CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh dại Bệnh Dại là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút Dại gây ra, bệnh lây truyền từ động vật sang người qua vết cắn, vết thương, vết cào, liếm của động vật (thường là chó, mèo). Cho đến nay bệnh Dại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, người bị bệnh Dại gần như tử vong 100% (6, 8). Dấu hiệu và triệu chứng và các thể của bệnh dại Lúc đầu người bệnh có cảm giác đau đầu, bồn chồn, thổn thức, la hét, chán nản vô cớ, sợ hãi, sốt, khó chịu và những thay đổi cảm giác dị thường tại vết thương nơi bị súc vật cắn.
Bệnh tiến triển đến liệt hoặc bị liệt.Các cơ nuốt của thực quản bị co thắt khi uống nước, giai đoạn sau có thể gây co thắt ở cổ và họng khi nhìn thấy hình ảnh nước nên người bệnh rất sợ nước, người bệnh mê sảng và co giật. Bệnh thường kéo dài từ 2 – 6 ngày rồi chết do liệt cơ hô hấp. Thời kỳ ủ bệnh: được tính từ khi bị chó (hoặc động vật mắc bệnh dại) cắn, liếm lên vùng da bị tổn thương đến khi phát bệnh, đây là khoảng thời gian quý báu để cứu sống người bệnh. Dấu hiệu của thời kỳ này gần như không có, nếu thời gian ủ bệnh ngắn thì dấu hiệu duy nhất là vết cắn, vết xước trên da.Vì vậy, người bị động vật cắn phải đi khám và tiêm vắc-xin phòng bệnh dại ngay sau khi bị cắn là việc làm quan trọng nhất.
Thời kỳ tiền triệu (khởi phát): là các biểu hiện ban đầu của bệnh dại ở người trước khi phát bệnh, bệnh nhân có biểu hiện lo lắng, thay đổi tính tình, có thể có cảm giác ngứa, đau ở nơi bị cắn. Lưu ý rằng đến lúc này, đa phần bệnh nhân đã quên việc bị chó (hoặc động vật khác) cắn. Thời kỳ toàn phát: bệnh dại thường có 2 thể bệnh cơ bản là thể hung dữ và thể liệt. Triệu chứng của bệnh dại ở người thể hung dữ hoặc co cứng: bệnh nhân sẽ biểu hiện một tình trạng kích thích tâm thần vận động, bệnh nhân trở nên hung tợn, điên khùng, gây gổ, đập phá lung tung và nhanh chóng tiến tới hôn mê và tử vong.Bệnh nhân bị co cứng, run rẩy tứ chi, co giật, co thắt họng và thanh khí quản gây triệu chứng sợ nước, có cảm giác khát không dám uống, chỉ nhìn thấy hoặc 5 nghe thấy tiếng nước chảy cũng gây tăng co thắt họng và rất đau.
Tình trạng co thắt này tăng lên mỗi khi có kích thích dù rất nhỏ như: gió thổi, quạt điện, mùi vị thức ăn, ánh sáng. Bệnh nhân có nét mặt luôn căng thẳng, hoảng hốt, mắt sáng và đỏ, tai thính, có thể có tình trạng kích thích bộ phận sinh dục, cương cứng dương vật ở đàn ông. Bệnh nhân bắt đầu sốt tăng dần, vã mồ hôi, tăng tiết đờm dãi, rối loạn tim mạch và hô hấp, ảo giác. Các triệu chứng này tiến triển nặng dần và tử vong sau 3 - 5 ngày do ngừng tim, ngừng thở.
Triệu chứng của bệnh dại ở người thể liệt: hay gặp ở bệnh nhân bị chó dại cắn đã tiêm vắc xin nhưng tiêm phòng khá muộn, virus đã vào đến não gây bệnh. Bệnh nhân thường không có triệu chứng sợ nước, sợ gió.Ban đầu có thể thấy đau nhiều vùng cột sống, sau đó xuất hiện hội chứng liệt kiểu Landry (đầu tiên liệt chi dưới, sau đó rối loạn cơ vòng, rồi liệt chi trên). Khi tổn thương lan tới hành não, bệnh nhân sẽ xuất hiện liệt thần kinh sọ, ngừng thở và ngừng tim, tử vong. Diễn biến của bệnh khoảng 4-10 ngày.
Tác nhân gây bệnh và đường lây truyền của bệnh dại Vi rút dại thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus, có vật liệu di truyền là ARN,vỏ ngoài là lipid. Vi rút dại có sức đề kháng yếu, dễ bị bất hoạt bởi nhiệt độ; dễ bị phá hủy bởi các chất hòa tan lipid (xà phòng, ether, chloroform, acetone); rất nhạy cảm với tia cực tím và bị bất hoạt nhanh chóng trong dung dịch cồn, cồn iốt (8) Bệnh dại lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách (hoặc qua màng niêm mạc còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ương. Khi đến thần kinh trung ương, vi rút sinh sản rất nhanh rồi lại theo dây thần kinh ra tuyến nước bọt. Tại thời điểm này, thần kinh chưa bị tổn thương đáng kể vì thế nhìn bề ngoài con vật vẫn bình thường nhưng nước bọt đã có vi rút dại.
Sau đó, vi rút dại hủy hoại dần các tế bào thần kinh làm xuất hiện các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh dại. Một khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện thì hầu hết bệnh nhân sẽ tử vong(8). 6 Ngoài ra vi rút dại còn có thể lây truyền từ người sang người qua cấy ghép mô, phủ tạng và vết cắn hoặc tiếp xúc với chất tiết của bệnh nhân bị dại hoặc hiếm gặp hơn như lây truyền qua niêm mạc do tiếp xúc hoặc hít phải không khí giọt nhỏ chứa vi rút dại trong hang dơi hoặc tai nạn ở phòng thí nghiệm(8). Nguồn bệnh, thời gian ủ bệnh và thời kỳ lây truyền Ổ chứa vi rút dại trong thiên nhiên là động vật có vú máu nóng như chó sói, chó rừng, chó nhà, mèo, chồn, cầy, cáo và động vật có vú khác.
Ở châu Mỹ, châu Âu còn thấy có ổ chứa ở loài dơi.Ở Việt Nam, chó là nguồn truyền bệnh dại chủ yếu. Thời gian ủ bệnh ở người thông thường là từ 1 - 3 tháng sau phơi nhiễm, hiếm khi có trường hợp thời gian ủ bệnh ngắn dưới 9 ngày hoặc dài tới một vài năm. Thời gian ủ bệnh phụ thuộc vào tình trạng nặng nhẹ của vết cắn, vị trí của vết cắn có liên quan đến nơi có nhiều dây thần kinh, khoảng cách từ vết cắn đến não, số lượng vi rút xâm nhập. Vết cắn càng nặng và gần thần kinh trung ương thì thời gian ủ bệnh càng ngắn.
Thời kỳ lây truyền ở chó nhà là từ 3-7 ngày (tối đa là 10 ngày) trước khi chó có triệu chứng dại và trong suốt thời kỳ phát bệnh. Ở người, vi rút đào thải qua các chất tiết (nước bọt, nước mắt, nước tiểu .) của người bệnh trong suốt thời gian phát bệnh. Tuy nhiên, khả năng lây truyền từ người sang người là vô cùng hiếm gặp (8) 1. Các biện pháp dự phòng bệnh dại trên người * Nâng cao nhận thức phòng chống bệnh dại Tuyên truyền tới từng hộ gia đình về tính chất nguy hiểm của bệnh dại, các biện pháp phòng, chống bệnh dại trước và sau phơi nhiễm cho người và động vật để người dân chủ động phòng bệnh cho bản thân và cộng đồng.
- Tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân nuôi, buôn bán, giết mổ, vận chuyển kinh doanh chó, mèo trong từng thôn, xóm, xã, phường thực hiện các biện pháp quản lý và phòng bệnh trên đàn chó nuôi theo hướng dẫn của cán bộ thú y, ký cam kết thực hiện 5 không: “không nuôi chó mèo không tiêm phòng dại”, “không nuôi chó, mèo chưa khai báo với chính quyền địa phương”, “không nuôi chó thả rông”, “không để chó cắn người”, “không nuôi chó, mèo gây ô nhiễm môi trường”. 7 - Tuyên truyền cho những người có nguy cơ cao phơi nhiễm với vi rút dại thực hiện tiêm phòng trước phơi nhiễm và những người bị phơi nhiễm với động vật bị bệnh dại hoặc nghi mắc bệnh dại thực hiện điều trị dự phòng bằng vắc xin, huyết thanh kháng dại theo hướng dẫn của cán bộ y tế(8). * Dự phòng trước phơi nhiễm - Tiêm vắc xin dự phòng bệnh dại cho những người có nguy cơ cao phơi nhiễm với vi rút dại như cán bộ thú y, nhân viên phòng thí nghiệm làm việc với vi rút dại, người làm nghề giết mổ chó, người dân và những người đi du lịch đến các khu vực lưu hành bệnh dại. * Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm Điều trị dự phòng nên được tiến hành càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễm, bao gồm: rửa vết thương, tiêm vắc xin phòng dại và sử dụng huyết thanh kháng dại nếu có chỉ định.
* Xử lý vết thương - Xối rửa kỹ tất cả các vết cắn/cào trong 15 phút với nước và xà phòng, hoặc nước sạch, sau đó sát khuẩn bằng cồn 45°-70° hoặc cồn i ốt để làm giảm thiểu lượng vi rút dại tại vết cắn. Có thể sử dụng các chất khử trùng thông thường như rượu, cồn, xà phòng các loại, dầu gội, dầu tắm để rửa vết thương ngay sau khi bị cắn. - Không làm dập nát thêm vết thương hoặc làm tổn thương rộng hơn, tránh khâu kín ngay vết thương. Trường hợp bắt buộc phải khâu thì nên trì hoãn khâu vết thương sau vài giờ đến 3 ngày và nên khâu ngắt quãng/bỏ mũi sau khi đã tiêm phòng bế huyết thanh kháng dại vào tất cả các vết thương.
- Tùy trường hợp cụ thể có thể sử dụng kháng sinh và tiêm phòng uốn ván. * Nguyên tắc điều trị dự phòng Chỉ định dùng vắc xin và huyết thanh kháng dại trong điều trị dự phòng bệnh dại tùy theo tình trạng động vật, hoàn cảnh bị cắn hoặc tiếp xúc với nguồn bệnh, vị trí bị cắn, số lượng, tình trạng vết cắn và tình hình bệnh dại trong vùng. Chỉ định điều trị dự phòng bệnh dại sau phơi nhiễm đối với những người chưa được tiêm phòng bệnh dại theo bảng tóm tắt dưới đây: 8 Bảng 1.1: Tóm tắt chỉ định điều trị dự phòng bệnh dại(8): Tình trạng động vật Phân độ vết Tình trạng vết (Kể cả động vật đã được tiêm phòng Điều trị thương thương dại dự phòng Tại thời điểm cắn Trong vòng 10 người ngày Sờ, cho động Không Độ I vật ăn, liếm điều trị trên da lành Tiêm vắc xin dại ngay, Bình thường dừng tiêm sau Vết xước, vết Bình thường ngày thứ cào, liếm trên 10 Độ II da bị tổn Tiêm vắc Ốm, có xuất thương, niêm xin dại hiện triệu chứng mạc ngay và dại, mất tích đủ liều Có triệu chúng Tiêm vắc dại, hoặc không xin dại theo dõi được con ngay và vật đủ liều Vết cắn/cào Tiêm vắc chảy máu ở xin dại Độ III vùng xa thần Bình thường Bình thường ngay, kinh trung dừng ương tiêm sau 9 ngày thứ 10 Tiêm vắc Ốm, có xuất xin dại hiện triệu chứng ngay và dại, mất tích đủ liều Tiêm huyết Có triệu chứng thanh dại, hoặc không kháng dại theo dõi được con và vắc vật xin dại ngay 1.