Đặt vấn đề Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease – COPD) là cụm từ chỉ nhóm bệnh lý hô hấp đặc trƣng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn. Sự cản trở này thƣờng tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thƣờng của phổi với các hạt bụi hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc lá, thuốc lào đóng vai trò hàng đầu. Đây là nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Chi phí điều trị tốn kém, gây hậu quả tàn phế nặng nề và thực sự trở thành gánh nặng của gia đình và xã hội[21],[41],[51].
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngày càng gia tăng và có tỷ lệ tử vong cao. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đến năm 2020 số ngƣời mắc COPD tăng lên 3-4 lần và là căn bệnh gây tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới. Theo WHO, tử vong do COPD ƣớc tính tăng khoảng 160% vào năm 2030. COPD là một bệnh còn gặp phổ biến ở cộng đồng với tỷ lệ 2,2% dân số trên 15 tuổi và 4,2% trong nhóm trên 40 tuổi.
Bệnh có xu hƣớng tăng theo tuổi và liên quan đến hút thuốc lá, thuốc lào và sử dụng nhiên liệu đốt hữu cơ. COPD gây ảnh hƣởng lớn tới sức khỏe và chất lƣợng cuộc sống con ngƣời, làm tăng gánh nặng hệ thống chăm sóc sức khỏe của toàn xã hội[8]. Tại Việt Nam, trong nghiên cứu dịch tễ học COPD ở Việt Nam năm 2010 nhận thấy: Tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cƣ từ 40 tuổi trở lên là 4,2%[32]. Theo Hoàng Thị Lâm và Nguyễn Văn Tƣờng nghiên cứu về tỷ lệ mắc COPD ở Hà Nội (năm 2010) cho thấy tỷ lệ COPD ở những ngƣời từ 23 đến 72 tuổi trong nghiên cứu là 7,1% trong đó nam giới chiếm 10,9%, nữ giới là 3,9%.
10% dân số hơn 40 tuổi mắc COPD. Hơn một nửa số bệnh nhân là COPD giai đoạn I. Bệnh tăng dần theo tuổi và có mối liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá[9]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Thọ và cộng sự (năm 2015) tại 2 xã của thành phố Hải Phòng, ngƣời dân trên 40 tuổi có tỷ lệ mắc chung của hai xã là 5,9%, nguy cơ mắc bệnh ở nam giới cao gấp 2,45 lần nữ giới (95%CI:1,93-3,12).
Có 92,3% số bệnh nhân mới đƣợc phát hiện[26]. Có thể thấy số ngƣời mắc COPD không đƣợc phát hiện là rất cao. Việt 2 Nam là một trong 15 nƣớc có số ngƣời sử dụng thuốc lá cao nhất thế giới (khoảng 16 triệu ngƣời)[20]. Theo giới chuyên môn, do bệnh nhân COPD thƣờng đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh trong giai đoạn muộn, khi tình trạng tắc nghẽn đã nặng nên việc điều trị thƣờng khó khăn, tốn kém và tỷ lệ tử vong cao.
Hiện nay chƣa thể chữa khỏi hoàn toàn COPD nhƣng việc điều trị sớm, tuân thủ hƣớng dẫn của thầy thuốc có thể làm giảm triệu chứng, làm chậm quá trình tổn thƣơng ở phổi, cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh[5]. Xã Liên Trung thuộc huyện Đan Phƣợng có diện tích 3,25 km2 với dân số là 8050 ngƣời, 2038 hộ gia đình. Tỷ lệ ngƣời dân mắc COPD ở đây là 86 ngƣời, tất cả đều là những đối tƣợng trên 40 tuổi (tỷ lệ mắc COPD chiếm 4% dân số trên 40 tuổi tại xã). Ngƣời dân ở đây chủ yếu làm việc trong các xƣởng gỗ thƣờng xuyên phải tiếp xúc với khói bụi và có thói quen hút thuốc lá, thuốc lào trong quá trình làm việc tại xƣởng, chính vì vậy kể cả phụ nữ không hút thuốc thì họ cũng tiếp xúc với khói thuốc do đó nguy cơ mắc COPD cao.
Họ cũng thƣờng tận dụng các mảnh gỗ vụn, mùn cƣa để đun nấu nên nguy cơ mắc bệnh càng cao, đặc biệt là ở những đối tƣợng trên 40 tuổi. Việc ngƣời dân trên 40 tuổi có kiến thức tốt về bệnh để từ đó có các hành vi đúng để phòng bệnh là cần thiết. Tại đây chƣa có nghiên cứu nào về kiến thức của ngƣời dân trên 40 tuổi về bệnh COPD cũng nhƣ thực hành phòng chống COPD. Để tìm hiểu nhận thức của ngƣời dân trên 40 tuổi về bệnh và đƣa ra những khuyến nghị hoặc những chƣơng trình can thiệp thích hợp, tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng tránh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và một số yếu tố liên quan của người dân trên 40 tuổi tại xã Liên Trung, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội năm 2020”.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mô tả kiến thức, thực hành phòng tránh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của ngƣời dân trên 40 tuổi tại xã Liên Trung, huyện Đan Phƣợng, thành phố Hà Nội năm 2020. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng tránh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính của ngƣời dân trên 40 tuổi tại xã Liên Trung, huyện Đan Phƣợng, thành phố Hà Nội năm 2020. Tổng quan tài liệu 3.
Định nghĩa Theo GOLD 2015 (Chƣơng trình khởi động toàn cầu về phòng chống Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính – Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease): Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý hô hấp mạn tính đƣợc đặc trƣng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không phục hồi hoàn toàn. Sự cản trở không khí này thƣờng tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thƣờng của phổi với các phần tử nhỏ hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc lá, thuốc lào đóng vai trò hàng đầu[21],[41]. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh hô hấp mạn tính có thể dự phòng và điều trị đƣợc[21]. Đặc điểm bệnh sinh của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là quá trình viêm nhiễm thƣờng xuyên toàn bộ đƣờng dẫn khí và phá hủy nhu mô (khí phế thũng).
Hít phải khói bụi và các chất độc, hút thuốc có thể gây ra tình trạng viêm cũng nhƣ phá hủy cấu trúc phế quản và phổi. Viêm mạn tính gây ra thay đổi cấu trúc và thu hẹp đƣờng dẫn khí nhỏ. Sự phá hủy nhu mô phổi, cũng bởi các quá trình viêm, dẫn đến mất các liên kết phế nang với đƣờng dẫn khí nhỏ và làm giảm độ co giãn của phổi; lần lƣợt những thay đổi này làm giảm khả năng của đƣờng thở vẫn mở khi thở ra. Giới hạn luồng khí đƣợc đo tốt nhất bằng phép đo phế dung, vì đây là xét nghiệm tái tạo rộng rãi nhất có sẵn của chức năng phổi[40].
Các đặc điểm về bệnh 3. Yếu tố nguy cơ[1]: Hút thuốc Là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Khoảng 15-20% những ngƣời hút thuốc có triệu chứng lâm sàng của COPD và có khoảng 80-90% các bệnh nhân COPD có hút thuốc. Trẻ em trong gia đình có ngƣời hút thuốc bị các bệnh đƣờng hô hấp với tỷ lệ cao hơn trẻ em trong gia đình không có ngƣời hút thuốc.
5 Yếu tố môi trường - Ô nhiễm môi trƣờng: tiếp xúc nhiều với bụi và hóa chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói), ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà (khói bếp do đun củi, rơm, than…). - Nhiễm trùng đƣờng hô hấp: nhiễm trùng đƣờng hô hấp ở trẻ em dƣới 8 tuổi gây tổn thƣơng lớp tế bào biểu mô đƣờng hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi. Nhiễm virus, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có nguy cơ làm tăng tính phản ứng phế quản, làm cho bệnh phát triển. Yếu tố cá thể - Tăng tính phản ứng của phế quản: là yếu tố nguy cơ phát triển COPD.
Tăng tính phản ứng phế quản gặp với tỷ lệ 8-14% ở ngƣời bình thƣờng. - Thiếu α1 – antitrypsin: là yếu tố di truyền đƣợc xác định chắc chắn gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. - Tuổi: tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn ở ngƣời già. Chẩn đoán[1],[14],[21]: Khai thác kỹ tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây bệnh, thăm khám lâm sàng để tìm các dấu hiệu định hƣớng chẩn đoán: - Bệnh nhân tuổi thƣờng trên 40.
- Tiền sử: hút thuốc lá, thuốc lào (bao gồm cả hút thuốc chủ động và thụ động). Ô nhiễm môi trƣờng trong nhà, ngoài nhà. Nghề nghiệp: khói bếp than, bếp củi, bếp rơm rạ, hơi khí độc hóa chất, bụi công nghiệp. Nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn.
Tăng tính phản ứng đƣờng thở. - Ho, khạc đờm kéo dài. Ho dai dẳng hoặc gián đoạn từng đợt (ho kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và trong 2 năm liên tiếp trở lên. - Khó thở: tiến triển nặng dần theo thời gian, lúc đầu là khó thở khi gắng sức, sau khó thở cả khi nghỉ ngơi và khó thở liên tục.
- Các triệu chứng ho khạc đờm, khó thở dai dẳng và tiến triển nặng dần theo thời gian, thƣờng là ho khạc đờm xuất hiện trƣớc sau đó mới xuất hiện thêm khó thở, khi khó thở mà bệnh nhân cảm nhận đƣợc lúc đó bệnh đã ở giai đoạn nặng. 6 Khám lâm sàng: Đo chức năng thông khí: bằng máy đo phế dung kế - Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ nặng của COPD. - Biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn với thuốc giãn phế quản (400 g salbutamol hoặc 80g ipratropium khí dung hoặc phun hít với buồng, đệm): chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70%; FEV1 không tăng hoặc tăng dƣới 12% (<200ml) sau test phục hồi phế quản.) - Dựa vào chỉ số FEV1 đế đánh giá mức độ tắc nghẽn của bệnh nhân. Triệu chứng: Phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ: - Khó thở - Hút thuốc lá, thuốc lào - Ho mạn tính - Ô nhiễm môi trƣờng trong nhà, ngoài nhà - Khạc đờm - Tiếp xúc khói, khí, bụi nghề nghiệp Đo chức năng thông khí để chẩn đoán xác định FEV1/FVC < 70%, sau test phục hồi phế quản Sơ đồ 1: Lƣu đồ chẩn đoán COPD theo GOLD 2018 Xquang phổi.
Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: dấu hiệu khí phế thũng. Điện tâm đồ: ở giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của tăng áp động mạch phổi và suy tim phải: sóng P cao (>2,5mm) nhọn đối xứng (P phế), trục phải (>1100), dày thất phải (R/S ở V6 <1). Đánh giá mức độ tắc nghẽn đƣờng thở Bảng 3.1: Mức độ tắc nghẽn đƣờng thở theo GOLD 2018[21],[27],[40]. Phân loại Mức độ Giá trị FEV1 sau test giãn phế quản GOLD 1 Nhẹ FEV1 ≥80% trị số lý thuyết GOLD 2 Trung bình 50% ≤ FEV1< 80% trị số lý thuyết GOLD 3 Nặng 30% ≤ FEV1< 50% trị số lý thuyết GOLD 4 Rất nặng FEV1< 30% trị số lý thuyết 3.