ĐẶT VẤN ĐỀ “Thế kỷ XXI là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hóa” – dự báo bởi các chuyên gia y tế của WHO vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Trong đó bệnh đái tháo đường là một trong những bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hóa không có tính lây lan, phát triển nhanh nhất và đang trở thành vấn đề cấp thiết của thời đại, nhất là đái tháo đường type 2. Tốc độ phát triển của bệnh rất nhanh, là một trong ba bệnh thường gây tàn phế và tử vong nhanh nhất trên thế giới. Theo ước tính vào năm 2010, có khoảng 285 triệu người trưởng thành từ 20 -79 tuổi bị đái tháo đường, con số này sẽ tiếp tục gia tăng từ năm 2010 đến năm 2030 thêm 54% mà phần lớn là ở các nước đang phát triển như Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á [61].
Vào năm 2013, theo Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF) thì trên thế giới có 328 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và con số người mắc bệnh đái tháo đường được dự đoán vào năm 2035 sẽ là 592 triệu người, điều đó có nghĩa đã tăng thêm 55% so với năm 2013 [61]. Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển nhanh chóng về kinh tế và xã hội, cùng với sự thay đổi về lối sống, đã góp một phần làm gia tăng tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường chung của cả thế giới [59]. Một nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết trung ương vào tháng 10 năm 2008 đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên đến 5% (năm 2008) [4]. Đái tháo đường là một bệnh mạn tính, diễn biến âm ĩ thầm lặng trong vòng từ 5 - 10 năm, rất khó phát hiện ngay từ đầu nếu không được quan tâm và theo dõi tình trạng sức khỏe định kì.
Tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường không được phát hiện lên đến 65% [6]. Đái tháo đường gây ra rất nhiều biến chứng mạn tính nguy hiểm như làm tổn thương rối loạn và suy yếu chức năng nhiều cơ quan khác nhau đặc biệt là tổn thướng mắt, thận, thần kinh và tim mạch [61], tuy nhiên việc phát hiện các biến chứng thường rất muộn, nhất là đái tháo đường type 2. Theo thống kê thì có khoảng 30 - 50% bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường type 2 không được chẩn đoán [5]. Tại thời điểm chẩn đoán, các bệnh nhân cũng đã bị một số biến chứng do bệnh đái tháo đường gây ra: bệnh võng mạc 35%, bệnh thần kinh ngoại vi SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH 12%, protein niệu 2,0%, tăng huyết áp 58,3% [61]. Đái tháo đường là một trong những nguyên nhân làm cản trở sự phát triển của nền kinh tế, là một gánh nặng của toàn xã hội khi mà hàng năm nhân loại phải tiêu tốn một số tiền khổng lồ từ 233 tỉ đến 430 tỉ USD cho việc phòng chống và điều trị [34]. Từ lâu, việc chuẩn đoán đái tháo đường đã góp phần khá lớn vào việc phòng ngừa, ngăn chặn và điều trị bệnh đái tháo đường. Bên cạnh đó, những biến chứng mà bệnh đái tháo đường gây ra cũng có khả năng tàn phá sức khỏe của bệnh nhân một cách nhanh chóng.
Do vậy, việc chẩn đoán này cũng đồng nghĩa với việc làm ngăn chặn hoặc làm chậm xuất hiện của các biến chứng thông qua việc theo dõi và điều trị một cách liên tục kèm theo vấn đề cải thiện lối sống sinh hoạt và ăn uống. Để chẩn đoán đái tháo đường, hiện nay có rất nhiều phương pháp và tiêu chuẩn: glucose máu đói, glucose sau 2h làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống, glucose máu bất kì hay dựa và chỉ số HbA1c. Mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm khác nhau. Để tăng giá trị và độ tin cậy của xét nghiệm thì việc kết hợp các phương pháp là điều cần thiết.
HbA1c được xem là chỉ số “vàng” trong chẩn đoán và quyết định phương hướng điều trị đái tháo đường. Cho nên, hàng năm một lượng lớn bệnh nhân mới được chẩn đoán, được khảo sát giá trị glucose máu đói và HbA1c. Nhằm tìm hiểu về nhóm bệnh nhân mới được chẩn đoán đái tháo đường này, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát glucose máu đói và HbA1c trên bệnh nhân đái tháo đường mới được chẩn đoán tại bệnh viện đa khoa Gò Vấp từ ngày 11/09/2018 – 25/05/2019”, với hi vọng có thể góp phần vào công tác ngăn ngừa và điều trị bệnh đái tháo đường hiện nay. • Mục tiêu nghiên cứu: - Khảo sát nồng độ glucose máu lúc đói và chỉ số HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường mới được chẩn đoán.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân mới được chẩn đoán đái tháo đường. SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Đái tháo đường là một trong những căn bệnh rối loạn chuyển hóa đã được nghiên cứu từ rất lâu đời.
Thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, Aretaeus đã bắt đầu mô tả về những người mắc bệnh đái nhiều. Vào năm 1869, Langerhans đã mô tả tiểu đảo tiết ra insulin và glucagon nhưng không nối với tụy. Cho đến năm 1889, Minkowski và Von Mering đã cắt bỏ tụy của chó và gây đái tháo đường thực nghiệm lên chúng, đặt cơ sở lý thuyết cho học thuyết đái tháo đường do tụy. Theo Ủy ban chuẩn đoán và phân loại bệnh tiểu đường của Hoa Kỳ (tháng 1 năm 2003), đái tháo đường là một bệnh nội tiết chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insullin, hoặc cả hai.
Insulin, một loại do hormon tuyến tụy tạo ra, giúp đưa glucose từ thức ăn đi vào các tế bào của cơ thể để sử dụng cho năng lượng. Đái tháo đường type 2, là loại bệnh đái tháo đường phổ biến nhất, xảy ra khi lượng đường huyết, còn gọi là lượng đường trong máu quá cao, khi mà cơ thể không tạo đủ insulin dẫn đến tình trạng lượng glucose quá nhiều trong máu, không thể tạo hết thành năng lượng để cơ thể sử dụng, lượng glucose sẽ giữ lại trong máu [58].2 TÌNH HÌNH BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.1 Trên thế giới Theo IDF công bố vào năm 2017, số người mắc bệnh đái tháo đường ở độ tuổi từ 20 - 79 là 425 triệu người (tương đương 8,8%). Ước đoán vào năm 2045, số người mắc bệnh đái tháo đường tăng lên đến con số là 629 triệu người (tương đương 9,9%), tức là trong vòng 28 năm, số người mắc bệnh đái tháo đường tăng thêm 204 triệu người (tương đương 1,1%). Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tăng nhanh ở những nước đang phát triển, thay đổi nhanh chóng về lối sống và thói quen ăn uống cũng như vấn đề ít rèn luyện thể SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
DƯƠNG NHẬT LINH lực. Tuy nhiên về tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở các nước, các quốc gia là khác nhau do khác nhau về lối sống, nền văn hóa, thói quen sinh hoạt, độ tuổi. Ở Bắc Mỹ và các vùng Caribbe tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 13% và dự đoán đến năm 2045 sẽ tăng lên 14,8 % (tăng 1,8% so với năm 2017), Trung Á và Bắc Phi có tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường cao thứ 2 trên thế giới sau Bắc Mỹ (9,6%) và dự đoán rằng đến năm 2045 sẽ tăng lên 12,1% (tăng 2,5 %), Đông Nam Á với tỷ lệ là 8,5% vào năm 2017 và dự đoán sẽ tăng lên 11,1% vào năm 2045 (tăng 2,6%), Tây Thái Bình Dương là 9,5% và sẽ tăng lên 10,3% (tăng 0,8%), ở Châu Âu với tỷ lệ 8.8% và dự đoán sẽ tăng lên 10,2% (tăng 1,4%) và với Châu Phi tỷ lệ mắc đái tháo đường thấp nhất trên thế giơi là 3,3% và dự kiến sẽ tăng lên 3,9% (tăng 0,6%). Đây thật sự là một vấn đề lớn của toàn cầu [27].2 Tại Việt Nam Ở Việt Nam, qua số liệu thống kê ở các bệnh viện lớn trong nước cho thấy đái tháo đường là bệnh thường gặp nhất và có tỷ lệ tử vong cáo nhất trong các bệnh nội tiết.
Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có số liệu thống kê cụ thể toàn quốc mà chỉ có thống kê của các thành phố lớn. Năm 2002, Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã tiến hành điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường theo tiêu chuẩn quốc tế tại 4 thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng ở lứa tuổi 30 - 64, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường là 4,6 - 4,9% [1]. Tổng điều tra trên toàn quốc năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương trên hơn 11.000 người từ 30 đến 69 tuổi tại 6 vùng sinh thái (Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ) phát hiện tỷ lệ mắc đái tháo đường ở nước ta đã tăng lên là 6%, trong đó tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ (hơn 7%), thấp nhất là Tây Nguyên (gần 4%). Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng tăng mạnh từ 7,7% năm 2002 lên gần 13% năm 2012.
Tỷ lệ người bệnh trong cộng đồng không được phát hiện ở nước ta là gần 64%, cao hơn so với thế giới [6]. Số người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam được dự đoán sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2023 so với năm 2010 [59]. SVTH: NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH 1.3 PHÂN LOẠI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1.1 Phân loại bệnh đái tháo đường 1.1 Đái tháo đường type 2 Bình thường insulin có vai trò quan trọng trong việc duy trì nồng độ glucose trong máu.
Glucose máu phụ thuộc vào sự tiết insullin, dung nạp insulin ở các mô tế bào và ức chế chuyển glucogen thành glucose ở gan [19]. Đái tháo đường tuýp 2 xảy ra do sự kháng insulin và rối loạn tiết insulin, thường xuất hiện ở nhưng người có thể trạng béo. Đái tháo đường type 2 thường xuất hiện ở độ tuổi từ 40 và cũng đang gia tăng ở những người trẻ tuổi. Bệnh đái tháo đường tuýp 2 chiếm 85 - 90% trong các trường hợp mắc chứng bệnh đái tháo đường [63].2 Đái tháo đường type 1 Đái tháo đường type 1 còn gọi là đái tháo đường không phụ thuộc insulin hoặc đái tháo đường tuổi vị thành niên.