Chương 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHẤN THƯƠNG Bệnh ngoại khoa nghiên cứu tất cả các dạng chấn thương. Chương này giới thiệu khái quát: Khái niệm về chấn thương, các dạng chấn thương và hệ chấn thương, Ảnh hưởng của chấn thương đối với cơ thể, Phản ứng của cơ thể đối với chấn thương. Trọng tâm của chương này người học cần nắm vững: Phản ứng của cơ thể đối với chấn thương, đặc biệt hai phản ứng sốc và viêm. KHÁI NIỆM Chấn thương là tổng hợp những biến đổi hình thái, rối loạn chức năng, xuất hiện trong mô bào, cơ quan của động vật do nhân tố gây chấn thương tác động.
Chấn thương gây ra những biến đổi hình thái, rối loạn chức năng rõ rệt (rách da, dập cơ, giãn dây chằng, đứt mạch máu, gẫy xương,…) được gọi là tổn thương. Dưới tác động của các nhân tố gây chấn thương, sự toàn vẹn và chức năng của da, cơ, mạch máu, mạch lympho, thần kinh có thể bị hủy hoại. Cơ thể đáp ứng lại các kích thích đó bằng phản ứng thích ứng - phòng vệ tại cục bộ hay toàn thân. Nguyên nhân gây chấn thương đa số là ngoại sinh, bao gồm các tác động của môi trường bên ngoài.
Những yếu tố hữu ích, khi tác động quá ngưỡng thích nghi của con vật cũng gây ra chấn thương. Ví dụ: Ánh sáng và nhiệt độ là những nhân tố rất cần thiết cho sự sống của gia súc nhưng ánh nắng quá mạnh có thể gây cảm nắng, cháy nắng; nhiệt độ quá cao có thể gây cảm nóng, bỏng. Nguyên nhân gây chấn thương nội sinh xuất hiện ngay trong cơ thể người và động vật, do những rối loạn trao đổi chất, tuần hoàn máu, phản ứng miễn dịch và sự vôi hóa. Nhóm này ít gặp hơn và khó xác định.
Có 5 nhân tố gây chấn thương cơ bản: cơ giới, vật lý, hóa học, sinh học và thần kinh - stress. Dưới sự tác động của những nhân tố này, cơ thể sẽ xuất hiện chấn thương hay tổn thương tương ứng. Hậu quả của những chấn thương gây ra bởi những nguyên nhân có cùng cường độ và thời gian tác động phụ thuộc vào: Đặc điểm giải phẫu, chức năng của mô bào và cơ quan chịu tác động, những biến đổi bệnh lý trong cơ quan đó, trạng thái chức năng của hệ thống thần kinh vào thời điểm tác động của nguyên nhân gây chấn thương, phản ứng loài của động vật chịu tác động. 1 Nguyên nhân gây chấn thương còn có nguồn gốc nội sinh như: Rối loạn trao đổi vitamin, muối khoáng và những chất khác, rối loạn tuần hoàn máu, rối loạn phản ứng miễn dịch sinh học, sự tự nhiễm độc và những rối loạn bên trong khác của cơ thể.
PHÂN LOẠI - Căn cứ vào bản chất của nhân tố gây chấn thương chia ra: 1. Chấn thương cơ giới Chấn thương cơ giới do sự tác động của lực cơ giới vào cơ thể động vật với mức độ tổn thương mô bào và cơ quan khác nhau. Động vật bị đánh đập bằng gậy gộc, bị đâm chém bằng dao búa, bị các vật thể nặng (gạch, đá, gỗ) rơi vào, động vật húc, đá nhau hay tự ngã đều có thể bị chấn thương cơ giới. Chấn thương cơ giới có thể trở lên trầm trọng hơn do thiếu hụt vitamin, muối khoáng trong thức ăn, sự rối loạn trao đổi chất, chế độ vận động thường xuyên không đầy đủ, kiệt sức.
So với động vật trưởng thành, chấn thương cơ giới thường nặng hơn ở động vật non và động vật già. Mô và cơ quan của các loài, cá thể có sức đề kháng khác nhau với chấn thương. Gân - dây chằng ở ngựa và chó có tính đàn hồi và bền vững lớn đối với sự kéo căng. Da của chúng đàn hồi và linh hoạt hơn so với da của loài nhai lại, đặc biệt, so với lợn.
Xương ngựa và chó cứng hơn nhưng dễ gãy hơn so với xương trâu, bò, cừu và lợn. Lực cơ giới có thể tác động ở dạng: ép, kéo căng, xoắn vặn, uốn cong. Mức độ tổn thương mô bào của cơ thể phụ thuộc vào hướng và góc của lực tác động, vận tốc của chuyển động, độ lớn và trọng lượng riêng của vật gây thương tích, cấu trúc giải phẫu và trạng thái chức năng của cơ quan bị tổn thương. Ví dụ: Sự căng cơ hoặc một vài vị trí của khớp làm tăng thêm chấn thương và tạo điều kiện xuất hiện gẫy xương, trật khớp, đứt dây chằng.
Dạ dày chứa đầy thức ăn, ruột đầy phân, bàng quang đầy nước tiểu có thể bị vỡ do các cú đá vào sườn; tổn thương sẽ nhỏ hơn nếu chúng trống rỗng vào thời điểm vật gây chấn thương tác động. Ở động vật có chửa, nguy cơ gẫy xương cao hơn do chứng Nhuyễn xương (Osteomalacia), cơ cũng dễ bị đứt hơn do suy kiệt và luôn bị kéo căng. Những chấn thương cơ giới còn được phân thành các dạng khác nhau: Chấn thương bất ngờ, phẫu thuật, sinh đẻ, kín hay hở, trực tiếp hay gián tiếp, đơn độc hay hỗn hợp. Tổn thương cơ giới trực tiếp xuất hiện tại chỗ tiếp xúc của lực cơ giới gây chấn thương.
Tổn thương cơ giới gián tiếp xảy ra không ở chỗ tiếp xúc với vật gây thương tích như: Trật khớp xương bả vai - cánh tay vào thời điểm tiếp đất của động vật rơi từ trên cao xuống. Khi chấn thương cơ giới chỉ gây ra những thay đổi phân tử trong cơ quan hay mô bào gọi là Chấn động hay Đụng dập. Ví dụ: Chấn động gây ra do ảnh hưởng của sóng nổ. Tất cả các phần của não bộ và những cơ quan có cấu trúc nhu mô dễ bị tổn thương hơn các mô bào khác.
Xương có tính bền vững nhất đối với chấn thương cơ giới và các chấn thương khác. 2 Tổn thương cơ giới kín có đặc trưng là da và niêm mạc còn nguyên vẹn, bao gồm: dập thương hay đụng dập (contusion), kéo căng (distorsio), đứt các mô mềm và cơ quan có cấu trúc nhu mô, trật khớp, gẫy xương. Da có tính đàn hồi và bền vững lớn; vì thế, tính liên tục giải phẫu của da có thể được bảo tồn ngay cả khi gặp những chấn thương nặng, mặc dù khi đó cơ quan và mô bào nằm dưới da bị kéo căng, đứt, đè ép, ép dập, xương bị gãy hay vỡ vụn. Tổn thương cơ giới hở hay vết thương có đặc trưng là rách da hay niêm mạc, các mô mềm, cơ quan nội tạng, xương có thể bị tổn thương ở các mức độ khác nhau.
Trên thực tế, tổn thương cơ giới hở gặp nhiều hơn tổn thương cơ giới kín, nó sẽ trầm trọng hơn nếu chấn thương nhắc lại. Quá trình bệnh lý của tổn thương cơ giới hở cũng nặng nề hơn, thường bị nhiễm bẩn và vi khuẩn gây bệnh. Tổn thương cơ giới hở bao gồm các loại vết thương, trật khớp và gẫy xương hở. Chấn thương vật lý Những yếu tố vật lý gây ra chấn thương vật lý: chấn thương nhiệt, chấn thương điện, chấn thương phóng xạ.
Chấn thương nhiệt gặp ít hơn chấn thương cơ giới, có thể do nhiệt độ quá cao (bỏng - combustio) hay nhiệt độ quá thấp (băng giá - congelatio). Chấn thương điện xảy ra do dòng điện (điện kỹ thuật, sét) đi qua cơ thể. Chấn thương phóng xạ gây ra bởi năng lượng bức xạ và phóng xạ ion hóa. Chấn thương này được phân biệt với những chấn thương nêu trên ở chỗ: Phần lớn các trường hợp động vật không có phản ứng tự vệ tức thì và không nhận thức được một cách trực tiếp, trừ khi cơ thể bị tác động bởi một liều lượng cực cao.
Chấn thương hóa học Chấn thương hóa học là do sự tác động đến mô bào bởi các axit, chất kiềm, muối của kim loại nặng, chất độc hóa học và một vài chất hóa học sử dụng để phòng - trị ký sinh trùng, côn trùng hút máu. Trong những chất hóa học, số này gây ra tổn thương cục bộ (các axit, kiềm); số khác như phốt pho, chất độc hóa học được hấp thu qua da và niêm mạc, có tác động độc hại đến toàn cơ thể. Chấn thương sinh học Chấn thương sinh học bao gồm những chấn thương do tác động của virus, vi khuẩn, nấm mốc, ký sinh trùng, độc tố của động vật hay thực vật. Virus, vi khuẩn gây ra các bệnh truyền nhiễm.
Ký sinh trùng bòn rút chất dinh dưỡng của ký chủ, gây tình trạng gầy còm, ốm yếu của vật nuôi. Tác động của độc tố có nguồn gốc động vật: Vật nuôi bị động vật có nọc độc tấn công (rắn, ong, bò cạp,…) hoặc ăn phải thức ăn nguồn gốc động vật có độc (cóc, cá nóc, mật cá trắm,…), thức ăn gây dị ứng, thức ăn đã thiu ôi. 3 Tác động của độc tố có nguồn gốc thực vật: Vật nuôi ăn phải thực vật có độc (lá ngón, nấm độc, lá trúc đào, lá sắn,…), thức ăn gây dị ứng, thức ăn đã thiu ôi. Chấn thương thần kinh - stress Chấn thương thần kinh - stress xuất hiện dưới sự tác động của kỹ thuật chăn nuôi công nghiệp không hoàn hảo, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu sinh lý và sự thích nghi của động vật.
Đầu tiên, chấn thương này gây ra những rối loạn chức năng, sau đó là những tổn thương phản ứng do của tế bào, mô bào, cơ quan và hệ thống, biểu hiện bằng quá trình bệnh lý tiến triển nặng hay nhẹ. Chấn thương thần kinh - stress có thể do tác động mạnh hay kéo dài của âm thanh (chấn thương âm học), ánh sáng (chấn thương quang học), sự mất yên tĩnh nghiêm trọng của động vật liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi và công tác thú y (chu chuyển đàn, xuất - nhập, phòng, trị bệnh và những công việc khác), tiếng ồn của kỹ thuật công nghiệp, vận chuyển động vật và những nhân tố khác gây ra sự tái kích thích hệ thống thần kinh ở động vật. - Căn cứ vào mức độ và thời gian tác động, chấn thương loại này được chia ra: Chấn thương cấp tính xảy ra do tác động mạnh với thời gian ngắn (chấn thương cơ giới, bỏng do nhiệt độ cao, điện giật,…). Chấn thương mạn tính xảy ra do tác động yếu với thời gian kéo dài (chấn thương thần kinh - stress, ngộ độc mạn tính,…).
- Ngoài ra còn phân biệt: Chấn thương trực tiếp: Tại chỗ tác động của nhân tố gây chấn thương. Chấn thương gián tiếp: Tổn thương xuất hiện cách xa chỗ tiếp xúc của nhân tố gây chấn thương (đứt dây chằng, trật khớp và những bệnh lý khác xảy ra khi nhảy vượt chướng ngại vật hay rơi từ trên cao xuống). Chấn thương đơn: Chỉ có 1 cơ quan hay bộ phận bị chấn thương.