Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo đường týp 2

Luận án tiến sĩ phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo đường týp 2.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Nội tim mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

176
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

1.2. Giải phẫu động mạch chi dưới

1.3. Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính

1.4. Dịch tễ học

1.5. Cơ chế bệnh sinh của bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

1.6. Các yếu tố nguy cơ của BĐMCDMT

1.7. BĐMCDMT và các biến chứng mạch máu

1.8. Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của BĐMCDMT

1.9. Triệu chứng lâm sàng của bệnh động mạch chi dưới mạn tính

1.10. Các phương pháp thăm dò chẩn đoán BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

1.11. Tình hình nghiên cứu về BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

1.11.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.11.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4.3. Tiến hành nghiên cứu

2.4.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.4.5. Các quy trình kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.4.6. Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu

2.4.7. Chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới mạn tính

2.4.8. Phân loại giai đoạn lâm sàng của BĐMCDMT

2.4.9. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường

2.4.10. Tiêu chuẩn chẩn đoán THA

2.4.11. Tiêu chuẩn và phân loại BMI

2.4.12. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Lipid máu

2.4.13. Phân loại và ý nghĩa chỉ số ABI

2.4.14. Siêu âm động mạch chi dưới

2.4.15. Tiêu chuẩn phân loại tổn thương động mạch chi dưới trên hình ảnh chụp động mạch cản quang

2.4.16. Tiêu chuẩn chẩn đoán hẹp động mạch cảnh

2.4.17. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh mạch máu não

2.4.18. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh động mạch vành ổn định

2.4.19. Xử lý số liệu

2.4.20. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, yếu tố nguy cơ và hình ảnh tổn thương động mạch chi dưới của nhóm nghiên cứu

3.2.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu

3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu

3.2.3. Đặc điểm các yếu tố nguy cơ ở nhóm BĐMCDMT có ĐTĐ týp 2

3.2.4. Đặc điểm hình ảnh tổn thương ĐMCD của nhóm nghiên cứu

3.2.5. Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các YTNC với đặc điểm tổn thương động mạch chi dưới trên chụp ĐM cản quang qua da ở bệnh nhân BĐMCDMT có đái tháo đường týp 2

3.2.6. Liên quan giữa đặc điểm LS, CLS, YTNC với hình thái tổn thương ĐM chi dưới theo phân loại TASC II

3.2.7. Liên quan giữa đặc điểm LS, CLS, YTNC với mức độ tổn thương ĐM chi dưới

3.2.8. Liên quan giữa đặc điểm LS, CLS, YTNC với số lượng động mạch tổn thương

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

4.2. Đặc điểm về tuổi và giới

4.3. Đặc điểm BMI

4.4. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, một số YTNC của bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân BĐMCDMT có đái tháo đường týp 2

4.4.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu

4.4.2. Triệu chứng lâm sàng theo phân loại Rutherford

4.4.3. Đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân BĐMCDMT có ĐTĐ týp 2

4.4.4. Một số yếu tố nguy cơ ở nhóm bệnh nhân có ĐTĐ týp 2

4.4.5. Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và YTNC với đặc điểm tổn thương ĐM chi dưới trên DSA ở bệnh nhân BĐMCDMT có ĐTĐ týp 2

4.4.6. Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, YTNC với hình thái tổn thương ĐM chi dưới phân loại theo TASC II ở bệnh nhân BĐMCDMT có ĐTĐ týp 2

4.4.7. Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và YTNC với mức độ tổn thương ĐM chi dưới trên DSA ở bệnh nhân BĐMCDMT có ĐTĐ týp 2

4.4.8. Mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và YTNC với số lượng ĐM chi dưới tổn thương trên DSA ở bệnh nhân BĐMCDMT có ĐTĐ týp 2

5. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Đặc điểm lâm sàng của bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 thường có những đặc điểm lâm sàng rõ rệt. Triệu chứng chính bao gồm đau cách hồi, thường xuất hiện khi bệnh nhân đi bộ và giảm khi nghỉ ngơi. Theo phân loại Rutherford, triệu chứng này có thể được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, từ không triệu chứng đến giai đoạn muộn với loét và hoại tử. Đặc biệt, bệnh nhân đái tháo đường thường có nguy cơ cao hơn về các biến chứng như loét bàn chân và cắt cụt chi. Việc phát hiện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng đau cách hồi chiếm khoảng 30-50% trong số những người mắc BĐMCDMT có đái tháo đường. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc sàng lọc định kỳ để phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

1.1. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 thường rất đa dạng. Đau cách hồi là triệu chứng điển hình, xảy ra khi bệnh nhân đi bộ và giảm khi nghỉ ngơi. Ngoài ra, bệnh nhân có thể gặp phải các triệu chứng khác như tê bì, lạnh chân, và màu sắc da thay đổi. Những triệu chứng này có thể bị che lấp do tổn thương thần kinh ngoại vi, khiến bệnh nhân không nhận thức được tình trạng của mình. Theo một nghiên cứu, khoảng 70% bệnh nhân đái tháo đường có tổn thương thần kinh ngoại vi không có triệu chứng rõ ràng, dẫn đến việc chẩn đoán muộn và tăng nguy cơ biến chứng. Việc theo dõi và đánh giá triệu chứng lâm sàng là rất cần thiết để cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

II. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh động mạch chi dưới

Các yếu tố nguy cơ (yếu tố nguy cơ) của BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 rất đa dạng và phức tạp. Một số yếu tố chính bao gồm tuổi tác, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), tăng huyết áp, và rối loạn lipid máu. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ mắc BĐMCDMT cao gấp 2-4 lần so với những người không mắc bệnh. Đặc biệt, những bệnh nhân có chỉ số HbA1c cao có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Việc kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ này có thể giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân. Các biện pháp can thiệp như thay đổi lối sống, điều trị thuốc và theo dõi định kỳ là rất cần thiết để quản lý hiệu quả tình trạng này.

2.1. Tình trạng sức khỏe tổng quát

Tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ mắc BĐMCDMT. Các bệnh lý đi kèm như tăng huyết áp và rối loạn lipid máu thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, làm tăng nguy cơ tổn thương mạch máu. Nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 60% bệnh nhân đái tháo đường có tăng huyết áp, và gần 50% có rối loạn lipid máu. Việc kiểm soát các yếu tố này thông qua chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục thường xuyên và sử dụng thuốc điều trị là rất quan trọng. Điều này không chỉ giúp giảm nguy cơ mắc BĐMCDMT mà còn cải thiện sức khỏe tổng quát của bệnh nhân.

III. Biến chứng và ảnh hưởng của bệnh động mạch chi dưới

Biến chứng của BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có thể rất nghiêm trọng, bao gồm loét bàn chân, hoại tử và cắt cụt chi. Những biến chứng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Theo một nghiên cứu, tỷ lệ cắt cụt chi ở bệnh nhân đái tháo đường có BĐMCDMT cao gấp 10 lần so với những người không mắc bệnh. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời các biến chứng này là rất quan trọng để giảm thiểu hậu quả nghiêm trọng. Các biện pháp phòng ngừa như chăm sóc bàn chân, kiểm tra định kỳ và giáo dục bệnh nhân về các dấu hiệu cảnh báo là cần thiết để bảo vệ sức khỏe của bệnh nhân.

3.1. Tác động đến chất lượng cuộc sống

Bệnh động mạch chi dưới mạn tính có thể gây ra những tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nhiều bệnh nhân phải đối mặt với đau đớn, khó khăn trong việc di chuyển và giảm khả năng tham gia vào các hoạt động hàng ngày. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân có BĐMCDMT thường có mức độ lo âu và trầm cảm cao hơn, ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe tinh thần. Việc cung cấp hỗ trợ tâm lý và giáo dục bệnh nhân về cách quản lý bệnh là rất quan trọng để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo đường týp 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. Tổng quan về BĐMCDMT ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 1. Giải phẫu động mạch chi dưới Về mặt giải phẫu, chi dưới được phân chia thành hai thành phần gồm đai chi (hay đai chậu) và phần tự do của chi. Hệ thống động mạch chi dưới gồm động mạch chậu (bao gồm động mạch chậu chung, động mạch chậu trong và động mạch chậu ngoài) và động mạch đùi chung (kể cả các nhánh), động mạch khoeo, các động mạch cẳng chân, các cung động mạch bàn chân kèm các động mạch đốt bàn và ngón [13].

Động mạch chậu Động mạch (ĐM) chậu gốc (hay còn gọi là động mạch chậu chung) bắt đầu từ chỗ chia đôi của ĐM chủ bụng ngang mức L4/L5, gồm ĐM chậu gốc trái và ĐM chậu gốc phải. ĐM chậu gốc chia thành ĐM chậu trong và ĐM chậu ngoài. ĐM chậu trong đi xuống chia nhiều ĐM nhỏ và cấp máu cho vùng tiểu khung. ĐM chậu ngoài là ĐM cấp máu chính cho chi dưới.

Khi hẹp, tắc ĐM chậu ngoài sẽ gây thiếu máu cho chi dưới [14]. Động mạch đùi khoeo ĐM chậu ngoài sau khi đi qua dây chằng bẹn thì đổi tên thành ĐM đùi chung, sau đó tách ra 2 nhánh tận là ĐM đùi sâu và ĐM đùi nông. ĐM đùi đi ở mặt trước đùi, dần đi vào trong, sau đó chui qua vòng gân khép rồi đổi tên thành ĐM khoeo. ĐM đùi sâu cung cấp máu cho hầu hết các cơ ở đùi.

ĐM đùi nông cấp máu chính cho các cơ ở vùng cẳng và bàn chân. Động mạch khoeo đi xuống tới bờ dưới cơ khoeo thì chia ra ba nhánh tận là ĐM chày trước, ĐM chày sau và ĐM mác và bảy nhánh bên (cấp máu vùng gối), tạo nhiều nhánh nối tiếp giữa các nhánh bên và các nhánh tận, hình thành hai mạng mạch phong phú là mạng mạch khớp gối và mạng mạch bánh chè [15]. luan an 4 Hình 1. Giải phẫu hệ động mạch đùi khoeo Động mạch cẳng bàn chân Động mạch cẳng bàn chân bao gồm các ĐM vùng cẳng chân (ĐM chày trước, ĐM chày sau, ĐM mác) và các ĐM vùng bàn chân (ĐM mu chân, ĐM gan chân trong, ĐM gan chân ngoài).

ĐM chày trước là một trong ba nhánh tận của ĐM khoeo, bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo đi qua bờ trên màng gian cốt ra khu cẳng chân trước. Đoạn 2/3 trên của ĐM chày trước nằm trên màng gian cốt, đoạn 1/3 dưới nằm ở trên xương chày và khớp cổ chân, rồi tiếp tục đi xuống dưới chui qua giữa các gân duỗi bàn chân và đổi tên thành ĐM mu chân. Ở cổ chân, ĐM chày trước tách ra nhánh ĐM mắt cá trước ngoài, nối với nhánh xiên và các nhánh mắt cá ngoài của ĐM mác. Ngoài ra, còn vòng nối ĐM gan chân ngoài của ĐM chày trước và ĐM gan chân ngoài của ĐM luan an 5 chày sau để cấp máu cho bàn chân.

Nhờ các vòng nối này mà trong can thiệp có thể đưa dụng cụ từ ĐM mác, chày sau sang can thiệp ĐM chày trước khi có tổn thương và ngược lại [16]. ĐM chày sau là nhánh tận chính của ĐM khoeo từ bờ dưới cơ khoeo hay cung gân cơ khép. ĐM chày sau chia rất nhiều nhánh bên cung cấp cho phần lớn các cơ vùng cẳng chân sau. Khi chạy xuống rãnh cơ gấp dài ngón cái ở mặt trong xương gót, chia làm hai ngành tận là ĐM gan chân trong và ĐM gan chân ngoài [17].

ĐM mác là nhánh tận, tách từ thân chày mác. Lúc đầu ĐM mác nằm giữa cơ chày sau và cơ gấp dài ngón cái rồi đi sâu vào giữa cơ gấp dài ngón cái và xương mác tới cổ chân và chia các nhánh tận cho cổ chân và gót. ĐM mác có các nhánh mắt cá sau ngoài nối với ĐM mắt cá trước ngoài của ĐM chày trước và nhánh nối tiếp nối với ĐM chày sau. Đây là các vòng nối quan trọng trong can thiệp cẳng và bàn chân [13].

Giải phẫu hệ động mạch cẳng bàn chân 1. Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính Bệnh động mạch chi dưới mạn tính (BĐMCDMT) là bệnh vữa xơ các mạch máu cung cấp máu cho một phần hoặc toàn bộ chi dưới với triệu chứng đau cách luan an 6 hồi trên 2 tuần [3]. Khái niệm này loại trừ các trường hợp thiếu máu cấp tính do chấn thương, vết thương, huyết khối trên các động mạch lành, tai biến do phẫu thuật hay thủ thuật can thiệp nội mạch máu [18]. Dịch tễ học BĐMCDMT là bệnh lý tim mạch phổ biến, đứng thứ ba sau bệnh ĐM vành, đột quị não và đang dần trở thành vấn đề toàn cầu khi ảnh hưởng hơn 200 triệu người trên thế giới.

Theo kết quả nghiên cứu của cuộc điều tra dinh dưỡng và sức khỏe tại Mỹ năm 1999 – 2000 (nghiên cứu NHANES) trên 2174 người > 40 tuổi, tỷ lệ hiện mắc BĐMCDMT chiếm 4,3%, trong đó số lượng bệnh nhân mắc BĐMCDMT có bệnh đái tháo đường kèm theo chiếm 10,8% [8]. Nhiều nghiên cứu cho thấy đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT lên 2 - 4 lần và khoảng 12 - 20% bệnh nhân BĐMCDMT có kèm theo đái tháo đường [19]. Theo nghiên cứu Framingham, đái tháo đường làm tăng nguy cơ đau cách hồi lên 3,5 lần ở nam và 8,6 lần ở nữ [20]. Một trong những lý do khiến tỷ lệ mắc BĐMCDMT ngày càng tăng cao là bởi bệnh tiến triển âm thầm, chỉ có dưới 20% bệnh nhân được báo cáo là có triệu chứng.

Bên cạnh đó, tổn thương thần kinh ngoại vi do đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến thần kinh cảm giác, làm các triệu chứng của BĐMCDMT càng thêm mờ nhạt khiến tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn so với người không mắc bệnh đái tháo đường. Nghiên cứu của Shu J. Nguy cơ phát triển BĐMCDMT tương xứng với mức độ nặng và thời gian bị bệnh đái tháo đường. Theo nghiên cứu UKPDS, HbA1c tăng lên mỗi 1% sẽ làm tăng nguy cơ mắc BĐMCDMT 28% [9].

Khi so sánh BĐMCDMT giữa hai nhóm mắc đái tháo đường và không mắc đái tháo đường, nghiên cứu của Lange S. đã chỉ ra tỷ lệ mắc BĐMCDMT ở nhóm đái tháo đường cao hơn hẳn với tỷ lệ 26,3% so với 15,3%. Bên cạnh đó, bệnh đái tháo đường còn làm tăng nguy cơ loét bàn chân do tắc mạch, hoại tử, và cắt cụt chi ở bệnh nhân mắc BĐMCDMT. Theo kết quả nghiên cứu của Bild D.E và cộng sự, bệnh đái tháo đường làm tăng nguy cơ cắt cụt chi ở bệnh nhân có BĐMCDMT gấp 7 - 15 lần so với bệnh nhân không mắc đái luan an 7 tháo đường, tỷ lệ cắt cụt chi hàng năm ở những bệnh nhân này là 0,6%.

So sánh tổn thương động mạch ở bệnh nhân có và không có đái tháo đường Bệnh động mạch chi dưới Đái tháo đường Không đái tháo đường Giới Nam = Nữ Nam > Nữ Tuổi Trẻ hơn Cao tuổi Tiến triển Nhanh Từ từ Hai bên Một bên Tổn thương Động mạch dưới gối Động mạch trên gối Tắc hẹp nhiều đoạn Một đoạn Tuần hoàn bàng hệ Bị tổn thương Không hoặc ít ảnh hưởng Bệnh nhân mắc BĐMCDMT kèm theo đái tháo đường thường có xu hướng nằm viện lâu hơn, chịu nhiều gánh nặng điều trị hơn và tốn nhiều nguồn lực y tế hơn so với bệnh nhân BĐMCDMT đơn thuần [22]. Đái tháo đường thường liên quan đến tổn thương động mạch chi dưới đoạn dưới gối (động mạch chày trước, chày sau, động mạch mác…), trong khi các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc thường có liên quan đến tổn thương các động mạch chậu - đùi [7]. Tỷ lệ đồng mắc BĐMCDMT và đái tháo đường đặc biệt cao ở những bệnh nhân thiếu máu cục bộ chi dưới cấp tính, với gần 50% bệnh nhân trong một nghiên cứu thiếu máu cục bộ chi cấp tính [23]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy BĐMCDMT làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột qụy và tử vong do nguyên nhân tim mạch.

Bệnh nhân BĐMCDMT có tỷ lệ biến cố tim mạch trong vòng 5 năm, bao gồm NMCT và đột qụy là 20%, và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân là 30% [24]. Trong số bệnh nhân bị thiếu máu cục bộ chi dưới cấp tính, có khoảng 30% phải cắt cụt chi, và tỷ lệ tử vong trong 6 tháng là 20%. Theo nghiên cứu ARIC, nam giới mắc BĐMCDMT có nguy cơ đột qụy hoặc thiếu máu não thoáng qua cao gấp 4 – 5 lần người không mắc BĐMCDMT, dù mối liên quan này ở nữ không có ý nghĩa thống kê. Khoảng 12 - 25% người mắc BĐMCDMT có rối loạn dòng chảy do hẹp động mạch cảnh phát hiện trên siêu âm luan an 8 Doppler.

Mức độ nặng của BĐMCDMT tương quan với mức độ nặng và độ hẹp của động mạch cảnh. Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường được tái thông mạch vành chiếm khoảng 25% - 30% và lên đến 60% trường hợp NMCT cấp. Tỷ lệ biến cố tim mạch và đột quỵ, bao gồm tử vong và không tử vong, đều có xu hướng tăng ở bệnh nhân BĐMCDMT kèm theo đái tháo đường so với bệnh nhân BĐMCDMT đơn thuần [7]. Điều đáng chú ý là hầu hết bệnh nhân bị BĐMCDMT không có triệu chứng lâm sàng điển hình của đau cách hồi.

Nghiên cứu PARTNER thực hiện trên 6417 đối tượng cho thấy có 29% bị BĐMCDMT nhưng chỉ 11% trong số những người bị BĐMCDMT có triệu chứng đau cách hồi điển hình. Gần 1/3 không có triệu chứng và 55% trong số còn lại có triệu chứng không điển hình gây khó khăn cho việc phát hiện sớm, chẩn đoán và can thiệp điều trị [25]. Cơ chế bệnh sinh của bệnh động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 Nhìn chung, cơ chế bệnh sinh của BĐMCDMT ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường cũng tương tự với bệnh nhân không mắc đái tháo đường, nhưng sự hiện diện của bệnh đái tháo đường là yếu tố thúc đẩy. Vữa xơ động mạch (atherosclerosis) là một hình thức cụ thể của xơ cứng động mạch, trong đó thành động mạch dày lên như kết quả của sự tích tụ canxi và các chất béo như cholesterol và triglyceride [20].

Sự tiến triển của xơ vữa và tổn thương động mạch xảy ra rất sớm thậm chí ngay từ giai đoạn tiền đái tháo đường. Tổn thương lớp nội mạc là một điểm nổi bật của đái tháo đường, liên quan đến tăng glucose máu, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid, đề kháng insulin. Rối loạn chức năng nội mạc là dấu hiệu biến chứng sớm của biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới mạn tính có đái tháo đường týp 2" của tác giả Lê Ngọc Long, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Nguyên Sơn, được thực hiện tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108, Hà Nội vào năm 2022. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các đặc điểm lâm sàng và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh động mạch chi dưới ở những bệnh nhân mắc đái tháo đường týp 2. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe của nhóm bệnh nhân này mà còn giúp các chuyên gia y tế nhận diện và quản lý tốt hơn các yếu tố nguy cơ, từ đó cải thiện chất lượng điều trị.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2", nơi nghiên cứu về chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường. Ngoài ra, bài viết "Mối liên quan giữa resistin, visfatin và nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố nguy cơ tim mạch trong bối cảnh bệnh đái tháo đường. Cuối cùng, bài viết "Nồng độ Serp5, RBP4 và IL18 trong huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chỉ số sinh học liên quan đến bệnh lý này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bệnh đái tháo đường và các biến chứng của nó.