cơ sở y tế khác.

17/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VÀ NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1. Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu Trong nghiên cứu khoa học, lý thuyết nghiên cứu là nền tảng vô cùng quan trọng bởi lý thuyết là kinh nghiệm, kiến thức, tri thức, trí tuệ của các thế hệ đi trước tích lũy lại, cung cấp cho chúng ta các cơ sở kiến thức để lập luận và lý giải các vấn đề nghiên cứu. Từ đó, học viên tự xây dựng cho mình khung lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu giúp cho học viên không đi lệnh hướng vấn đề mình đang quan tâm tìm hiểu. Lý thuyết nghiên cứu còn chứa đựng nền tảng khoa học và lý luận để trả lới các câu hỏi mà học viên đặt ra.

Ở tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, việc kế thừa và vận dụng phát huy các lý thuyết là nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu. Từ đó, tìm ra điểm mạnh và hạn chế của các lý thuyết nhằm hoàn thiện từng lý thuyết. Trong lĩnh vực CTXH cũng vậy, việc lựa chọn ứng dụng lý thuyết nào vào nghiên cứu của mình là điều rất cần thiết, nếu học viên chọn cho mình các lý thuyết áp dụng phù hợp với đề tài thì việc nghiên cứu trở nên dễ dàng thuận tiện. Nếu chúng ta chọn ứng dụng lý thuyết không phù hợp thì gây ra sự lãng phí về nhân lực và tài lực trong nghiêng cứu.

Người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú là nghiên cứu sự thay đổi của người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú về hành vi, kiến thức và sự hiều biết về bệnh ĐTĐ sau khi được can thiệp thông qua phương pháp CTXH nhóm. Ở đây học viên ứng dụng lý thuyết hệ thống và lý thuyết nhận thức. Lý thuyết hệ thống Thuyết hệ thống trong CTXH bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy (1901-1972) – một nhà sinh học nổi tiếng. Lý thuyết sinh học của ông cho rằng “mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một hệ thống lớn hơn”.

Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử; và các phân tử được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn. Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà xã hội học nghiên cứu và phát triển. Hanson (1995) cho rằng giá trị của thuyết hệ thống là nó giải 14 quyết những vấn đề tổng thể nhiều hơn là những bộ phận của hành vi xã hội con người. Siporin (1980) đã tìm hiểu và khảo sát thực tế xã hội cuối thế kỷ XIX ở Anh để tìm hiểu và phát triển thuyết hệ thống.

Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH phải kể đến công lao của Pincus và Minahan (1973), Germain và Giterman (1973). Họ cho rằng hệ thống là tập hợp của một bộ những thành phần, mỗi thành phần có phần hành riêng, khi tập chung lại một cách trật tự sẽ tạo thành hệ thống với chức năng riêng của hệ thống. Một cá nhân, một cơ quan, tổ chức, đoàn thể, hội tương trợ… là những thí dụ về hệ thống. Cá nhân cũng là một hệ thống vì cá nhân là kết quả tập hợp của nhiều phần: phần tâm lý, phần sức khỏe thể chất, phần ảnh hưởng văn hóa, tôn giáo, gia đình, xã hội, nghề nghiệp, chức vụ… Mỗi thành phần này có một tác động riêng tạo thành cá tính và cách ứng xử của cá nhân (Trần Đình Tuấn, 2010).

Mối liên quan của các hệ thống không phải đơn tuyến một chiều mà các yếu tố tác động lẫn nhau theo những mối liên quan chằng chịt. Những tác động qua lại giữa các bộ phận tạo ra một thể nhất định. Con người cũng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ giữa sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, và những trải nghiệm xã hội (Depoy & Gilson, 2008; Epel và các công sự, 2006; Weitz, 2009). Những thành phần này tác động qua lại với nhau để tạo nên một con người hoàn chỉnh.

Vì thế, khi sức khỏe thể chất của chúng ta bị khiếm khuyết đi một bộ phận trên cơ thể, hoặc một bộ phận bị suy giảm chức năng thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ sự hoạt động của tất cả các bộ phận khác trên cơ thể. Mặt khác, thuyết hệ thống khẳng định mỗi con người không sống biệt lập mà luôn luôn sống trong cộng đồng, và tác động qua lại giữa các hệ thống; con người và môi trường có ảnh hưởng lớn đến an sinh của cá nhân và xã hội. Vì thế, nếu một cá nhân, bộ phận khác trong xã hội không thực hiện chức năng của mình, hoặc bị suy giảm chức năng thì đồng thời ảnh hưởng tới các cá nhân, bộ phận khác trong xã hội đó. Quan điểm về hệ thống cung cấp cho chúng ta một khung tổ chức gồm nhiều yếu tố, thành phần liên quan và tác động qua lại với nhau trong môi trường xã hội.

Bản thân cơ thể của người bệnh ĐTĐ là một hệ thống được cấu thành từ những bộ phận khác nhau. Tuy nhiên, Khi người bệnh bị bệnh ĐTĐ thì người bệnh bị suy 15 giảm nội tiết tiết insulin dẫn đến sức khỏe của người ĐTĐ bị giảm sút. Người người bệnh ĐTĐ cần được điều trị nhằm ổn định ĐH liên tục và suốt đời để đảm bảo không bị biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, khi người bệnh ĐTĐ sẽ gặp những khó khăn nhất định trong việc điều trị nội trú tại BV.

Họ cần sự trợ giúp từ những hệ thống xung quanh như gia đình, nhóm đồng đẳng, nhân viên xã hội, mạnh thường quân, chính sách liên quan,…Bên cạnh đó, người bệnh ĐTĐ muốn làm tốt chức năng của mình thì không thể xa rời các cá nhân, tập thể và tổ chức khác trong xã hội. Người bệnh ĐTĐ khi vấn đề liên quan đến việc điều trị nội trú tại BV không những khó khăn của riêng bản thân họ mà còn ảnh hưởng đến gia đình, cộng đồng và xã hội. Trong khi, gia đình, xã hội cũng có thể tác động để trợ giúp người bệnh ĐTĐ vượt qua khó khăn. Vì thế, cần tiến hành những can thiệp cần thiết để hỗ trợ người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú tại BV.

Nhân viên xã hội áp dụng lý thuyết hệ thống vào tiến trình CTXH nhóm với người bệnh ĐTĐ, giúp các thành viên hiểu được nhóm là một hệ thống mà trong đó mỗi thành viên là một bộ phận cấu thành. Theo Parson, nhóm là hệ thống xã hội với những thành viên lệ thuộc hỗ tương, cố gắng duy trì trật tự và sự cân bằng như một thể thống nhất. Nhóm có 4 nhiệm vụ chính: (1) Hội nhập – đảm bảo rằng các nhóm viên hoà hợp với nhau; (2) Thích nghi – đảm bảo rằng nhóm thay đổi để ứng phó với nhu cầu đòi hỏi của môi trường; (3) Duy trì – đảm bảo rằng nhóm xác định và duy trì được mục đích cơ bản, bản sắc, và phương cách của nó; (4) Đạt mục tiêu – đảm bảo rằng nhóm theo đuổi và hoàn thành trách nhiệm. Nhóm phải hoàn tất 4 công việc này để duy trì được sự quân bình, đây là công việc dành cho cộng tác viên và nhóm viên của nhóm (Nguyễn Ngọc Lâm, 2006).

Để giải quyết được vấn đề của nhóm, các thành viên trong nhóm cần phải tương tác qua lại với nhau. Nhóm sẽ tạo ra sức ép mãnh liệt lên trên hành vi cá nhân của từng thành viên nhóm. Đồng thời, nhóm người bệnh ĐTĐ cần tương tác với các hệ thống khác nhau trong môi trường. Ngoài ra, nhân viên CTXH cần nhận 16 thức rõ ràng bản thân nhân viên CTXH cũng là một hệ thống.

Vì thế khi tiến hành hỗ trợ cho nhóm người bệnh ĐTĐ, nhân viên CTXH không chỉ phát huy vai trò của mình mà cần phải làm việc với những hệ thống khác để huy động các nguồn lực khác nhau trong giúp cho nhóm và người bệnh ĐTĐ. Nhân viên CTXH cần tạo tương tác hai chiều với nhóm và các thành viên tham gia vào nhóm để đưa ra những đánh giá cho nhóm viên liên quan đến sự thay đổi cũng như nhận thấy được cách thức hoạt động của nhóm. Từ đó, nhân viên CTXH cùng với nhóm thực hiện rút kinh nghiệm trong từng buổi sinh hoạt nhóm để điều chỉnh trong lần tiếp theo nhằm đạt được mục đích của nhóm là giải quyết vấn đề mà người bệnh ĐTĐ đang gặp phải khi điều trị nội trú tại BV. Lý thuyết nhận thức – hành vi Lý thuyết nhận thức – hành vi là một trong những lý thuyết cơ bản của CTXH.

Thuyết nhận thức – hành vi cho rằng: Chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải tác nhân kích thích (ngoại cảnh) quyết định phản ứng. Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn là vì chúng ta có suy nghĩ không phù hợp. Để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn đó chúng ta cần thay đổi chính những suy nghĩ không phù hợp. Nhận thức được hình thành và phát triển dựa trên những trải nghiệm, học tập giáo dục, các giá trị và niềm tin của cá nhân người đó.

Theo thuyết nhận thức hành vi, phần lớn các tình huống thì nhận thức là yếu tố quyết định hành vi. Vì vậy, nếu nhân viên xã hội muốn thay đổi những hành vi sai lệch thì cần tìm hiểu và tác động trước tiên tới nhận thức của thân chủ, giáo dục và chỉnh sửa những nhận thức sai lệch để từ đó có được hành vi chuẩn mực như mong đợi. Từ đó ta thấy rằng, con người hoàn toàn có khả năng học tập các hành vi mới để thỏa mãn các nhu cầu trong quá trình phát triển của cá nhân, hoặc để thay thế các hành vi đang có mà chưa phù hợp (Dana Castro, 2015). Nhận thức là sự hiểu biết cá nhân về sự vật.

Thuyết nhận thức chủ trương mỗi cá nhân có một suy nghĩ và hiểu biết riêng về sự vật, cách thu nhận và diễn giải các thông tin, đánh giá các kinh nghiệm, cách phán đoán và quyết định cách ứng xử. Tất cả những khái niệm này được Piaget gọi là cấu trúc nhận thức. Cấu trúc nhận thức là cách người ta suy diễn sự vật, phân tích 17 các thông tin, tạo ra sự hiểu biết về sự vật, ảnh hưởng đến cảm xúc và cách ứng xử. Nói cách khác, cảm xúc và cách ứng xử của con người là sản phẩm của cấu trúc nhận thức khi đánh giá các thông tin đến từ thế giới xung quanh cá nhân (nhận thức quyết định cảm xúc và hành vi).

Cấu trúc nhận thức được hình thành và phát triển bằng học hỏi qua kinh nghiệm sống của bản thân và qua sự quan sát, học hỏi từ ngoại cảnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề Luận văn thạc sĩ công tác xã hội công tác xã hội nhóm với người bệnh đái tháo đường điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp của tác giả Nguyễn Hoàng Phong, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Đỗ Hạnh Nga, tập trung vào việc áp dụng công tác xã hội nhóm để hỗ trợ người bệnh đái tháo đường trong quá trình điều trị nội trú. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình sức khỏe của bệnh nhân mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ y tế thông qua sự can thiệp của công tác xã hội. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về vai trò của công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe, cũng như những phương pháp hỗ trợ hiệu quả cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý và cải thiện dịch vụ y tế, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về công tác xã hội và quản lý trong lĩnh vực y tế, từ đó nâng cao kiến thức và khả năng ứng dụng trong thực tiễn.