Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2

Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2, cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe thận.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

179
13
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

1.2. Dịch tễ học tăng glucose máu

1.3. Chẩn đoán tiền đái tháo đường

1.4. Chẩn đoán đái tháo đường

1.5. Bệnh thận đái tháo đường

1.6. Dịch tễ học bệnh thận đái tháo đường

1.7. Tổn thương mô bệnh học của bệnh thận đái tháo đường

1.8. Diễn tiến của bệnh thận đái tháo đường

1.9. Bệnh sinh của bệnh thận đái tháo đường

1.10. Yếu tố nguy cơ của bệnh thận đái tháo đường

1.11. Chẩn đoán lâm sàng bệnh thận đái tháo đường

1.12. Chẩn đoán bệnh thận mạn

1.13. Tổng quan về cystatin C huyết thanh

1.13.1. Lịch sử phát hiện cystatin C huyết thanh

1.13.2. Cấu trúc và biểu lộ cystatin C

1.13.3. Chức năng sinh học của cystatin C

1.13.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ tuần hoàn cystatin C

1.14. Các phương pháp đo lường và ước đoán mức lọc cầu thận trong lâm sàng

1.14.1. Đo lường mức lọc cầu thận

1.14.2. Ước đoán mức lọc cầu thận

1.15. Vai trò của cystatin C huyết thanh ở bệnh nhân tiền đái tháo đường, đái tháo đường típ 2

1.15.1. Vai trò Cystatin C ở đối tượng tiền đái tháo đường

1.15.2. Vai trò của Cystatin C ở bệnh nhân đái tháo đường

1.16. Các nghiên cứu liên quan đề tài

1.16.1. Các nghiên cứu trong nước

1.16.2. Các nghiên cứu ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Nhóm tiền đái tháo đường

2.3. Nhóm đái tháo đường típ 2

2.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp nghiên cứu

2.5.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5.3. Phương tiện nghiên cứu

2.5.4. Các biến số nghiên cứu

2.5.5. Xử lý số liệu

2.5.6. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu

3.2. Nồng độ cystatin C huyết thanh và mức lọc cầu thận ở bệnh nhân tiền ĐTĐ, ĐTĐ típ 2

3.2.1. Nồng độ cystatin C huyết thanh ở các đối tượng nghiên cứu

3.2.2. Nồng độ cystatin C huyết thanh và mức lọc cầu thận ở bệnh nhân ĐTĐ, ĐTĐ típ 2

3.2.3. Tương quan giữa nồng độ cystatin C huyết thanh với mức lọc cầu thận

3.2.4. Mối liên quan giữa nồng độ cystatin C huyết thanh với một số yếu tố nguy cơ bệnh thận ĐTĐ

3.2.5. Liên quan giữa nồng độ cystatin C huyết thanh với một số YTNC bệnh thận ĐTĐ ở các đối tượng nghiên cứu

3.2.6. Liên quan giữa một số YTNC bệnh thận ĐTĐ với nồng độ cystatin C huyết thanh ở bệnh nhân tiền ĐTĐ, ĐTĐ típ 2

3.2.7. Phân tích hồi quy binary logistic các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ cystatin C huyết thanh ở nhóm tiền ĐTĐ, ĐTĐT2

3.2.8. Giá trị của cystatin C huyết thanh trong dự báo bệnh thận đái tháo đường

3.2.9. Giá trị của cystatin C huyết thanh trong dự báo albumin niệu ở nhóm tiền ĐTĐ, ĐTĐ típ 2

3.2.10. Giá trị của cystatin C huyết thanh trong dự báo giảm mức lọc cầu thận ở nhóm tiền ĐTĐ, ĐTĐ típ 2

3.2.11. Phân tích hồi quy binary logistic các yếu tố nguy cơ dự báo bệnh thận đái tháo đường

3.3. Nồng độ cystatin C huyết thanh và mức lọc cầu thận ở các nhóm nghiên cứu

3.3.1. Nồng độ cystatin C huyết thanh ở các đối tượng nghiên cứu

3.3.2. Nồng độ cystatin c huyết thanh và mức lọc cầu thận ở các đối tượng nghiên cứu

3.3.3. Các công thức ước đoán mức lọc cầu thận dựa vào creatinine, cystatin C huyết thanh và xạ hình thận

3.4. Nồng độ cystatin C huyết thanh và một số yếu tố nguy cơ bệnh thận ĐTĐ

3.4.1. Nồng độ Cystatin C huyết thanh theo giới tính ở các nhóm nghiên cứu

3.4.2. Nồng độ cystatin C huyết thanh theo nhóm tuổi ở các đối tượng nghiên cứu

3.4.3. Nồng độ Cystatin C huyết thanh theo chỉ số khối cơ thể, tình trạng béo phì dạng nam

3.4.4. Nồng độ cystatin C theo tình trạng tăng huyết áp ở các nhóm nghiên cứu

3.4.5. Nồng độ cystatinin C huyết thanh và tình trạng kiểm soát glucose, thời gian phát hiện bệnh ở nhóm ĐTĐT2

3.4.6. Nồng độ cystatinin C huyết thanh và tình trạng lipid máu ở nhóm tiền ĐTĐ, ĐTĐT2

3.5. Giá trị của cystatin C huyết thanh trong dự báo bệnh thận đái tháo đường

3.5.1. Giá trị của cystatin C huyết thanh trong dự báo bài xuất albumin niệu

3.5.2. Giá trị của cystatin C huyết thanh trong dự báo giảm mức lọc cầu thận

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC BẢNG

2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ

3. DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2

Tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2 đang trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu, với tỷ lệ mắc bệnh ngày càng gia tăng. Theo dữ liệu từ Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, có khoảng 425 triệu người trưởng thành mắc đái tháo đường trên toàn thế giới, trong đó đái tháo đường típ 2 chiếm hơn 90%. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc đái tháo đường cũng đã tăng lên đáng kể, với 5,42% người trưởng thành được chẩn đoán mắc bệnh. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các nghiên cứu sâu hơn về tình trạng này, đặc biệt là trong việc đánh giá mức lọc cầu thận bằng cystatin C. Việc phát hiện sớm các dấu hiệu tổn thương thận có thể giúp ngăn chặn hoặc làm chậm tiến trình của bệnh thận đái tháo đường.

1.1. Dịch tễ học tăng glucose máu

Đái tháo đường típ 2 là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra các biến chứng nghiêm trọng, bao gồm bệnh thận. Tổn thương thận có thể xuất hiện sớm ngay cả khi chưa có dấu hiệu tăng bài xuất albumin niệu. Cystatin C được xem là một biomarker tiềm năng trong việc phát hiện sớm tổn thương thận, có thể giúp đánh giá chính xác hơn mức lọc cầu thận so với creatinine. Nghiên cứu cho thấy nồng độ cystatin C có thể phản ánh tình trạng rối loạn chức năng thận ở giai đoạn sớm, trước khi có sự thay đổi về nồng độ creatinine hoặc albumin niệu. Điều này chỉ ra rằng cystatin C có thể là một chỉ số quan trọng trong việc phát hiện sớm bệnh thận đái tháo đường.

II. Giá trị của cystatin C trong đánh giá chức năng thận

Nghiên cứu cho thấy cystatin C có thể là một chỉ số đáng tin cậy để ước đoán mức lọc cầu thận (GFR) ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2. Khả năng phát hiện giảm GFR ở giai đoạn sớm của cystatin C vượt trội hơn so với creatinine, giúp các bác sĩ có thể can thiệp kịp thời. Việc sử dụng cystatin C trong lâm sàng có thể giúp phân loại bệnh nhân theo nguy cơ phát triển bệnh thận mạn, từ đó đưa ra các biện pháp điều trị phù hợp. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nồng độ cystatin C có mối liên quan chặt chẽ với các yếu tố nguy cơ như huyết áp, chỉ số khối cơ thể (BMI), và tình trạng lipid máu.

2.1. Mối liên hệ giữa cystatin C và các yếu tố nguy cơ

Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ cystatin C huyết thanh tăng cao ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ như béo phì, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu. Điều này cho thấy rằng cystatin C không chỉ là một biomarker cho tổn thương thận mà còn có thể phản ánh tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Việc theo dõi nồng độ cystatin C có thể giúp xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển bệnh thận, từ đó có những can thiệp kịp thời nhằm làm chậm tiến trình bệnh. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh gia tăng tỷ lệ mắc đái tháo đường và các biến chứng liên quan tại Việt Nam.

III. Ứng dụng thực tiễn của cystatin C trong lâm sàng

Việc ứng dụng xét nghiệm nồng độ cystatin C trong lâm sàng có thể mang lại nhiều lợi ích cho việc phát hiện sớm và quản lý bệnh thận ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cystatin C có thể giúp phân tầng nguy cơ bệnh thận, từ đó hỗ trợ bác sĩ trong việc quyết định các phương pháp điều trị phù hợp. Hơn nữa, việc sử dụng cystatin C có thể giảm thiểu những hạn chế của việc ước đoán mức lọc cầu thận dựa vào creatinine, đặc biệt trong các trường hợp bệnh nhân có tình trạng cơ thể thay đổi hoặc có các yếu tố ảnh hưởng khác. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

3.1. Khuyến nghị trong thực hành lâm sàng

Nghiên cứu khuyến nghị rằng các bác sĩ nên xem xét việc áp dụng xét nghiệm cystatin C huyết thanh một cách thường quy trong việc đánh giá chức năng thận ở bệnh nhân có nguy cơ cao. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tỷ lệ mắc đái tháo đường ngày càng gia tăng, giúp phát hiện sớm tổn thương thận và thực hiện các can thiệp kịp thời để làm chậm tiến trình bệnh. Việc kết hợp sử dụng cystatin C với các chỉ số khác như albumin niệu và creatinine có thể tạo ra một bức tranh toàn diện hơn về tình trạng sức khỏe thận của bệnh nhân.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 1. Dịch tễ học tăng glucose máu Đái tháo đường (ĐTĐ: Đái tháo đường) ngày càng phổ biến trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Trong đó chủ yếu là ĐTĐ típ 2 (ĐTĐT2: Đái tháo đường típ 2) chiếm hơn 90%.

Theo các số liệu của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế 2017 (IDF: International Diabetes Federation), toàn thế giới có khoảng 425 triệu người trưởng thành mắc ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 8,8% dân số. Dự đoán đến năm 2045 sẽ có khoảng 628 triệu người mắc ĐTĐ (9,9%); khoảng 352 triệu người từ độ tuổi 20-79 có tình trạng rối loạn dung nạp glucose, chiếm khoảng 7,3% dân số. Con số này ước đoán vào năm 2045 khoảng 531,6 triệu, chiếm 8,3% [64. Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% đến 2,25%.

Nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ ở người trưởng thành là 5,42%, ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 13,7%. Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%, trong đó tỷ lệ ĐTĐ được chẩn đoán là 31,1%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 69,9% [8. Chẩn đoán tiền đái tháo đường Tiền ĐTĐ là thuật ngữ chung cho giai đoạn trung gian giữa glucose máu bình thường và ĐTĐT2 đã rõ. Tiền ĐTĐ gồm 3 nhóm: rối loạn glucose máu đói (IFG: Impaired Fasting Glucose), rối loạn dung nạp glucose (IGT: Impaired Glucose Tolerance) và hemoglobin glycosyl hóa (HbA1c) trong khoảng 5,7-6,4% (39-46 mmol/mol) [29.

Tiêu chuẩn chẩn đoán tiền ĐTĐ (nhóm nguy cơ cao của ĐTĐT2) theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ 2012 (ADA: American Diabetes Association) khi thỏa mãn một trong 3 tiêu chí sau [29.]: 5  Glucose huyết tương đói: 100-125 mg/dL (5,6-6,9 mmol/L).  Glucose huyết tương 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống với 75g glucose: 140-199 mg/dL (7,8-11,0 mmol/L). Tuy nhiên, theo tổ chức Y tế thế giới (WHO: World Health Organization) và IDF, chẩn đoán IFG khi glucose huyết tương đói từ 110-125 mg/dL (6,1-6,9 mmol/L) [64. Chẩn đoán đái tháo đường ĐTĐ có thể được chẩn đoán dựa vào tiêu chuẩn glucose huyết tương đói, glucose huyết tương 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT: Oral Glucose Tolerance Test) hoặc tiêu chuẩn HbA1c.

Các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo ADA 2012 [29.]: Glucose huyết tương đói ≥ 126 mg/dL (7 mmol/l), nhịn đói ít nhất 8 giờ. Glucose huyết tương 2 giờ sau OGTT với 75g glucose ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/l). Glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/l) kèm các triệu chứng cổ điển của ĐTĐ như tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân. Chẩn đoán ĐTĐ khi thỏa mãn 1 trong 4 tiêu chí trên, nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose máu (tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân) hoặc cơn tăng glucose máu cấp, các xét nghiệm nên được lập lại để xác định chẩn đoán.

Xét nghiệm HbA1c nên sử dụng phương pháp xác định bởi NGSP (National Glycohemoglobin Standardization Program) và được chuẩn hóa theo thử nghiệm DCCT (Diabetes Control and Complications Trial). Không sử dụng tiêu chí này trong trường hợp có bệnh lý kèm theo như thiếu máu, bệnh lý về Hemoglobin, phụ nữ mang thai… [29.] Hội Nội Tiết-Đái tháo đường Việt Nam đồng thuận các tiêu chí chẩn đoán tiền ĐTĐ, ĐTĐ típ 2 của ADA [8. BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Bệnh thận đái tháo đường (DKD: Diabetic Kidney Diseasse) là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, có thể gặp ngay tại thời điểm chẩn đoán 6 ĐTĐT2. Thậm chí ngay cả khi glucose máu được kiểm soát tốt biến chứng bệnh thận mạn và suy thận vẫn có thể xảy ra [107.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng tiền ĐTĐ cũng là nguyên nhân của bệnh thận mạn (CKD: Chronic Kidney Disease). Khoảng 1/3 người trưởng thành ĐTĐ mới được chẩn đoán đã có biểu hiện tổn thương thận. Điều này gợi ý rằng tiến trình tổn thương thận có thể xảy ra trong cả giai đoạn tiền ĐTĐ. Tác động của tình trạng tăng glucose máu mạn lên chức năng thận biểu hiện bởi tình trạng tăng bài tiết albumin niệu và thay đổi mức lọc cầu thận (GFR: Glomerular Filtration Rate).

Tuy vậy, ảnh hưởng của tiền ĐTĐ đến rối loạn chức năng thận vẫn còn nhiều điều chưa rõ [49. Mặc dù đã có nhiều hiểu biết hơn về DKD, tuy nhiên bệnh sinh cũng như can thiệp làm giảm sự tiến triển DKD vẫn còn nhiều điều chưa rõ [25. Dịch tễ học bệnh thận đái tháo đường Khoảng 20-40% bệnh nhân ĐTĐ sẽ dẫn đến DKD. Ở Hoa Kỳ, DKD là nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh thận mạn giai đoạn cuối đòi hỏi phải lọc máu [31.

Tỷ lệ bệnh thận ĐTĐ ở cộng đồng chung không được thống kê ở nhiều nước. Tuy nhiên, tỷ lệ albumin niệu ở bệnh nhân ĐTĐ đã được báo cáo ở một số quốc gia. Ở Hoa Kỳ (2005-2008), người trưởng thành bị ĐTĐ có tỷ lệ DKD ở bất kỳ giai đoạn nào là 34,5%, tỷ lệ albumin niệu là 23,7%, giảm GFR là 17,7% [61. Nghiên cứu DEMAND (Developing Education on Microalbuminuria for Awareness of Renal and Cardiovascular Risk in Diabetes) thực hiện trên 32208 bệnh nhân từ 33 quốc gia về tình hình bệnh thận mạn ở ĐTĐT2, nghiên cứu này phát hiện khoảng 50% bệnh nhân có CKD, khoảng 20% giảm GFR < 60 ml/phút/1,73 m2 và 30-50% tăng bài xuất albumin niệu [94.

Bệnh thận mạn đặc trưng bởi tình trạng albumin niệu và/hoặc sự suy giảm GFR < 60ml/phút/1,73m2. CKD rất thường gặp ở những đối tượng được chẩn đoán ĐTĐ và có thể xảy ra trên đối tượng tiền ĐTĐ [58. Nghiên cứu NHANES (National Health and Nutrition Examination Survey) (1999-2006) đã cho thấy 39,6% những đối tượng được chẩn đoán ĐTĐ bị CKD, trong khi đó nhóm tiền ĐTĐ có tỷ lệ CKD là 17,7%. Tỷ lệ 7 mắc CKD là 10,6% ở những người không có tình trạng tiền ĐTĐ và ĐTĐ.

Mặc dù hơn một nửa những đối tượng tiền ĐTĐ có biến chứng CKD với sự suy giảm GFR, nhưng chỉ khoảng 20% trong đối tượng này có tình trạng albumin niệu vi lượng hoặc đại lượng. Vì vậy, việc đo lường cả albumin niệu và tính toán GFR là điều cần thực hiện để phát hiện CKD ở những người tiền ĐTĐ cũng như ĐTĐ [73. Nghiên cứu khác của J. Echouffo và cộng sự (2016) trên 9 nhóm cộng đồng với tổng cộng 185452 người, chủ yếu là người châu Á da trắng, nguy cơ tương đối mắc bệnh thận mạn trên các đối tượng tiền ĐTĐ là 1,12 (CI 95%; 1,02-1,21) [49.

Dụng Thị Kim Hạnh, Trần Hữu Dàng (2013) nghiên cứu trên 339 bệnh nhân ĐTĐT2, tỷ lệ biến chứng bệnh thận theo bài xuất albumin niệu là 11,2%; giảm GFR < 60 ml/phút là 16,8% [5. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Phát, Hoàng Trung Vinh (2012) trên 299 bệnh nhân ĐTĐT2, tỷ lệ tổn thương thận theo albumin niệu vi lượng là 22,7%; protein niệu là 11,4%; suy thận mạn các giai đoạn là 7,4% [14. Trần Nam Quân (2015), nghiên cứu trên 252 đối tượng tăng glucose máu phát hiện lần đầu cho thấy tỷ lệ albumin niệu ở người tiền ĐTĐ mới phát hiện là 13,5%, ĐTĐT2 là 18,3%. Giảm GFR < 60 ml/phút ở người tiền ĐTĐ mới phát hiện là 2,7%; ĐTĐT2 là 17,3% [16.

Tổn thương mô bệnh học của bệnh thận đái tháo đường Paul Kimmelstiel và Clifford là những người đầu tiên mô tả tổn thương dạng nốt ở cầu thận ở 8 bệnh nhân ĐTĐ trưởng thành vào năm 1936. Năm 1959, Gellman và cộng sự là người đầu tiên đã báo cáo về tổng quan và tương quan giữa lâm sàng và sinh thiết thận ở bệnh thận ĐTĐ (DN: Diabetic Nephropathy). Trước đó, giải phẫu bệnh thận học ở bệnh cầu thận ĐTĐ chỉ được mô tả qua mổ tử thi. Sau đó, Gellman đã đề xuất một sự đánh giá hệ thống rất chi tiết về cầu thận, ống thận, tiểu động mạch, mô kẽ nhưng không phù hợp với áp dụng thực hành [127.

Tiếp theo sau đó Thijs W. Cohen Tervaert và cộng sự đã đưa ra một hệ thống xếp loại các giai đoạn tổn thương thận có thể dễ dàng áp dụng hơn. Những đề xuất này đã được báo cáo tại Ủy ban nghiên cứu của Hiệp hội giải phẫu bệnh 8 học thận năm 2006 tại San Diego, được thảo luận sâu hơn nữa tại Leiden 2008 với một nhóm chuyên gia quốc tế. Phân loại này gồm 4 giai đoạn [127.]: Giai đoạn I, dày lên đơn độc của màng đáy cầu thận, chỉ thay đổi nhẹ, không đặc hiệu trên kính hiển vi quang học.

Màng đáy cầu thận dày khoảng 395 nm ở nữ, 430 ở nam. Giai đoạn này kéo dài khoảng 5 năm sau sự xuất hiện của bệnh và không có các tiêu chuẩn của giai đoạn II, III, IV. Giai đoạn II, giãn gian mạch nhẹ (IIa) hoặc nặng (IIb), mà không có xơ hóa dạng nốt (tổn thương Kimmelstiel-Wilson) hoặc xơ hóa toàn bộ trên 50% các cầu thận. Giai đoạn III, xơ hóa nốt ít nhất một cầu thận với nốt tăng lên trong chất nền gian mạch nhưng không có những tổn thương gặp trong giai đoạn IV.

Giai đoạn IV, xơ hóa cầu thận ĐTĐ tiến triển, xơ hóa toàn bộ trên 50% các cầu thận với các bằng chứng lâm sàng và bệnh học khác phù hợp với bệnh thận ĐTĐ [101. Tổn thương mô bệnh học của cầu thận trong đái tháo đường [127.] 9 - Hình A: thiếu máu nhẹ ở cầu thận, với nhát cắt đôi ở vỏ nang Bowman, không có sự thay đổi rõ ràng ở gian mạch. Hình B: dưới kính hiển vi điện tử độ rộng trung bình của màng đáy cầu thận là 671 nm. Trong hình C, giãn gian mạch không vượt quá diện tích trung bình của lòng mao mạch như với hình D.

- Hình E, F: ở hình F là tổn thương Kimmelstiel-Wilson giai đoạn III, tổn thương trong hình E là không rõ ràng cho tổn thương Kimmelstiel-Wilson, tổn thương này là thuộc giai đoạn IIb. - Hình H: những dấu hiệu của bệnh thận giai đoạn IV bao gồm hyaline hóa cực mạch máu cầu thận và một phần còn lại của tổn thương Kimmelstiel- Wilson ở vị trí đối diện. Hình G: là một ví dụ của xơ hóa cầu thận, nhưng không cho thấy nguyên nhân. Theo cách cổ điển, bệnh thận ĐTĐ điển hình trải qua 5 giai đoạn: tăng lọc và phì đại cầu thận, thay đổi cấu trúc của thận với albumin niệu âm tính, albumin niệu vi lượng với chức năng thận bảo tồn, giai đoạn albumin niệu đại lượng, suy thận tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD: End Stage Renal Disease).

Albumin niệu có khuynh hướng tăng và GFR giảm dần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tựa đề "Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2" của tác giả Đặng Anh Đào, dưới sự hướng dẫn của GS. Trần Hữu Dàng, được thực hiện tại Đại học Huế vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá mức lọc cầu thận bằng cách sử dụng cystatin C, một biomarker quan trọng trong việc xác định chức năng thận, đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao như bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2. Bài viết không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về phương pháp nghiên cứu mà còn làm nổi bật tầm quan trọng của việc theo dõi chức năng thận trong quản lý bệnh đái tháo đường, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về các biện pháp can thiệp sớm nhằm ngăn ngừa biến chứng thận.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến bệnh đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ tim mạch, có thể tham khảo thêm bài viết "Mối liên quan giữa resistin, visfatin và nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2", nghiên cứu về các yếu tố sinh học liên quan đến nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Nồng độ Serp5, RBP4 và IL18 trong huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2", nơi phân tích các chỉ số sinh hóa có liên quan đến tình trạng bệnh lý này.

Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu nồng độ IgA, IgG, IgM huyết tương ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chỉ số miễn dịch có thể liên quan đến tình trạng chức năng thận, giúp mở rộng hiểu biết về các bệnh lý thận khác nhau.

Những liên kết này không chỉ giúp bạn nắm bắt thêm thông tin mà còn mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan đến bệnh đái tháo đường và chức năng thận.