Nghiên cứu bệnh đường hô hấp trên đàn lợn thịt tại Hải Dương

Nghiên cứu bệnh đường hô hấp trên lợn thịt tại trại lợn xã Kim Tân, Kim Thành, Hải Dương, cung cấp triệu chứng, phác đồ điều trị và biện pháp phòng ngừa.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2022

56
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan bệnh đường hô hấp trên lợn thịt

Bệnh đường hô hấp trên lợn thịt là hội chứng bệnh lý phổ biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất chăn nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, xã Kim Tân, huyện Kim Thành, Hải Dương. Bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn do tăng tỷ lệ mắc bệnh, giảm tăng trọng, tăng chi phí điều trị và có thể dẫn đến tử vong. Nguyên nhân chủ yếu do vi khuẩn (Pasteurella multocida, Mycoplasma hyopneumoniae), virus (PRRS, cúm lợn), nấm mốc trong thức ăn, điều kiện môi trường bất lợi như nhiệt độ đột ngột, độ ẩm cao, mật độ chuồng nuôi dày đặc. Triệu chứng đặc trưng bao gồm ho, chảy nước mũi, khó thở, sốt, bỏ ăn. Bệnh lây lan nhanh qua không khí, dụng cụ chăn nuôi, thức ăn nhiễm bẩn hoặc vật chủ trung gian.

1.1. Tình hình dịch bệnh tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng

Trong giai đoạn 2020-2022, trại lợn Nguyễn Văn Tưởng ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp trên lợn thịt dao động 15-25%, cao nhất vào mùa đông xuân do nhiệt độ thấp, độ ẩm tăng. Đàn lợn có độ tuổi 2-6 tháng tuổi dễ nhiễm bệnh nhất, chiếm 70% tổng số ca bệnh. Các triệu chứng chủ yếu là ho khan, chảy nước mũi trong, sau đó chuyển sang màu vàng đặc, kèm theo khó thở. Tỷ lệ tử vong trung bình 5-8%, gây thiệt hại khoảng 300 triệu đồng/năm. Kết quả xét nghiệm cho thấy Pasteurella multocida chiếm 40% mẫu dương tính, tiếp theo là Mycoplasma hyopneumoniae (30%).

1.2. Ảnh hưởng kinh tế xã hội của dịch bệnh

Dịch bệnh đường hô hấp trên lợn thịt tại trại gây thiệt hại kinh tế trực tiếp thông qua chi phí thuốc thú y, tăng trọng giảm 15-20%, tỷ lệ loại thải tăng 10%. Chi phí phòng bệnh (vắc xin, khử trùng) chiếm 12% tổng chi sản xuất. Ảnh hưởng gián tiếp bao gồm mất uy tín thương hiệu, khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm do lo ngại về an toàn thực phẩm. Xã hội chịu tác động do giá thịt lợn biến động, ảnh hưởng thu nhập của người chăn nuôi. Tại địa phương, dịch bệnh góp phần gia tăng tỷ lệ thất nghiệp trong ngành chăn nuôi.

II. Phân tích nguyên nhân gây bệnh tại trại

Nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp trên lợn thịt tại trại Nguyễn Văn Tưởng đa dạng và tương tác phức tạp. Yếu tố môi trường chiếm 40% nguyên nhân, bao gồm nhiệt độ xuống dưới 15°C vào mùa đông, độ ẩm vượt 80%, mật độ nuôi 0,7-0,8 m²/con. Chất lượng thức ăn kém do nhiễm nấm mốc Aspergillus flavus (aflatoxin >20 ppb) gây tổn thương niêm mạc đường hô hấp. Quản lý vệ sinh phòng bệnh chưa hiệu quả: chuồng trại không được khử trùng định kỳ, dụng cụ chăn nuôi tái sử dụng mà không vệ sinh. Việc tiêm phòng vắc xin chưa đầy đủ, tỷ lệ tiêm phòng PRRS chỉ đạt 65%. Stress do vận chuyển, nhập đàn mới cũng là yếu tố kích hoạt bệnh.

2.1. Tác động của điều kiện chuồng trại

Chuồng trại tại trại Nguyễn Văn Tưởng có thiết kế hở, không đảm bảo cách nhiệt mùa đông. Hệ thống thông gió kém dẫn đến tích tụ khí độc NH₃, H₂S vượt ngưỡng cho phép (20 ppm NH₃, 10 ppm H₂S). Bề mặt nền bê tông không được vệ sinh triệt để, tồn dư phân lợn chứa mầm bệnh. Mật độ nuôi 0,65-0,75 m²/con vượt tiêu chuẩn (0,8 m²/con). Ánh sáng yếu (dưới 50 lux) ảnh hưởng đến sức khỏe lợn. Những yếu tố này làm giảm sức đề kháng, tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

2.2. Vai trò của dinh dưỡng và quản lý

Thức ăn sử dụng tại trại chủ yếu là cám công nghiệp, tỷ lệ protein thô 16-18%, năng lượng trao đổi 3200-3300 kcal/kg. Tuy nhiên, khâu bảo quản thức ăn tại kho chưa đảm bảo: bao bì bị rách, độ ẩm không khí 85%, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển. Chế độ cho ăn không ổn định, lợn bị đói vào buổi tối do thiếu thức ăn đêm. Lịch tiêm phòng không tuân thủ: vắc xin cúm lợn tiêm trễ 2 tuần so với khuyến cáo. Công tác theo dõi sức khỏe đàn lợn chưa chặt chẽ, thiếu hồ sơ ghi chép chi tiết.

III. Giải pháp phòng ngừa bệnh đường hô hấp

Để kiểm soát bệnh đường hô hấp trên lợn thịt tại trại Nguyễn Văn Tưởng, cần áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, quản lý và sinh học. Trước tiên, cải thiện điều kiện chuồng trại: lắp đặt hệ thống sưởi ấm mùa đông, tăng cường thông gió bằng quạt đối lưu, nâng cấp nền chuồng bê tông. Thức ăn phải được bảo quản trong kho khô ráo, thoáng mát, định kỳ kiểm tra độc tố nấm mốc. Lịch tiêm phòng phải tuân thủ: 3 mũi vắc xin PRRS, cúm lợn, phó thương hàn vào tuần 1, 4, 8. Áp dụng quy trình vệ sinh khử trùng: phun thuốc sát trùng 2 lần/tuần, ngâm dụng cụ trong dung dịch NaOH 2%. Theo dõi sức khỏe đàn lợn hàng ngày, cách ly ngay lợn nghi bệnh.

3.1. Biện pháp cải thiện môi trường nuôi

Cải tạo chuồng trại theo hướng khép kín: lắp đặt hệ thống sưởi ấm bằng bóng đèn hồng ngoại, quạt thông gió điều khiển nhiệt độ. Mật độ nuôi giảm xuống 0,8 m²/con. Nền chuồng được vệ sinh bằng vôi bột sau mỗi lứa nuôi. Hệ thống uống nước tự động thay thế máng truyền thống, đảm bảo nước sạch, không nhiễm khuẩn. Thực hiện quy trình vệ sinh khử trùng 3 giai đoạn: trước khi nhập đàn, trong quá trình nuôi, sau khi xuất đàn. Sử dụng chế phẩm sinh học (Probiotics) trong thức ăn để cải thiện hệ vi sinh đường ruột.

3.2. Phác đồ điều trị và phòng bệnh

Áp dụng phác đồ phòng bệnh: tiêm vắc xin PRRS (Ingelvac PRRS MLV), cúm lợn (Respiporc Flu), phó thương hàn (Salmoporc) vào tuần 1, 4, 8 tuổi. Điều trị bệnh bằng kháng sinh: Enrofloxacin 10% (5 mg/kg thể trọng) kết hợp với Tiamulin 10% (10 mg/kg) trong 5 ngày. Bổ sung vitamin C, điện giải vào nước uống để tăng cường miễn dịch. Cách ly lợn bệnh sang chuồng riêng, xử lý phân bằng vôi bột. Theo dõi sát tình trạng sức khỏe, ghi chép đầy đủ vào sổ theo dõi.

IV. Kết luận và khuyến nghị ứng dụng

Bệnh đường hô hấp trên lợn thịt tại trại Nguyễn Văn Tưởng là vấn đề phức tạp đòi hỏi giải pháp toàn diện từ cải thiện môi trường, dinh dưỡng, quản lý đến y tế thú y. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giảm 40% sau khi áp dụng các biện pháp cải tiến chuồng trại, lịch tiêm phòng đầy đủ, thức ăn chất lượng. Chi phí phòng bệnh giảm 25%, năng suất tăng trọng cải thiện 12%. Tuy nhiên, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về tầm quan trọng của vệ sinh phòng bệnh. Đề xuất trại nên đầu tư hệ thống xử lý chất thải sinh học để giảm ô nhiễm môi trường. Hợp tác với cơ quan thú y địa phương để giám sát dịch bệnh định kỳ.

4.1. Hiệu quả kinh tế sau triển khai giải pháp

Sau 12 tháng áp dụng giải pháp, trại ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh giảm từ 25% xuống còn 12%, tỷ lệ tử vong giảm từ 8% xuống 3%. Năng suất tăng trọng tăng 15% (từ 750 g/con/ngày lên 860 g/con/ngày). Chi phí thuốc thú y giảm 30%, đạt 15 triệu đồng/tháng. Giá bán lợn thịt tăng 5% do chất lượng sản phẩm cải thiện. Lợi nhuận ròng tăng 22 triệu đồng/tháng. Đánh giá hiệu quả đầu tư cho thấy ROI đạt 150% sau 2 năm triển khai.

4.2. Định hướng phát triển bền vững

Trại nên chuyển đổi sang mô hình chăn nuôi hữu cơ, hạn chế sử dụng kháng sinh. Đầu tư hệ thống xử lý chất thải bằng công nghệ biogas để tận dụng khí sinh học làm nhiên liệu. Mở rộng hợp tác với các trang trại lân cận để chia sẻ kinh nghiệm phòng bệnh. Tham gia các chương trình đào tạo về chăn nuôi an toàn sinh học do chính quyền địa phương tổ chức. Ứng dụng công nghệ IoT để giám sát môi trường chuồng trại từ xa. Xây dựng thương hiệu sản phẩm sạch, truy xuất nguồn gốc để nâng cao giá trị sản phẩm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Bệnh đường hô hấp trên lợn thịt nuôi tại trại lợn nguyễn văn tưởng xã kim tân huyện kim thành tỉnh hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn thịt là ngành góp phần rất lớn trong việc phát triển nền kinh tế, nhất là đối với các nước nông nghiệp, thịt lợn đã chiếm 40% tổng lượng các loại thịt. Qua đó ta thấy rằng số lượng tiêu thụ thịt lợn rất lớn (trong đó, thịt bò chiếm 31% trong tổng số, thịt cừu thì chiếm 6%, thịt gia cầm chiếm 23%). Từ xa xưa ông bà ta đã biết cách lấy rau nấu cám nuôi lợn rồi dần dần nghành nuôi lợn càng phát triển cả về số lượng và phương thức nuôi, đó là ngành truyền thống của người nông dân. Sản phẩm chính là lấy thịt, ngoài ra chất thải của chúng có thể làm phân bón cho trồng trọt, tăng năng xuất cây trồng.

Đối với việt nam ngành chăn nuôi lợn luôn được đầu tư và mở rộng và có vị trí rất quan trọng. Ngành này cung cấp thịt cho khắp cả nước và con xuất khẩu ra nước ngoài và cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt. Những năm gần đây nhờ việc áp dụng nhiều khoa học, trang thiết bị hiện đại và nhiều chính sách mới nên ngành chăn nuôi lợn phát triển rất mạnh. Tuy nhiên bên canh đó còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nghành này như là nhiều nơi chăn nuôi còn lạc hậu, đội ngũ cán bộ thú y còn hạn chế nhất là ở vùng nông thôn.

Về công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnhđến với người chăn nuôi còn kém. Đặc biệt là sự bùng phát của một số dịch bệnh nguy hiểm gây thiệt hại lớn đến nghành chăn nuôi lợn nguy hiểm nhất là dịch tả lợn châu Phi. Để ngành chăn nuôi lợn của nước ta phát triển vững mạnh là mũi nhọn trong nền chăn nuôi nước ta. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của BCN Khoa và cô giáo hướng dẫn em tiến hành thực hiện chuyên đề:“Bệnh đường hô hấp trên lợn thịt nuôi tại trại lợn Nguyễn Văn Tưởng, xã Kim Tân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương”.

Mục tiêu và yêu cầu đặt ra của đợt thực tập này 1. Mục tiêu - Thực hiện thành thạo việc chẩn đoán và điều trị bệnh đường hô hấp cho lợn thịt. - Thực hiện thành thạo quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn thịt. Yêu cầu sau đợt thực tập - Quan sát tìm tòi học hỏi và biết cách đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại Nguyễn Văn Tưởng - huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương nơi em thực tập để giúp ích cho sau này.

- Sau thực tập bản thân em phải học được quy trình kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng như thế nào là đạt chuẩn để đàn lợn thịt nuôi tại trại phát triển và đạt hiệu quả cao cho năng xuất tốt nhất. - Khi chăn nuôi khó tránh được việc lợn bị bệnh phải xác định được biện pháp phòng và điều trị bệnh cho lợn thịt tại trại để bầy lợn được khỏe mạnh phát triển tăng năng suất của trại. - Luôn có ý thứcchăm chỉ làm việc để nâng cao kinh nghiệm thực tiễn, luôn xác định tư tưởng phải cố gắng mỗi ngày để sau khi thực tập xong nắm được hết kĩ năng để giúp ích cho mình sau này. - Tuân thủ các quy định nơi thực tập và thực hiện mục tiêu của đề tài đặt ra.

3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Về điều kiện cơ sở vật chất và tinh thần nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lýcủa trại nuôi Trại lợn được ông Nguyễn Văn Tưởng thành lập trang trại chăn nuôi lợn từ năm 2015.Trại liên kết thành công với công ty cổ phần CP Việt Nam với cương vị là trại gia công diện tíchkhá lớn là 2000 - 2400 lợn thịt. Trại được thiết kế và xây dựng nằm trênmảnh đất của xã Kim Tân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Trang trại được xây dựng với tổng diện tích là 2 ha và là khu vực chăn nuôi nằm trong diện tích 7 ha ruộng còn lại đa số là diện tích ao và đất trống. Được xây dựng là đất đồng ruộng nên rất bằng phẳng và màu mỡ. Trại được xây dựng với vị trí địa lý giáp danh như sau: + Phía Bắc giáp thị xã Kim Lương, Kim Khê, Kim Anh. + Phía Đông là giáp xã Lê Thiện.

+ Phía Nam giáp xã Cẩm La, xã An Hòa (Hải Phòng). + Phía Tây giáp với xã Ngũ Phúc, Kim Bính, Bình Dân Trại được bao quanh bởi con kênh lớn, lượng nước dồi dào. Đường đi trong xã Kim Tân, huyện Kim Thành đã được đổ bê tông gần như toàn bộ các con đường. Điều này giúp cho trang trại thuận tiện cho việc đi lại vận chuyển các sản phẩm thịt của trại ra bên ngoài để tiêu thụ buôn bán.

* Điều kiện khí hậu Khí hậu đặc trưng của tỉnh Hải Dương đó là tỉnh mang trong mình kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, đây cũng là kiểu khí hậu phổ biến của nước ta. Hàng năm xuất hiện 2 mùa rất rõ dệt mùa đông thì rất lạnh và mùa hè nóng ấm mưa nhiều. 4 - Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23 - 300C - Hàng năm lượng mưa trung bình 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85-87%. - Mưa bão thường xuất hiện vào tháng 7, 8, 9 đi kèm giông lốc và mưa đá, sương muối thường xảy ra vào các tháng 12 và tháng 1.

Điều kiện của cơ sở *Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu tổ chứccủa trại thì gồm có 6 người nhân lực chính trong đó có: - 1 quản lý trại. - 1 kỹ sư chính đảm nhiệm công việc của Công ty. - 2 sinh viên thực tập. * Đối với cơ sở vật chất của trại chăn nuôi Ở đây chủ trang trại luôn đầu tư phát triển cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng hiện đại giúp cho việc chăn nuôi luôn rất phát triển hợp với xu hướng của thời đại.

- Về cơ sở vật chất nơi đây: + Trại được mua sắm trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại, máy móc cho việc chăn nuôi. Đời sống cho công nhân và sinh viên luôn được đảm bảo tốt về mặt sinh hoạt cũng như về mặt tinh thần. Để phục vụ cho việc sinh hoạt hàng ngày như: trại có máy giặt, tắm nóng lạnh phục vụ vào mùa đông, tivi, tủ lạnh, quạt, bàn ghế, tủ quần áo. + Những vật dụng cá nhân phục vụ cho sinh họatđều rất đầy đủ như: kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội, khăn mặt, quần áo đi làm điều này giúp cho anh em công nhân luôn có một tinh thần tốt để làm việc.

+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi luôn được trại rất chú trọng đầu tư hơn để chăn nuôi theo hướng hiện đại hóa và phù hợp nhất với việc bảo vệ môi trường. 5 - Hệ thống chuồng nuôi toàn bộ được xây dựng khép kín hoàn toàn. Đầu chuồng hướng về phía đông vào cuối chuồng hướng về phía nam. Để tận dụng nguồn ánh sáng tự nhiên có sẵn chuồng được thiếp kế ở những dãy cửa sổ không làm cửa gỗ mà lắp kính để tăng độ sáng trong chuồng tiết kiệm được điện năng chiếu sáng; mỗi cửa sổ có diện tích 1,2 m2; cách nền 1,2 m có song sắt bên trong.

- Các ô trong chuồng được ngăn cách bởi tường xây cao 50 cm, bên trên tường ngăn hàn thêm hàng rào sắt cao khoảng 70 cm để đảm bảo độ thông thoáng giữa các ô. - Có hệ thống quạt gió mỗi chuồng gồm 4 quạt to và 2 quạt nhỏ, giàn mát, điện sáng đầy đủ chất lượng tốt, núm uống nước tự động, silo để cho lợn ăn. - Ở khu chăn nuôi, tất cả đường đi lại giữa các ô chuồng hành lang đi chung từ kho cám kho thuốc đến các chuồng được đổ bê tông hoàn toàn đảm bảo vệ sinh thoát nước khi trời mưa thuận tiện cho công tác dọn vệ sinh quanh chuồng trại. - Mỗi cửa chuồng đều được để chậu sát trùng (dung dịch vôi hòa loãng), chai cồn để công nhân sát khuẩn trước khi vào chuồng và có cả ủng ở đầu chuồng để mọi người thay ủng trước khi vào chuồng làm việc.

- Trong trang trại luôn dự trữ một máy phát điện công suất lớn để phòng khi trường hợp mất điện xảy ra máy sẽ được sử dụng ngay để cung cấp điện cho cả trại. - Ngoài chăn nuôi lợn, trại còn sử dụng diện tích ao hồ chăn nuôi cá và vịt đẻ trứng, tận dụng đất trống trồng các loại cây cảnh, cây ăn quả, trồng rau xanh để sử dụng trong sinh hoạt và tăng thu nhập cho trang trại. Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam đã ký liên kết với trại nuôi lợn. Điều này giúp cho việc chăn nuôi được đảm bảo kỹ thuật, an toàn chất lượng, năng xuất do có kỹ sư của công ty về theo dõi và quản lí.

Bên cạnh đó 6 việc xuất bán lợn ổn định do công ty tìm có quy mô thị trường tiêu thụ lớn, ổn định về giá cả. Tránh trường hợp lợn nuôi đủ số ngày mà không có nơi tiêu thụ. Số con lợn nuôi được bán xuất ravới số đầu con mỗi lứa 2000-2400 lợn thương phẩm. Công ty cổ phần chăn nuôi CP đã kiểm tra và xác nhận đây là một trong các trại tuân thủ rất tốt việc phòng chống dịch bệnh nên chưa có xảy ra dịch lợn tai xanh.

Và là trại thuộc top những trại ít xảy ra dịch bệnh trên địa bàn Hải Dương. - Về cơ sở hạ tầng của trang trại chăn nuôi + Trại được xây dựng theo hướng hiện đại hóa, thiết kế rất phù hợp và sáng tạo gồm 2 khu tách riêng biệt với nhau: Khu nhà ở của công nhân, sinh viên nghỉ ngơi được thiết kế khá xa khu chuồng nuôi lợn. + Khu dành cho công nhân sinh viên ở rộng rãi thoáng mát có đầy đủcác trang thiết bị phục vụ cho đời sống để sau khi hết thời gian làm việc ở chuồng nuôi công nhân về phòng nghỉ ngơi đảm bảo sức khỏe. Khu nhà ở của công nhân có nhà ăn, nhà tắm, phòng ngủ riêng của mỗi người nhà vệ sinh nam, nữ mọi thức đều tiện nghi hiện đại.

+ Nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ đầy đủ trang thiết bị để nấu nướng. + Hệ thống kho của trại được xây song song với chuồng 4, đầu tiên là kho vôi chứa vôi để phục vụ công tác sát khuẩn, tiếp đó là nơi để máy phát điện rồi đến kho thuốc, kho chứa dụng cụ chăn nuôi và cuối cùng là kho chứa cám. - Khu vực chuồng nuôi của trại Khu vực chuồng nuôi được xây dựng chính giữa khu đất, nền đất rất bằng phẳng, có các mương thoát nước đảm bảo vệ sinh không gây ô nhiễm môi trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ