ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, mù lòa là một vấn đề y tế cộng đồng quan trọng được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nhiều tổ chức quốc tế khác đặc biệt quan tâm. Mù lòa không những làm giảm chất lượng cuộc sống, giảm khả năng lao động mà còn tăng nguy cơ gặp các tai nạn thương tích, chấn thương, tăng gánh nặng cho cộng đồng. Bệnh đục thể thủy tinh (TTT) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa có thể phòng tránh được trên thế giới, đặc biệt ở những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở những người từ 50 tuổi trở lên, nếu không được phát hiện và chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời để ngăn ngừa tiến triển thì có thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn [3, 10, 49].
Năm 2010, WHO ước tính trên toàn cầu có 285 triệu người bị suy giảm thị lực và mù, trong đó 39 triệu người mù và khoảng 246 triệu người có tầm nhìn thấp. Có tới 65% người có thị lực thấp và 82% người mù thuộc nhóm trên 50 tuổi. Nhóm tuổi này chiếm khoảng 20% dân số thế giới, trong đó bệnh đục TTT là nguyên nhân của 51% các trường hợp mù lòa trên thế giới [57]. WHO ước tính số người mù do đục TTT sẽ tăng lên 76 triệu người vào năm 2020 [37].
Tại Việt Nam, số người mù lòa hàng năm có xu hướng tăng cao, lượng tồn đọng nhiều hơn, tỷ lệ mắc mới cũng tăng, trong khi các bệnh mắt ngày càng phức tạp, đây là thách thức, là gánh nặng với xã hội, với cộng đồng trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở mỗi địa phương, ở từng hộ gia đình và khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày của những người đang cam chịu cảnh mù lòa hiện hữu. Theo kết quả đánh giá nhanh mù lòa có thể phòng tránh được (RAAB 2015), số lượng người trên 50 tuổi với thị lực kém cả 2 mắt và mù lòa do đục TTT tăng từ 1,570 triệu người trong năm 2007 lên tới 2,099 triệu người trong năm 2015, trong đó tỷ lệ đục TTT cũng tăng từ 66,1% (2007) lên 74% (2015). Với sự gia tăng này, thì gánh nặng bệnh tật liên quan tới đục TTT là vấn đề đáng quan tâm trong cộng đồng [49]. Trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tầm quan trọng của việc dự phòng và phát hiện sớm bệnh, nên đã có thêm nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu về kiến thức, thực hành của người dân từ đó đưa ra nhiều giải pháp truyền thông, 2 can thiệp nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về phòng bệnh đục TTT cho người dân [31, 42, 46, 47, 52].
Tuy nhiên tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu mới chỉ chủ yếu tiến hành các nghiên cứu về lâm sàng, điều trị bệnh. Công tác truyền thông, thay đổi kiến thức và hành vi phòng bệnh bị xem nhẹ hoặc bỏ qua. Hải Dương cũng không là một ngoại lệ khi tiếp cận điều trị phẫu thuật ngày càng phổ biến và dễ dàng trong kiến thức, hành vi phòng bệnh và điều trị sớm mới chỉ ở mức sơ đẳng. Theo thống kê tại Hải Dương năm 2013 số người mù do đục TTT khoảng 9000 người, ước tính mỗi năm trên địa bàn tỉnh phát sinh thêm 2000 người do đục TTT [8].Theo thống kê năm 2015, thị xã Chí Linh có tỷ lệ người bị đục TTT cao nhất trong số 12 huyện/thành phố của Tỉnh Hải Dương, trên địa bàn có tổng số 38.399 người từ 50 tuổi trở lên trong độ tuổi nguy cơ mắcđục TTT.
Chương trình khám đục TTT triển khai trên địa bàn thị xã có 9.200 người cao tuổi chiếm ~ 24% đến khám và chỉ có 243 người tuân thủ mổ đục TTT, số còn lại mắc đục TTT nhưng trì hoãn không đi vì nhiều lý do, ngoài ra còn tồn đọng hơn 70% những người trong độ tuổi nguy cơ nhưng không đi khám hoặc không nhận được thông tin khám mắt[7, 9]. Như vậy đục TTT dẫn đến mù lòa đang là mối lo ngại lớn và là gánh nặng bệnh tật đối với cộng đồng.Việc nâng cao hiểu biết của cộng đồng về phòng, phát hiện sớm những dâú hiệu của bệnh, tránh những suy nghĩa sai lệch về bệnh là hết sức cần thiết.Nhưng hiểu biết của người dân ra sao, ý thức của họ trong việc phòng chống cũng như một số thói quen, lối sống của họ liên quan đến bệnh như thế nào tới nay chưa có nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh đục thể thủy tinh của ngƣời dân từ 50 tuổi tại thị xã Chí Linh, tỉnhHải Dƣơng năm 2017”. Đây là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện tại thị xã Chí Linh do vậy sẽ là nguồn thông tin hữu ích góp phần xây dựng các kế hoạch can thiệp về phòng bệnh đục TTT, đồng thời cũng có thể là tiền đề cho các nghiên cứu can thiệp sâu hơn về vấn đề này.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thực hành về phòng đục TTT của người dân từ 50 tuổi trở lên tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương năm 2017. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh đục TTT của người dân từ 50 tuổi trở lên tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương năm 2017. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm trong nghiên cứu 1.Định nghĩa về mù lòa và thị lực thấp Năm 1975, WHO đã đưa ra bảng phân loại mức độ tổn thương thị lực và mù lòa để áp dụng cho tất cả các nước như sau: Bảng 1.1: Phân loại mức độ giảm thị lực của Tổ chức Y tế thế giới [6] Thị lực của mắt tốt nhất với kính điều chỉnh Mức độ Xếp loại giảm thị lực Tối đa dưới Tối thiểu bằng hoặc hơn 6/6 6/18 Thị lực 0 20/20 20/70 “Bình thường” 10/10 (1,0) 3/10 (0,3) Thị lực thấp (hoặc 6/18 6/60 1 tổn thương thị lực 20/70 20/200 nhẹ) 3/10 (0,3) 1/10 (0,1) Thị lực thấp 6/60 3/60 (ĐNT xa 3 mét) (hoặc tổn thương 20/200 20/400 2 thị lực trầm trọng) 1/10 (0,1) 1/20 (0,05) 3/60 1/60 (Đếm ngón tay xa 3 mét) (Đếm ngón tay xa 1 mét) 3 Mù độ I 20/400 5/300 (20/1200) 1/20 (0,05) 1/50 (0,02) 1/60 (Đếm ngón tay xa 1 mét) Phân biệt được ánh sáng 4 Mù độ II 5/300(20/1200) (ST+) 1/50 (0,02) 5 Mù độ III Không thấy ánh sáng ST (-) Có nhiều cách để thử thị lực.Hệ thống ghi thị lực thường được sử dụng nhất trên thế giới là ký hiệu phân số Snellen. Ký hiệu này là một phân số để thể hiện kết quả thị lực khám: trong đó tử số là khoảng cách cần thiết để người được thử có thể đọc được mẫu thử và mẫu số là khoảng cách mà mắt bình thường đọc được. Ở Việt Nam, đánh giá thị lực theo ký hiệu số thập phân, thường dùng loại bảng Landolt đo thị lực vòng hở rất thích hợp dùng để đo thị lực cho cả người lớn và trẻ em, mức độ tổn thương theo quy định của WHO. Thị lực thấp là thị lực của mắt tốt nhất với kính điều 5 chỉnh nhỏ hơn 3/10.
Thị lực của mắt tốt nhất với điều chỉnh kính ĐNT dưới 3 mét gọi là người bị mù.2: Bảng thử thị lực Snellen [20] Chữ ký hiệu Snellen 6m 20 ft Ký hiệu thập phân 6/6 20/20 1,0 6/9 20/30 0,67 6/12 20/40 0,5 6/18 20/60 0,33 6/24 20/80 0,25 6/36 20/120 0,17 6/60 20/200 0,1 ( Nguồn: S.Mayer(2005), Khóa đào tạo tật khúc xạ) Loại bảng này thường được sử dụng để khám chữa bệnh và trong các nghiên cứu trên thế giới. Khái niệm và đặc điểm bệnh học đục thể thủy tinh 1. Khái niệm về đục thể thủy tinh Đục thể thủy tinh là tình trạng mất tính trong suốt và trở lên mờ đục, làm cho các tia sáng đi vào mắt bị chặn lại không tới võng mạc nên mắt không nhìn rõ [10].1: Sự khác nhau giữa thể thủy tinh thƣờng và thể thủy tinh đục 6 HÌnh ảnh 1.2: Diễn biến mắt bị đục thể thủy tinh 1. Các giai đoạn phát triển của đục TTT ngƣời già: [2, 10, 17] - Đục TTT bắt đầu: TTT mờ đục ít làm ảnh hưởng tới thị lực và chỉ làm mờ nhẹ một phần hoặc toàn bộ ánh hồng đồng tử.
- Đục TTT tiến triển: là giai đoạn tiếp theo làm giảm thị lực xuống còn ĐNT và làm mờ rõ rệt toàn bộ ánh hồng đồng tử. - Đục TTT chín: thị lực giảm xuống còn bóng bàn tay hoặc ST (+), mất hoàn toàn ánh hồng đồng tử. - Đục TTT quá chín: TTT bị đục co rúm lại và chất nhân bị hóa lỏng, nhân trưởng thành rơi xuống dưới trong túi bao, bao thể thủy tinh bị nhăn nheo. Thị lực ở giai đoạn này bị giảm xuống bóng bàn tay hoặc kém hơn nữa, mất hoàn toàn ánh hồng đồng tử.
Nếu trì hoãn mổ lấy TTT đục ở giai đoạn này có thể xảy ra các biến chứng gây mù vĩnh viễn như viêm màng bồ đào, glocom thứ phát. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây đục TTT 1.Tiếp xúc với nhiều tia cực tím và ánh sáng mặt trời Tổn thương một số tổ chức trong mắt do tia sáng mặt trời đã được biết đến từ lâu. Tuy nhiên vai trò của ánh sáng mặt trời trong bệnh lý đục TTT vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu. Người ta nhận thấy rằng cư dân khu vực tiếp xúc nhiều ánh sáng mặt trời có nguy cơ đục TTT nhiều hơn, tổng thời gian tiếp xúc và tần số tiếp xúc làm ảnh hưởng tới mức độ đục TTT dưới bao sau và vùng vỏ [10].
Một nghiên cứu của tác giả Neale RE và cộng sự (2003) chỉ ra mối liên quan giữa việc thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và đục TTT vỏ não, những người thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời có nguy cơ đục TTT cao gấp 5,9 lần những người có biện pháp bảo vệ mắt trước ánh sáng mặt trời [59].Nghiên cứu của tác giả Sheila K. West và cộng sự 7 (1998) chỉ ra mối liên hệ giữa tia cực tím và đục TTT, những người thường xuyên tiếp xúc với tia cực tím có nguy cơ đục TTT cao gấp 1,10 lần những người ít tiếp xúc với tia cực tím [66].Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về nguy cơ phơi nhiễm tia cực tím với bệnh đục TTT, thế nhưng đây là nguy cơ thực sự đối với người dân các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới, nông dân và người làm việc ngoài trời theo các nghiên cứu tại Ấn Độ, Châu Phi, Địa Trung Hải.