Nghiên cứu nồng độ homocystein máu và hiệu quả điều trị ở người cao tuổi tăng huyết áp

Nghiên cứu nồng độ homocystein máu và hiệu quả điều trị tăng homocystein ở người cao tuổi tăng huyết áp, cung cấp thông tin hữu ích cho y học.

Trường đại học

Đại học Y Dược Huế

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

189
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm chung

3.2. Nồng độ homocystein, vitamin B12, acid folic máu

3.3. Mối liên quan giữa nồng độ homocystein máu và tỉ lệ tăng nồng độ homocystein máu với một số đặc điểm nhân trắc, lâm sàng và sinh hóa máu

3.4. Hiệu quả điều trị tăng homocystein máu bằng phối hợp thuốc acid folic, vitamin B6 và vitamin B12

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm tăng huyết áp ở người cao tuổi

Tăng huyết áp (THA) là một trong những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, THA là nguyên nhân chính gây ra nhiều bệnh lý tim mạch. Tỉ lệ THA ở người cao tuổi ngày càng gia tăng, với ước tính hơn 60% người từ 60 tuổi trở lên mắc bệnh này. Tại Việt Nam, tỉ lệ THA ở người cao tuổi dao động từ 40,5% đến 52,5%. Các yếu tố nguy cơ như homocystein cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của THA. Nghiên cứu cho thấy, nồng độ homocystein cao có thể làm tăng huyết áp, gây ra các biến chứng tim mạch nghiêm trọng. Việc kiểm soát nồng độ homocystein trong máu có thể giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở người cao tuổi.

1.1. Dịch tễ học

Tăng huyết áp là một trong những bệnh lý phổ biến nhất ở người cao tuổi. Theo các nghiên cứu dịch tễ học, tỉ lệ THA ở người lớn chiếm khoảng 30-45%, và tỉ lệ này tăng dần theo tuổi tác. Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ THA ở người cao tuổi tại Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này, với nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ THA ở người cao tuổi có thể lên đến 52,5%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời nhằm kiểm soát huyết áp và các yếu tố nguy cơ liên quan, đặc biệt là nồng độ homocystein trong máu.

II. Tổng quan về homocystein

Homocystein là một amino acid có vai trò quan trọng trong chuyển hóa. Nồng độ homocystein trong máu cao được xem là yếu tố nguy cơ độc lập đối với bệnh tim mạch. Nghiên cứu cho thấy, mỗi khi nồng độ homocystein tăng thêm 5µmol/L, huyết áp tâm thu có thể tăng lên 0,7mmHg ở nam và 1,2mmHg ở nữ. Điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa nồng độ homocystein và tăng huyết áp. Việc kiểm soát nồng độ homocystein có thể giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở người cao tuổi. Các vitamin như B6, B12 và acid folic có thể giúp giảm nồng độ homocystein trong máu, từ đó cải thiện tình trạng sức khỏe của người cao tuổi.

2.1. Vai trò của vitamin B6 B12 và acid folic

Vitamin B6, B12 và acid folic đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa homocystein. Thiếu hụt các vitamin này có thể dẫn đến tăng nồng độ homocystein trong máu, từ đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch. Nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung các vitamin này có thể giúp giảm nồng độ homocystein và cải thiện tình trạng sức khỏe của người cao tuổi. Các nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng, việc điều trị bằng acid folic, vitamin B6 và B12 có thể giúp giảm nồng độ homocystein và cải thiện huyết áp ở người cao tuổi.

III. Điều trị tăng homocystein máu ở bệnh nhân THA

Điều trị tăng nồng độ homocystein máu ở người cao tuổi tăng huyết áp có thể thực hiện bằng cách sử dụng các loại thuốc như acid folic, vitamin B6 và vitamin B12. Nghiên cứu cho thấy, việc điều trị này không chỉ giúp giảm nồng độ homocystein mà còn có thể cải thiện huyết áp. Các thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rằng, việc điều trị bằng phối hợp các vitamin này có thể giúp giảm huyết áp và ngăn ngừa các biến cố tim mạch. Điều này cho thấy, việc kiểm soát nồng độ homocystein là một phần quan trọng trong việc quản lý sức khỏe tim mạch ở người cao tuổi.

3.1. Hiệu quả điều trị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc điều trị tăng nồng độ homocystein bằng acid folic, vitamin B6 và vitamin B12 có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm huyết áp. Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu cho thấy sự cải thiện đáng kể về nồng độ homocystein sau khi điều trị. Điều này cho thấy, việc bổ sung các vitamin này không chỉ giúp giảm nồng độ homocystein mà còn có thể cải thiện tình trạng huyết áp, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch ở người cao tuổi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Tỉ lệ ngƣời cao tuổi trên thế giới ngày càng gia tăng [128], tỉ lệ ngƣời cao tuổi ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hƣớng đó. Theo kết quả điều tra dân số của Tổng cục thống kê (2008), tỉ lệ ngƣời cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) ở Việt Nam chiếm 9,9%, dự báo tăng đột biến đạt 15,41% vào năm 2025 và 28,45% vào năm 2030 [28],[26]. Quá trình lão hóa làm tăng nguy cơ bệnh tật và tàn phế, do đó làm gia tăng gánh nặng cho toàn xã hội.

Theo Trung tâm thống kê y tế quốc gia Hoa Kỳ (2006), tăng huyết áp là bệnh phổ biến nhất ở những ngƣời trên 65 tuổi, chiếm 44,6% ở nam và 51,1% ở nữ, bệnh tim mạch cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu với tỉ lệ 30,4% [28]. Các nghiên cứu dịch tễ học tăng huyết áp ở ngƣời cao tuổi tại Việt Nam gần đây cho thấy, tỉ lệ tăng huyết áp tại Hà Nội (2014) là 39% [13], tại Thừa Thiên Huế (2013) là 35,6% [1], tại Cần Thơ (2012) là 49,89% [11]. Ngƣời cao tuổi tăng huyết áp có thể có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch cùng tồn tại, bên cạnh những yếu tố nguy cơ truyền thống còn có những yếu tố nguy cơ tim mạch mới nhƣ: C-reactive protein, homocystein, fibrinogen, lipoprotein (a),…[53],[61],[ 140]. Mức tăng của homocystein trong máu có liên quan đến các bệnh lý tim mạch nhƣ: nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, tăng huyết áp, bệnh mạch vành và xơ vữa động mạch [122].

Homocystein trong máu cao còn làm tăng các tác dụng có hại của các yếu tố nguy cơ tim mạch nhƣ: tăng huyết áp, hút thuốc lá, rối loạn chuyển hóa lipid và lipoprotein cũng nhƣ thúc đẩy quá trình viêm [54],[140]. Cứ tăng 5µmol/L homocystein ở nam sẽ làm tăng 0,7mmHg huyết áp tâm thu và 0,5mmHg huyết áp tâm trƣơng, ở nữ mức tăng này cao hơn, tƣơng ứng là 1,2 và 0,7mmHg [89]. Tăng nồng độ homocystein trong máu luan an 2 cũng dẫn đến những rối loạn chuyển hóa, gây nên tổn thƣơng các tế bào nội mô, rối loạn chức năng thành mạch và gây tăng huyết áp [41],[140],[144]. Nồng độ homocystein trong máu cao đã từng đƣợc xem nhƣ là một yếu tố nguy cơ độc lập của tử vong do bệnh tim mạch cũng nhƣ không do bệnh tim mạch.

Khi nồng độ homocystein máu tăng thêm mỗi 5μmol/l sẽ làm gia tăng tỉ lệ tử vong chung 49%, tử vong do bệnh tim mạch 50% [64]. Để làm giảm nồng độ homocystein trong máu, nhiều tác giả cũng đã chứng minh có thể sử dụng những loại thuốc đơn giản và rẻ tiền nhƣ: acid folic (folat), pyridoxin hydroclorid (vitamin B6) và cyanocobalamin (vitamin B12) [47],[94]. Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về sinh bệnh học chứng minh vai trò của tăng nồng độ homocystein trong máu đối với bệnh lý tim mạch cũng nhƣ tăng huyết áp [45],[107],[142], tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi về hiệu quả của điều trị giảm nồng độ homocystein máu đối với dự phòng các biến cố tim mạch. Một số thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng với cỡ mẫu lớn cho thấy điều trị giảm nồng độ homocystein máu không làm giảm các biến cố tim mạch [58],[95].

Tuy vậy cũng có những nghiên cứu cho thấy tăng nồng độ homocystein máu gây tăng huyết áp cũng nhƣ các biến cố tim mạch và điều trị giảm nồng độ homocystein máu làm giảm đƣợc huyết áp và các biến cố tim mạch trong dự phòng tiên phát [129],[138]. Nghiên cứu nồng độ homocystein trong máu ở ngƣời cao tuổi tăng huyết áp nhằm khảo sát mối liên quan giữa nồng độ homocystein máu với một số đặc điểm nhân trắc, lâm sàng, sinh hóa máu … đồng thời đánh giá hiệu quả điều trị tăng homocystein máu bằng phối hợp các thuốc: acid folic, vitamin B 6 và vitamin B12 nhằm góp phần cung cấp thêm những chứng cứ khoa học trong y học lâm sàng ở ngƣời cao tuổi tăng huyết áp là rất cần thiết. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu nồng độ homocystein máu và hiệu quả điều trị tăng homocystein ở ngƣời cao tuổi tăng huyết áp” luan an 3 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.

Xác định nồng độ homocystein, nồng độ acid folic và nồng độ vitamin B12 trong máu. Xác định mối tƣơng quan giữa nồng độ homocystein trong máu với một số đặc điểm nhân trắc, lâm sàng, sinh hóa máu. Đánh giá hiệu quả điều trị tăng homocystein bằng phối hợp ba thuốc acid folic (folat), pyridoxin hydroclorid (vitamin B6) và cyanocobalamin (vitamin B12). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3.

Ngƣời cao tuổi sẵn có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm, đồng thời cũng là đối tƣợng có nguy cơ thiếu hụt vitamin B6, B12, acid folic và tăng homocystein máu. Trong khi nồng độ homocystein trong máu tăng cao đƣợc xem nhƣ là một yếu tố nguy cơ tim mạch độc lập góp phần thúc đẩy các biến cố tim mạch ở ngƣời cao tuổi, đặc biệt là ngƣời cao tuổi tăng huyết áp. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh có mối tƣơng quan giữa nồng độ homocystein máu và tăng huyết áp. Nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần bổ sung thêm những chứng cứ khoa học về mối liên quan giữa bệnh lý tăng huyết áp và nồng độ homocystein trong máu, đồng thời đánh giá đƣợc hiệu quả điều trị tăng homocystein máu ở ngƣời cao tuổi tăng huyết áp.

Xét nghiệm định lƣợng nồng độ homocystein máu là một xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang có độ chính xác cao, dễ thực hiện trên những máy xét nghiệm miễn dịch thông thƣờng, cho ra kết quả nhanh chóng, giúp xác định đƣợc nồng độ homocystein máu trên từng bệnh nhân để điều trị kịp thời. Khi xác định nồng độ homocystein máu tăng cao, có thể tiến hành điều trị ngay cho bệnh nhân bằng những loại thuốc dễ mua, rẻ tiền nhƣng làm giảm đƣợc nồng độ homocystein máu. luan an 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. ĐẶC ĐIỂM TĂNG HUYẾT ÁP Ở NGƢỜI CAO TUỔI 1.

Dịch tễ học Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp (THA) là nguyên nhân của 62% bệnh mạch máu não và 49% bệnh tim thiếu máu cục bộ. Theo Hiệp hội tim mạch châu Âu (ESC) năm 2018, tỉ lệ THA toàn cầu ƣớc tính 1,13 tỉ ngƣời. Tỉ lệ THA ở ngƣời lớn chiếm khoảng 30 - 45% với khoảng 24% ở nam và 20% ở nữ trên toàn cầu. Tỉ lệ THA tăng dần theo tuổi, chiếm hơn 60% ở ngƣời từ 60 tuổi trở lên.

Ƣớc tính đến năm 2025, số ngƣời THA trên toàn cầu sẽ tăng thêm 15–20%, đạt gần 1,5 tỉ ngƣời [136]. Nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ học THA trên thế giới vài thập niên trở lại đây cho thấy tỉ lệ mắc bệnh THA đang có chiều hƣớng gia tăng ở cả Đông và Tây bán cầu. Ở Hoa Kỳ, tỉ lệ THA ở ngƣời lớn chiếm khoảng 29,3% [102], Canada 21,3% [87], Hi Lạp 40,2% ở nam và 38,9% ở nữ [106], Trung Quốc 37,8% [59], Malaysia 27,8% [110] và Thái Lan 22% [105]. Tỉ lệ THA ở nguời cao tuổi cũng khá cao ở nhiều nƣớc trên thế giới: ở Thái Lan 51,1% (2008) [105], Bangladesh 65% (2001) [73], Ấn Độ 63,63% (2003) [68], Hoa Kỳ 66,3 - 90,8% (2007 - 2008) [102], Brazil (2019) 74,9% [123].

Tại Việt Nam, nghiên cứu dịch tễ học THA của Đào Duy An (2005) ở Tây Nguyên, Phạm Thắng (2004), Dƣơng Vĩnh Linh (2004) ở miền Trung và Nguyễn Văn Hoàng (2009) ở Long An cho thấy tỉ lệ THA ở ngƣời cao tuổi dao động từ 40,5% đến 52,5% [12],[15]. Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tỉ lệ THA ở ngƣời cao tuổi cũng khá cao nhƣ: Lê Văn Hợi (2016) tại Hà Nội là 39% [13], Hoàng Đức Thuận Anh (2013) tại Thừa Thiên Huế là 35,6%[1], Nguyễn Thái Hoàng (2012) tại Cần Thơ là 49,89% [11]. Sinh bệnh học Ở ngƣời cao tuổi, tình trạng rối loạn chức năng tế bào nội mô, tái cấu trúc và xơ hóa mạch máu làm giảm tính đàn hồi của thành động mạch, hậu quả là làm gia tăng vận tốc sóng mạch, dẫn đến tăng đỉnh tâm thu thứ 2 và tăng mạnh huyết áp tâm thu [5],[14],[28]. THA xảy ra khi có tăng cung lƣợng tim, tăng sức cản ngoại biên, hoặc tăng cả hai.

Cung lƣợng tim liên quan đến tiền tải và sức co bóp tim, do đó nó liên quan đến thể tích dịch, lƣợng natri ăn vào và hoạt động của các cảm thụ adrenergic. Sức cản ngoại vi phụ thuộc vào sự co mạch và phì đại cấu trúc mạch máu, hai yếu tố này bị chi phối bởi nhiều cơ chế bao gồm: hệ giao cảm, hệ Renin-Angiotensin-Aldosteron (RAA), các peptid vận mạch, di truyền và stress (sơ đồ 1. Giảm số Sự biến Các yếu tố có Ăn nhiều lƣợng đơn Stress đổi về di Béo phì nguồn gốc từ natri vị thận truyền nội mạc Sự ứ natri Giảm diện Tăng hoạt Tăng Biến đổi Tăng của thận tích lọc bề tính giao renin- màng tế insulin mặt cảm angiotensin bào máu Tăng thể Co thắt tích dịch tĩnh mạch Tăng tiền tải Tăng tính co thắt Co thắt chức năng Phì đại cấu trúc HUYẾT ÁP = CUNG LƢỢNG TIM x SỨC CẢN NGOẠI BIÊN Tăng huyết áp = Tăng cung lƣợng tim và/hoặc Tăng sức cản ngoại biên Tự điều hòa Sơ đồ 1. Một số yếu tố liên quan đến kiểm soát HA làm ảnh hưởng đến phương trình cơ bản: HA = Cung lượng tim x Sức cản ngoại biên “Nguồn: N M.

Sự cứng động mạch trung tâm Thành phần động lực học của huyết áp (HA) là sự tổng hợp của 3 yếu tố chính, bao gồm: sự co bóp tim, trở kháng động mạch chủ và sự tăng lên luan an 6 của áp lực tâm thu trễ đƣợc gây ra bởi sóng mạch dội ngƣợc từ tuần hoàn ngoại biên (hình 1. Các động mạch lớn trung tâm, điển hình là động mạch chủ ngực và các nhánh gần của nó, thực hiện chức năng giảm sốc bằng cách kéo dài kỳ tâm thu, dự trữ một ít thể tích của mỗi nhát bóp và sự nảy lại do đàn hồi để đẩy phần dƣ thể tích mỗi nhát bóp ra ngoại biên trong kỳ tâm trƣơng. Khi các động mạch trung tâm trở nên cứng hơn, sẽ xảy ra hiện tƣợng [28]: - Huyết áp tâm thu (HATT) tăng lên do có nhiều máu hơn đƣợc phân phối cho ngoại biên trong kỳ tâm thu và; - Huyết áp tâm trƣơng (HATTr) giảm xuống do có ít thể tích nhát bóp dƣ phân phối cho ngoại biên trong kỳ tâm trƣơng. Điểm chia tâm thu-tâm trƣơng 160 HATT Áp lực Áp Dội lại- khuếch đại tâm thu lực tăng mạch AP LỰC ĐỘNG MẠCH CHỦ (mmHg) thêm trễ 120 Tâm thu tâm thất - Áp lực trở kháng động động mạch chủ mạch trung bình 80 HATTr Trở kháng hệ thống 40 0 TÂM TÂM THU TRƢƠNG SỰ TẢI TIM TOÀN BỘ Hình 1.

Các thành phần của HA và sự tải của tim “Nguồn: L.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu nồng độ homocystein máu và hiệu quả điều trị ở người cao tuổi tăng huyết áp" của tác giả Nguyễn Minh Tâm, dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Thị Bích Thuận tại Đại học Y Dược Huế, tập trung vào việc phân tích nồng độ homocystein trong máu và tác động của nó đến hiệu quả điều trị cho người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa nồng độ homocystein và tình trạng sức khỏe của người cao tuổi, mà còn mở ra hướng đi mới trong việc cải thiện phương pháp điều trị cho nhóm đối tượng này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị bệnh, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, nơi nghiên cứu về các chỉ số tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp, và Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2, cung cấp thông tin về sức khỏe thận ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến người cao tuổi và bệnh lý nội khoa.