Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và thông tin chung về bệnh tay-chân-miệng 1. Khái niệm về bệnh tay chân miệng Bệnh tay chân miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây truyền theo đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi với đặc trưng là sốt nhẹ kèm phát ban điển hình ở da, có hoặc không có loét miệng.
Thông thường, phát ban điển hình dạng sẩn mụn nước ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân, hoặc cả lòng bàn tay, bàn chân. Trong một số trường hợp, đặc biệt là ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, chỉ biểu hiện phát ban dát sần không có mụn nước ở mông, đầu gối khuỷu tay (1,2). Hầu hết các ca bệnh đều diễn biến nhẹ, tuy nhiên một số trường hợp có diển tiến bệnh nặng có thể dẫn đến tử vong, thường gặp là các biến chứng về thần kinh và tim mạch như viêm não, màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp (1,2,6). Bệnh đã lưu hành ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam.
Tại nước ta, bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả nước, số mắc thường tăng từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 (1,2). Cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra vắc xin phòng bệnh TCM và cũng chưa có thuốc điều trị bệnh (1,6). Biện pháp vệ sinh cá nhân và thường xuyên rửa tay bằng xà phòng với nước sạch được coi là liều thuốc phòng bệnh hiệu quả được các nhà khoa học chứng minh và chuyên gia của WHO, Bộ Y tế khuyến cáo (1,2,6). Tác nhân gây bệnh Bệnh TCM do các virus đường ruột Coxsackies, Echo là tác nhân gây nên cho người bao gồm chủng virus Enterovirus 71 (EV71) và Coxsackies virus (CA16).
Theo các chuyên gia A16 ít gây biến chứng thần kinh và có thể tự hết trong vài ngày, còn EV 71 là loại nguy hiểm dễ gây các biến chứng thần kinh và tim mạch khiến trẻ tử vong (1,2). Tại Việt Nam Enterovirus 71 (EV71) và Coxsackies A16 là hai tác nhân chủ yếu (1). Đường lây truyền bệnh tay chân miệng Bệnh tay chân miệng lây truyền từ người sang người qua đường tiêu hoá: nước uống, bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi rút từ phân hoặc dịch nốt phỏng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người - người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt (1,7,23,24,26).
Giai đoạn lây lan mạnh nhất là tuần đầu tiên bị bệnh (1,2,7). Một số trường hợp bệnh nhân đã hết triệu chứng bệnh nhưng vẫn có khả năng lây bệnh. Quá trình đào thải virus qua phân kéo dài từ 3 đến 5 tuần và cá biệt một số trường hợp có thể lên đến 12 tuần sau khi nhiễm virus. Virus có khả năng tồn tại lâu trong môi trường bên ngoài cơ thể ở nhiệt độ phòng nên khả năng tiếp xúc với virus từ môi trường là sẽ nhiễm bệnh là rất cao (10,23,25).
Đặc điểm bệnh tay chân miệng Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi rút gây bệnh nhưng không phải tất cả những người nhiễm vi rút đều có biểu hiện bệnh. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dưới 3 tuổi. Người lớn ít bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây (1,2). Tại Hồng Kông, theo“nghiên cứu của PinWlqang, WilliamB et và cộng sự”(năm 2016), đối tượng mắc bệnh TCM chủ yếu ở nhóm trẻ em dưới 5 tuổi, tỷ lệ gặp cao cao nhất ở nhóm trẻ từ 0-3 tuổi (12).
Theo nghiên cứu của Ngô Thị Hoa, Phạm Thị Minh Khoa (2015) tại Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Trung ương Huế”, cho thấy có 95,54% trẻ em dưới 5 tuổi bị mắc bệnh TCM (17). Nghiên cứu của Lê Thị Lan Hương năm 2018, nghiên cứu của Vi Ngọc Linh và cộng sự nghiên cứu của Nguyễn Tuyết Xương đều cho thấy lứa tuổi mắc bệnh TCM chủ yếu từ 1-5 tuổi (18,21,27). Các nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt giữ tỷ lệ mắc bệnh TCM của trẻ em trai và gái (tỷ lệ mắc ở trẻ em trai cao hơn ở trẻ gái). Nghiên cứu về dịch tễ học ở Malaysia, thấy tỉ lệ nam/nữ là 1,3/1 (7); Tỉ lệ nam/nữ ở Trung Quốc từ 2008 đến 2009 là 1,56 / 1; Tỉ lệ nam /nữ ở Singapore từ năm 2000 đến năm 2007 là 1,3-1,7/ 1 6 (12,28).
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy bệnh TCM xảy ra nhiều ở các tỉnh phía Nam hơn các tỉnh miền Bắc và tỷ lệ nam (61,43%), ở trẻ em nữ 38,57% (21,26,29–32). Theo nghiên cứu của Ngô Thị Hoa, Phạm Thị Minh Khoa (2015) cho thấy tỷ lệ mắc ở trẻ nam/nữ là 1,59 (ở bé trai 61,8%, bé gái 38,9%), nhóm trẻ dưới 2 tuổi có tỉ lệ mắc cao nhất (17). Tỉ lệ mắc của trẻ nam/trẻ nữ ở nghiên cứu của Vi Ngọc Linh (2020) là 1,9 trong đó nhóm trẻ dưới 3 tuổi là đối tượng mắc bệnh nhiều nhất (18). Bệnh TCM xảy ra lẻ tẻ quanh năm và có xu hướng gia tăng theo mùa, thường mùa hè và mùa thu (từ tháng 3 - 5 và từ tháng 9 - 12) (1,2).
Tại Nhật Bản, dẫn theo nghiên cứu của Takechi và cộng sự tại Nhật Bản cho thấy số ca bệnh nhập viện cao hơn trong những tháng mùa hè (33). Tại Malaysia và Thái lan nghiên cứu về “kiến thức, biện pháp phòng bệnh, đặc điểm dịch tễ học của bệnh TCM” cũng cho tỷ lệ bệnh TCM mắc tăng cao vào mùa hè và mùa thu (7,24). Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuyết Xương và cộng sự (2017) thì số mắc TCM tăng cao vào tháng 9-12 hàng năm (21). Nghiên cứu của Vi Ngọc Linh và cộng sự (2020), cho thấy dịch bệnh TCM mắc cao vào tháng 7-10 hàng năm nhưng cao nhất vào tháng 9 (18).
Chẩn đoán bệnh Chẩn đoán ca lâm sàng: Dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học. - Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trongcùng một thời gian. - Lâm sàng: Phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông, kèm sốt hoặc không. Chẩn đoán xác định: Xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh (1,2).
Một số biện pháp phòng, chống bệnh tay chân miệng Bệnh TCM có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong. Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh, tuy nhiên biện pháp vệ sinh chặt chẽ có thể hạ thấp nguy cơ nhiễm bệnh (1,2,35). Các biện pháp có tác dụng là thường xuyên rửa tay với xà phòng, vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống, vệ 7 sinh môi trường sạch sẽ, đặc biệt là tại hộ gia đình, tại các cơ sở y tế và tại nhà trẻ, mẫu giáo (1,35,36). Để chủ động phòng bệnh TCM, Bộ Y tế khuyến cáo người dân và cộng đồng cần thực hiện 6 biện pháp sau (1,14,34): 1.
Rửa tay thường xuyên với xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt là trước khi chế biến thức ăn, trước khi cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh 2. Vệ sinh, thay tã và vệ sinh cho trẻ. Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống: ăn chín, uống chín, vật dụng ăn uống phải bảo đảm được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng, đảm bảo sử dụng nước sạch hàng ngày, không mớm thức ăn cho trẻ, không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi, không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, thìa, bát, dĩa, đồ chơi chưa được khử trùng. Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc chất tẩy rửa thông thường.
Không cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh. Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân và chất thải của người bệnh được thu gomvà đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh. Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh, cần đưa trẻ đi khám hoặc thông báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất. Tình hình mắc bệnh tay chân miệng trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình mắc bệnh tay-chân-miệng trên thế giới Bệnh TCM lần đầu tiên được Robinson và cộng sự phát hiện ra trong vụ dịch tại Toronto (Canada) năm 1957 (10). Tại Birmingham-Anh năm 1959 đã bùng phát một vụ dịch, dựa vào các đặc điểm lâm sàng, bệnh sau đó đã được các nhà khoa học đặt tên Tay Chân Miệng (7). Năm 1969 tại California đã phát hiện ca bệnh đầu tiên nhiễm EV71, trong những năm tiếp theo EV71 cũng được phát hiện tại Hoa Kỳ, Úc, Thụy Điển, Nhật (6,8,9). Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh TCM là Coxsackie virus A16, Entero virus 71 và là nguyên nhân phổ biến đứng hàng thứ 2 gây bệnh TCM trên người (5,6,8,9,35).
Vào những năm 1985, 1997 và 1998, bệnh TCM được 8 phát hiện tại Campuchia, Ấn Độ, Hồng Kông, Malaysia, Singapore. Năm 2000, 2001, 2003, 2008, bệnh TCM được phát hiện tại Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và Phần Lan [54], [83], [88], (4,6,8,9,33,35,36). Theo WHO, trong những thập niên qua nhiều vụ dịch TCM đã xảy ra và có xu hướng tăng nhanh tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (5–7,24,37).“”” Nhật Bản là một trong những nước ghi nhận sự xuất hiện của bệnh TCM rất sớm, đa số các vụ dịch đều do EV71 gây ra và những năm sau thường cao hơn năm trước, vụ dịch năm 1973 ghi nhận 3.365 ca mắc và năm 2003 có 172.659 ca mắc, trong đó có khoảng 90% trẻ dưới 5 tuổi.056 ca mắc, năm 2015 ghi nhận 381.581 ca mắc; năm 2018 ghi nhận 69.041 trường hợp, trong đó tuần 31 ghi nhận 5.389 và và 32 ghi nhận 4.096 trường hợp TCM được báo cáo. Điều này phù hợp với xu hướng mùa vụ của cùng kỳ năm 2014 và 2016, nhưng ít trường hợp hơn so với các năm 2013, 2015 và 2017 (6,8,36).
Tại khu vực Đông Nam Á cũng ghi nhận nhiều vụ dịch và được thông báo như ở Thái Lan, năm 2012 đã ghi nhận 12.