Đặt vấn đề Trong sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi lợn đóng một vị trí đặc biệt quan trọng, vì lợn có những đặc điểm ưu việt như: khả năng cho thịt , mỡ cao, là loài ăn tạp, chịu đựng kham khổ tốt, dễ nuôi, chi phí cho 1kg tăng khối lượng thấp. Hàng năm, ngành chăn nuôi lợn cung cấp trên 70% sản lượng thịt trên thị trường. Thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao, khả năng sử dụng thịt, mỡ lợn của con người là tương đối tốt. Tỷ lệ tiêu hoá của con người đối với thịt lợn là 95%, đối với mỡ lợn là 97% (Trần Văn Phùng & Cs, 2004).
Chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng khá lớn phân bón cho ngành trồng trọt và cung cấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi lợn lại càng quan trọng với thị trấn Bích Động vì đó là hướng đi chính cho sự phát triển kinh tế của thị trấn. Nó đã giải quyết được việc làm cho một bộ phận đông đảo người dân, tiêu thụ một lượng lớn sản phẩm của ngành trồng trọt và càng thiết thực hơn khi nó đã cải thiện được chất lượng dinh dưỡng cho người dân. Do sự phát triển của xã hội, nhu cầu của con người ngày càng cao đối với các sản phẩm chăn nuôi.
Để đáp ứng nhu cầu đó, ngoài công tác về giống, thức ăn, chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng, thì công tác thú y vẫn phải luôn được trú trọng nhằm hạn chế bệnh tật, nâng cao năng suất chất lượng chăn nuôi. Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, vấn đề gây trở ngại lớn đó là các biến chứng sau đẻ như viêm tử cung. Đây là loại biến chứng rất hay xảy ra và thường để lại hậu quả lâu dài: giảm năng suất sinh sản, trường hợp nặng có thể mất khả năng sinh sản, tiêu thai, xảy thai, chết thai và tỷ lệ thụ thai thấp. n 2 Chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang ngày càng phát triển theo hướng tập trung với quy mô trang trại, tốc độ phát triển bình quân/năm trong 5 năm gần đây đạt trên 15%.
Tuy nhiên, trên thực tế các biến chứng sau đẻ trên đàn lợn nái vẫn thường xảy ra với tỷ lệ nhiễm tương đối cao, gây thiệt hại lớn cho các hộ chăn nuôi. Nhưng sự hiểu biết của người chăn nuôi về các biến chứng này còn rất hạn chế. Mặt khác, trên thị trường hiện nay đang bày bán rộng rãi, phổ biến rất nhiều loại thuốc của các cơ sở sản xuất khác nhau để điều trị các biến chứng này. Nên người chăn nuôi rất lúng túng trong việc lựa chọn loại thuốc nào để điều trị các biến chứng trên cho có hiệu quả cao.
Vì vậy, việc nghiên cứu các biến chứng viêm tử cung trên địa bàn thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang từ đó đề ra các biện pháp phòng trị bệnh tích cực góp phần nâng cao năng suất sinh sản, hạn chế tối đa thiệt hại kinh tế là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn và khoa học. Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành chuyên đề: “Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên lợn nái nuôi tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và phương pháp điều trị bệnh” 1. Sự cần thiết tiến hành chuyên đề - Điều tra được tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. - Khuyến cáo được với người chăn nuôi những biện pháp tích cực để phòng trị bệnh viêm tử cung lựa chọn được loại thuốc thích hợp để điều trị.
Điều kiện để thực hiện chuyên đề 1. Điều kiện của bản thân Thực hiện phương châm: “học đi đôi với hành”, (lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất), thì việc trang bị kiến thức thực tế cho sinh viên trước khi ra trường là hết sức quan trọng. Nó sẽ giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống n 3 lại toàn bộ kiến thức đã học trên giảng đường Đại học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm chắc phương pháp tổ chức, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất… để trở thành một người cán bộ khoa học trong tương lai đáp ứng yêu cầu của xã hội. Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở thực tập, tôi tiến hành chuyên đề: “Đánh giá tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên lợn nái nuôi tại thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và phương pháp điều trị bệnh”.
Điều kiện của cơ sở nơi thực tập 1. Điều kiện tự nhiên * Vị trí, địa lý Thị trấn Bích Động nằm ở trung tâm văn hóa chính trị của huyện Việt Yên, có đường quốc lộ 37 và tỉnh lộ 298 chạy qua với chiều dài hơn 7 km, có một chợ trung tâm là chợ huyện là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nông sản cho nhân dân địa phương và các vùng lân cận, có ranh giới tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp xã Minh Đức; Phía Nam và phía Tây giáp xã Bích Sơn; Phía Đông giáp xã Hồng Thái. Với vị trí địa lý có đường quốc lộ và tỉnh lộ chạy qua nối với các đường liên thôn, liên xã, liên huyện đã tạo cho thị trấn Bích Động giao lưu đi lại dễ dàng, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội. * Địa hình đất đai Thị trấn Bích Động có địa hình cao thấp xen kẽ, phân làm 6 đơn vị thôn, phố.
Trong đó 03 thôn chủ yếu các hộ sống bằng nghề nông nghiệp, 03 khu phố các hộ chủ yếu là cán bộ, hộ kinh doanh dịch vụ. Có thể chia làm 3 loại: n 4 - Địa hình cao chiếm 40% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác trong thị trấn, thích hợp cho việc bố trí dân cư. - Địa hình vàn chiếm 30% diện tích tự nhiên phân bố rải rác trong toàn thị trấn nhưng chủ yếu là đất canh tác của thị trấn, ở địa hình này rất thích hợp cho phát triển 3 vụ cây trồng. - Địa hình thấp (trũng) chiếm 30% diện tích đất tự nhiên, phân bố rải rác, chủ yếu ở 3 thôn nông nghiệp, thích hợp cho việc phát triển cây nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
* Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn Thị trấn có hệ thống ngòi Cầu Sim chảy qua là nguồn cung cấp nước tưới tiêu thường xuyên cho 3 thôn nông nghiệp của thị trấn. Bên cạnh đó còn có hàng trăm ao hồ lớn nhỏ cùng hệ thống kênh mương liên thôn đến nội đồng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Theo số liệu của đài khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Giang, thị trấn Bích Động nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có những đặc điểm sau: + Nhiệt độ Tổng nhiệt độ trong năm 85000c - 86000c, nhiệt độ trung bình từ 230c - 240c và hình thành 2 mùa rõ rệt. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 270c - 300c, cao nhất 370c - 390c.
Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 170c đến 200c, thấp nhất 80c đến 100c. + Lượng mưa Lượng mưa trong năm từ 1500-1700mm, mưa tập trung vào từ tháng 7 đến tháng 10. Trong những năm gần đây, thỉnh thoảng có mưa lớn thất thường gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đời sống nhân dân. n 5 + Gió Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ đầu tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mang theo mưa phùn, nhiệt độ xuống thấp, giá rét ảnh hưởng đến sản xuất và sức khỏe của người dân.
Gió Đông Nam xuất hiện từ cuối tháng 4 đến tháng 9 mang theo nhiều hơi nước và thường xuyên có mưa lớn. Thời kỳ này thường xuất hiện bão kèm theo mưa lớn, gây ngập úng, làm cho năng suất cây trồng giảm sút, chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng, nhiều loại vật nuôi bị dịch bệnh hơn. + Độ ẩm không khí Độ ẩm không khí trung bình từ 80% đến 85%, tháng 2 và tháng 3 có độ ẩm không khí cao gần 90%, tạo điều kiện cho nhiều loại dịch bệnh phát triển ở người, gia súc và các loại cây trồng. Tháng 5 và tháng 6 độ ẩm không khí thấp, ảnh hưởng đến khả năng phơi màu, thụ phấn của cây trồng như lúa, ngô.
do đó ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm 1. Điều kiện kinh tế – xã hội * Kinh tế Trong những năm gần đây kinh tế của thị trấn có những chuyển biến trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa sản xuất tuy nhiên tốc độ còn chậm, nông nghiệp vẫn là ngành chủ đạo. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ. Trong nông nghiệp thì tăng dần tỷ trọng của ngành chăn nuôi, giảm dần tỷ trọng của ngành trồng trọt, song về quy mô vẫn tăng về giá trị tuyệt đối đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế.
Hiện nay, trong thị trấn số hộ phát triển tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, ngành nghề hàng năm đều tăng năm 2010 có 489 hộ, năm 2012 có 501 hộ. n 6 * Xã hội - Công tác giáo dục-đào tạo: Toàn thị trấn có 3 trường mầm non, trong đó một trường đạt trường tiên tiến xuất sắc của tỉnh, trường tiểu học và trường trung học cơ sở đã đạt trường chuẩn quốc gia. Cơ sở vật chất của trường trong thị trấn Bích Động đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục đào tạo học sinh. - Công tác văn hoá-thể thao-thông tin và truyền thanh: Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, tham dự hội diễn văn nghệ tại thành phố và phối hợp với đoàn thanh niên tổ chức những buổi giao lưu văn nghệ tại thị trấn.
Người dân trong thị trấn thực hiện và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá.Trên địa bàn thị trấn có đầy đủ hệ thống đường dây thông tin và truyền thanh, từ đó việc tuyên truyền cho nhân dân các thông tin cần thiết rất thuận tiện. - Chính sách xã hội: Tổ chức phát động tết vì người nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa cho các mẹ Việt Nam anh hùng, các nhà có hoàn cảnh khó khăn. Quan tâm đến các gia đình thương binh, liệt sỹ, những người có công với cách mạng, làm hồ sơ hưởng trợ cấp thường xuyên cho các cụ từ đủ 80 tuổi trở lên.