Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản

Tổng hợp quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái đạt hiệu quả cao tại trang trại Chu Bá Thơ huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

58
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản

Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Chu Bá Thơ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang là hệ thống phương pháp khoa học nhằm tối ưu hóa sức khỏe sinh sản và năng suất chăn nuôi. Quy trình bao gồm giai đoạn chửa kỳ, sinh sản và nuôi con, được triển khai theo tiêu chuẩn kỹ thuật thú y hiện đại. Mục tiêu chính là duy trì đàn lợn nái khỏe mạnh, giảm tỷ lệ bệnh tật, nâng cao tỷ lệ đậu thai và đảm bảo chất lượng đàn con. Tại trại Chu Bá Thơ, quy trình này được áp dụng thống nhất với sự hỗ trợ của cán bộ thú y và trang thiết bị hiện đại. Kết quả đạt được là đàn lợn nái sinh sản đạt tỷ lệ đậu thai trên 90%, giảm đáng kể tỷ lệ bệnh viêm tử cung sau sinh. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển bền vững mô hình chăn nuôi lợn nái sinh sản tại địa phương.

1.1. Đặc điểm sinh lý đàn lợn nái sinh sản

Lợn nái sinh sản có chu kỳ sinh lý đặc trưng gồm giai đoạn động dục, chửa kỳ, sinh sản và tiết sữa. Trong giai đoạn chửa kỳ (114 ngày), lợn nái cần được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, đặc biệt là protein, vitamin và khoáng chất để đảm bảo sự phát triển của thai nhi. Lợn nái có thể sinh sản liên tục trong 5-6 năm với năng suất ổn định nếu được chăm sóc đúng cách. Theo nghiên cứu tại trại Chu Bá Thơ, lợn nái ngoại giống (Landrace, Yorkshire) có tỷ lệ sinh sản cao hơn 15% so với giống địa phương nhờ khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu miền Bắc. Đặc biệt, giai đoạn sau sinh (21 ngày) là giai đoạn nhạy cảm nhất, yêu cầu chế độ dinh dưỡng tăng cường để phục hồi sức khỏe và duy trì sản lượng sữa.

1.2. Tầm quan trọng của quy trình chăm sóc

Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế của trại chăn nuôi. Theo thống kê tại trại Chu Bá Thơ, lợn nái được chăm sóc đúng quy trình có tỷ lệ sống sót của đàn con cao hơn 20%, giảm chi phí thuốc thú y xuống 30%. Quy trình bao gồm kiểm soát nhiệt độ chuồng trại (18-22°C), vệ sinh định kỳ, tiêm phòng đầy đủ vắc-xin (PRRS, E. coli, PRV) và theo dõi sát sao tình trạng sức khỏe. Đặc biệt, giai đoạn trước sinh (7 ngày) cần tăng cường bổ sung vitamin E và selen để ngăn ngừa bệnh viêm tử cung sau sinh. Việc tuân thủ quy trình giúp trại đạt doanh thu ổn định với sản lượng lợn con cai sữa trên 10 con/nái/năm.

II. Phân tích các vấn đề bệnh lý thường gặp ở lợn nái sinh sản

Lợn nái sinh sản tại trại Chu Bá Thơ thường mắc phải các bệnh lý liên quan đến sinh sản, tiêu hóa và hô hấp do điều kiện môi trường, dinh dưỡng không đảm bảo hoặc sai sót trong quy trình chăm sóc. Các bệnh phổ biến bao gồm viêm tử cung, viêm vú, tiêu chảy cấp và hội chứng rối loạn sinh sản (PRRS). Theo báo cáo năm 2022, tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại là 18%, cao hơn mức trung bình toàn quốc (12%). Nguyên nhân chủ yếu do vệ sinh chuồng trại không đạt chuẩn, stress nhiệt độ và chế độ dinh dưỡng thiếu cân đối. Ngoài ra, bệnh tiêu chảy cấp gây thiệt hại nặng nề do lợn nái mất sữa, ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống sót của đàn con. Phân tích sâu hơn cho thấy, 70% trường hợp bệnh xảy ra trong giai đoạn sau sinh (21 ngày đầu tiên), đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ cán bộ thú y.

2.1. Bệnh viêm tử cung sau sinh

Viêm tử cung sau sinh là bệnh lý phổ biến nhất ở lợn nái, xảy ra do nhiễm khuẩn sau quá trình sinh nở không vệ sinh. Triệu chứng điển hình bao gồm dịch tiết bất thường, sưng đỏ âm hộ, sốt nhẹ và giảm tiết sữa. Theo nghiên cứu của Trần Thị Dần (2004), bệnh gây ra do vi khuẩn E. coli, Streptococcus hoặc Staphylococcus, xâm nhập qua đường sinh dục trong quá trình đẻ hoặc can thiệp thủ thuật. Tại trại Chu Bá Thơ, tỷ lệ mắc bệnh này giảm xuống còn 8% nhờ áp dụng biện pháp sát trùng chuồng trại bằng vôi bột trước sinh. Tuy nhiên, bệnh vẫn tái phát nếu không kiểm soát tốt môi trường chuồng nuôi và chế độ dinh dưỡng sau sinh.

2.2. Tiêu chảy cấp và hội chứng PRRS

Tiêu chảy cấp ở lợn nái thường do nhiễm E. coli, Rotavirus hoặc thay đổi đột ngột khẩu phần ăn. Bệnh gây mất nước nghiêm trọng, giảm sản lượng sữa và có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời. Hội chứng rối loạn sinh sản (PRRS) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus gây ra, ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, dẫn đến sảy thai, thai chết lưu hoặc lợn con yếu ớt. Theo báo cáo của Nguyễn Văn Thanh (2016), tỷ lệ lợn nái nhiễm PRRS tại trại Chu Bá Thơ là 5%, thấp hơn mức trung bình toàn quốc (8%) nhờ chương trình tiêm phòng vắc-xin định kỳ. Tuy nhiên, bệnh vẫn tồn tại do lây nhiễm từ đàn lợn con hoặc môi trường chuồng trại không được khử trùng triệt để.

III. Giải pháp thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phòng trị bệnh

Để nâng cao hiệu quả chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại Chu Bá Thơ, cần triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật và quản lý. Trước tiên, xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học theo giai đoạn sinh sản, bổ sung vitamin E, selen và axit amin thiết yếu. Thứ hai, áp dụng quy trình vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt: sát trùng bằng vôi bột trước sinh, tắm lợn nái bằng dung dịch sát trùng, và vệ sinh dụng cụ chăn nuôi. Thứ ba, tiêm phòng vắc-xin đầy đủ (PRRS, E. coli, PRV) và theo dõi sức khỏe định kỳ bằng xét nghiệm máu. Cuối cùng, đào tạo cán bộ thú y về kỹ thuật chăm sóc lợn nái sinh sản, đặc biệt là kỹ thuật đỡ đẻ an toàn và điều trị bệnh viêm tử cung. Tại trại Chu Bá Thơ, việc áp dụng giải pháp này đã giúp giảm tỷ lệ bệnh xuống còn 5% và tăng năng suất sinh sản lên 12%.

3.1. Chế độ dinh dưỡng theo giai đoạn sinh sản

Chế độ dinh dưỡng cho lợn nái sinh sản tại trại Chu Bá Thơ được chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn chửa kỳ (114 ngày), giai đoạn tiết sữa (21 ngày) và giai đoạn phục hồi. Trong giai đoạn chửa kỳ, khẩu phần ăn cung cấp 14-16% protein thô, 0,9% canxi và 0,7% photpho để đảm bảo phát triển thai nhi. Giai đoạn tiết sữa, khẩu phần tăng lên 18% protein thô, bổ sung 200g thức ăn hỗn hợp/ngày để duy trì sản lượng sữa. Ngoài ra, bổ sung vitamin E (300 IU/kg) và selen (0,3 ppm) giúp ngăn ngừa bệnh viêm tử cung sau sinh. Theo thống kê, lợn nái được nuôi theo chế độ này có tỷ lệ sống sót của đàn con cao hơn 25% so với chế độ dinh dưỡng thông thường.

3.2. Quy trình vệ sinh và phòng bệnh tổng hợp

Quy trình vệ sinh và phòng bệnh tại trại Chu Bá Thơ bao gồm 5 bước chính: sát trùng chuồng trại bằng vôi bột (20%) trước sinh, tắm lợn nái bằng dung dịch sát trùng (iodine 1%) 3 ngày trước sinh, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi bằng cồn 70%, tiêm phòng vắc-xin (PRRS, E. coli) 1 tháng trước sinh, và theo dõi sức khỏe bằng xét nghiệm máu định kỳ. Đặc biệt, trong giai đoạn sau sinh, chuồng trại được vệ sinh 2 lần/ngày bằng dung dịch chlorhexidine 0,5% để ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Theo báo cáo của Nguyễn Tài Năng (2010), quy trình này giúp giảm tỷ lệ bệnh viêm tử cung xuống còn 8% và tiết kiệm 30% chi phí thuốc thú y so với phương pháp truyền thống.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn quy trình chăm sóc

Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại Chu Bá Thơ đã chứng minh hiệu quả vượt trội trong việc nâng cao sức khỏe sinh sản và năng suất chăn nuôi. Sau 2 năm triển khai, trại đạt tỷ lệ đậu thai 92%, tỷ lệ sống sót của đàn con 95%, và giảm tỷ lệ bệnh xuống còn 5%. Những kết quả này khẳng định tầm quan trọng của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản. Đặc biệt, quy trình đã được nhân rộng tại các trại chăn nuôi lân cận nhờ tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao. Trong tương lai, trại Chu Bá Thơ cần tiếp tục đầu tư vào đào tạo cán bộ thú y, nâng cấp hệ thống chuồng trại hiện đại, và ứng dụng công nghệ 4.0 vào quản lý sức khỏe đàn lợn. Những giải pháp này sẽ góp phần phát triển bền vững ngành chăn nuôi lợn nái sinh sản tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

4.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội

Việc áp dụng quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản tại trại Chu Bá Thơ đã mang lại lợi ích kinh tế đáng kể. Theo thống kê, doanh thu từ bán lợn con cai sữa tăng 25% nhờ năng suất sinh sản cao hơn. Chi phí thuốc thú y giảm 30% do tỷ lệ bệnh tật thấp, trong khi chi phí thức ăn tăng nhẹ (5%) do chế độ dinh dưỡng khoa học. Về mặt xã hội, trại đã tạo việc làm ổn định cho 15 lao động địa phương và đóng góp ngân sách địa phương thông qua thuế. Đặc biệt, mô hình chăn nuôi này góp phần đảm bảo an ninh lương thực tại huyện Việt Yên bằng cách cung cấp nguồn thực phẩm chất lượng cao. Những lợi ích này khẳng định tính bền vững của quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản.

4.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong giai đoạn tới, trại Chu Bá Thơ sẽ tập trung vào 3 định hướng chính: đầu tiên, ứng dụng công nghệ IoT vào giám sát sức khỏe đàn lợn nái thông qua cảm biến nhiệt độ, độ ẩm và hoạt động. Thứ hai, mở rộng quy mô sản xuất bằng cách xây dựng thêm 2 chuồng trại hiện đại theo tiêu chuẩn châu Âu. Thứ ba, phát triển chương trình đào tạo cán bộ thú y về kỹ thuật chăm sóc lợn nái sinh sản, hợp tác với các viện nghiên cứu để chuyển giao công nghệ. Những giải pháp này sẽ giúp trại nâng cao năng suất lên 15% và trở thành mô hình chăn nuôi lợn nái sinh sản tiêu biểu tại khu vực Đông Bắc. Ngoài ra, trại sẽ đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp chế biến thịt để tăng giá trị sản phẩm đầu ra.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phòng trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại lợn chu bá thơ huyện việt yên tỉnh bắc giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Trong những năm vừa qua, ngành chăn nuôi đã gặt hái được nhiều kết quả như nâng cao sức sản xuất, hội nhập mạnh trong khu vực cũng như trên thị trường quốc tế. Năm 2021, tổng đàn lợn của Việt Nam đạt khoảng 28,1 triệu con, đứng đầu Đông Nam Á, đứng thứ 2 châu Á và đứng thứ 6 trên toàn thế giới. Đàn gia cầm xấp xỉ 530 triệu con, đứng thứ 10 châu Á và xếp vị trí 31 trên thế giới. Đàn trâu đạt khoảng 2,3 triệu con; đàn bò đạt 6,5 triệu con, trong đó bò sữa khoảng 357 nghìn con; đàn dê cừu khoảng 2,8 triệu con.

Với làn sóng gia tăng chung của nền kinh tế, ngành chăm sóc thú y ở việt nam cũng đang dần dần tiến triển nhằm cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị cho cộng đồng và có vai trò mấu chốt trong nền kinh tế quốc dân. Ngành chăm sóc thú y nói chung,ngành chăm sóc heo nói riêng là một nghề có truyền thống lâu đời và nổi tiếng của người dân ta. Ngành chăm sóc lợn đã và đang thực hiện cả về lượng, giá trị đàn lợn và hạ tầng đáp ứng chăm sóc, toàn bộ vì mục tiêu nâng tầm giá trị kết quả cho đòi hỏi tiêu dùng của nhân dân nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn nước ta cũng gặp nhiều khó khăn.

Theo báo cáo số liệu từ Cục Chăn nuôi, trong 10 năm qua, đàn lợn của Việt Nam có nhiều biến dộng. Từ năm 2011 - 2021, tổng đàn lợn có sự tăng trưởng 3,4%. Có thể thấy, năm 2019, ngành chăn nuôi lợn nước ta có sự sụt giảm tổng đàn nghiêm trọng, xuống còn khoảng 22 triệu con, do ảnh hưởng từ dịch tả lợn châu Phi. Năm 2016, là năm chăn nuôi đỉnh cao khi tổng đàn lợn đạt 29 triệu con.

Đối với lợn nái, đặc biệt là lợn nái ngoại được chăm sóc theo cách công nghiệp thì các bệnh về sinh đẻ nảy sinh quen thuộc, do năng lực thích ứng của đàn nái ngoại với điều kiện thời tiết việt nam còn kém. Ngoài ra, trong tiến trình sinh nở, lợn nái dễ dàng bị nhiễm các loại vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E. đột nhập và tạo ra nhiều bệnh nhiểm khuẩn sau đẻ như: viêm cơ quan sinh dục, viêm âm môn. Bệnh viêm dạ con, viêm vú là những bệnh không những tác động không qua khâu trung gian tới năng lực sinh đẻ của lợn mẹ, mà lại là một lí do khiến cho tỉ lệ nhiễm bệnh phân trắng ở heo con trong khoảng thời gian theo mẹ tăng vọt.

Nếu không chữa trị đúng lúc, bệnh sinh đẻ có khả năng mang tới các bệnh: loạn sinh đẻ, chậm sinh, không thể sinh con, viêm phúc mạc, nhiểm khuẩn huyết và bỏ mạng. Chính vì thế, bệnh sinh đẻ ở lợn nái ảnh hưởng khá lớn đến giá trị đàn lợn con nói riêng, cũng là tác động đến năng suất, giá trị và hữu hiệu của toàn ngành chăm sóc lợn nói chung. Từ thực tế trên cho thấy, để biết được nguyên nhân gây bệnh và đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh sinh sản của đàn lợn nái là rất cần thiết. Do đó em đã tiến hành thực hiện chuyên đề:“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Chu Bá Thơ huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” 1.

Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Thực hiện định hướng học đi cùng với hành, lý thuyết gắn với thực tế, nhằm cải thiện lý thuyết và nâng cao hiểu biết về thực tiễn, đáp ứng cho công việc về sau. - Nắm được quy trình chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh đẻ tại trại lợn Chu Bá Thơ huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Yêu cầu - Theo dõi quá trình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại.

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị một số bệnh cho đàn lợn nái nuôi tại trại đạt hiệu quả cao. - Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Thực hiện tốt phúc lợi động vật. PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.

Điều kiện tại cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý Trang trại Chu Bá Thơ là trại lợn tư nhân, trực thuộc thôn Năm, làng Chàng, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Vị trí địa lý: - Phía Bắc giáp xóm 7, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Phía Nam giáp xóm 4, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. - Phía Đông giáp xóm 3, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang. - Phía Tây giáp xóm 9, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đặc điểm khí hậu Bắc giang nằm trong khu vực có thời tiết nhiệt đới có mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân và mùa thu có thời tiết ôn hòa, mát mẻ.

Nhiệt độ bình quân 22 – 23oC, độ ẩm thấp từ 73 - 87%. Cơ cấu tổ chức trại Cơ cấu tổ chức trại bao gồm: - Chủ trại: 01 - Kĩ sư tại trại: 02 - Công nhân: 03 - Sinh viên thực tập: 02 2. Cơ sở vật chất của trang trại Trại lợn Chu Bá Thơ nằm trong khu vực bằng phẳng thuận lợi cho việc chăn nuôi và phát triển kinh tế. Khu vực chăn nuôi có diện tích rộng khoảng 5000 m2.

Trong đó: - Đất trồng cây ăn trái: 1200 m2 - Ao, hồ chứa nước và chăm sóc cá: 1800 m2 - Khu trại có diện tích 2000 m2 được phân thành 2 phân khu chính: khu sinh hoạt chung cho người lao động và khu chuồng trại. Khu sinh hoạt chung cho người lao động bao gồm: phòng sinh hoạt chung, nhà ăn, nhà bếp, khu vực hành chính. Khu chăn nuôi được xây dựng tạo nên chuỗi chuồng trại cho 350 nái gồm có: 2 chuồng đẻ 720 m2, 1 chuồng nái chửa 690 m2, 1 chuồng hậu bị 300 m2, 1 chuồng thịt 300 m2 và nhiều công trình kiến trúc phụ đáp ứng cho quá trình chăn nuôi như: kho thực phẩm, phòng sát trùng, kho dược phẩm, phòng tinh. Mỗi chuồng đều có đường cống thoát nước thải, các đường cống này đều thông về một bể chứa nước thải tập lớn tập trung và được giải quyết tại bể bioga.

Nguồn nước được dùng trong toàn trại được lấy từ chuỗi giếng khoan, nước được bơm lên một bể lớn trên cao để đưa nước tới những hệ thống phân phối nước uống, dàn mát và các vòi nước đáp ứng cho việc vệ sinh và trong sinh hoạt. Trang trại đã áp dụng hình thức chăn nuôi khép kín, từ khâu chọn giống đến xuất bán. Các biện pháp phương án chống dịch được thi hành đúng cách, chuyên nghiệp, toàn bộ và chủ động tập trung tinh thần chống dịch trên đàn lợn. Để bảo đảm việc chống dịch hữu hiệu mà công việc vệ sinh và sát trùng được thực hành nghiêm đúng cách, kỹ thuật.

Người lao động được cung cấp áo quần bảo hộ, ủng và nhiều đồ dùng vật dụng khác đáp ứng trong quá trình làm việc. Cơ sở tài liệu có liên quan đến chuyên đề 2. Những kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản và đàn lợn con 2. Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ - Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn nái.

Công việc thực hiện trước lúc hỗ trợ sinh cho lợn nái đẻ: dựa vào thẻ nái, lịch phối giống để ước tính ngày đẻ của lợn một cách chuẩn xác, từ đó sắp xếp người lao động trực đẻ, quan sát hỗ trợ sinh cho lợn và xử lý đúng lúc, tránh những tình huống đáng tiếc có khả năng xảy ra. + Trang bị ô chuồng cho lợn nái đẻ: Các ô chuồng đẻ cần được tẩy rửa vệ sinh diệt khuẩn sát trùng tất cả các địa điểm nuôi tại bên trong chuồng như nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và nái mẹ. Chuồng phải khô ráo, thoáng gọn gàng vệ sinh, cung cấp đủ ánh sáng. Sau khi vệ sinh, sát trùng và tiêu độc sẽ để trống chuồng từ 4 - 5 ngày trước thời điểm cho lợn nái vào đi đẻ.

Cho lợn đi đẻ trước 5 - 7 ngày để lợn quen dần với chuồng mới và thức ăn mới. Cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ trước khi chuyển lợn từ chuồng nái chửa sang chuồng đẻ. Lợn nái trước khi đẻ một ngày được tắm rửa bằng nước sạch để rửa trôi hết đất, phân dính trên người và sau đó tắm lại bằng nước sát trùng cuối cùng là dùng khăn thấm nước lau sạch bầu vú và âm hộ. Làm, như vậy sẽ giảm thiểu được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có chứa vi khuẩn gây bệnh.

+ Chuẩn bị ô úm: Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng giữ ấp thân nhiệt nâng cao sức đề kháng, giảm tỉ lệ lợn mẹ đè chết con, đặc biệt là những ngày mới sinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe chưa hồi phụ. Cần chuẩn bị xong ô úm của lợn con trước khi lợn mẹ đẻ với kích thước ô úm là 0,45m x 0,9m x 0,5m. Ô úm được rửa sạch, phun sát trùng và được đặt chắc chắn trong ô chuồng lợn mẹ. Trong ô úm chuẩn bị trước thảm bóng sưởi và để trống từ 3 - 5 ngày trước thời điểm đón lợn con mới chào đời.

+ Các dụng cụ cần thiết: dao thiến, panh kẹp, kéo, cồn sát trùng, máy mài nanh, kìm cắt đuôi, kìm bấm số tai, khăn lau hoặc vải màn, bóng sưởi, khay đựng phương tiện, thùng chứa nước, sổ sách, các loại thuốc như dược phẩm trợ đẻ, dược phẩm trợ sức, dược phẩm kháng sinh, bột khô. - Cách trực và hỗ trợ sinh cho nái đẻ: Trực và hỗ trợ sinh là công tác quan trọng để tăng tỉ lệ sống của lợn con và can thiệp kịp thời hỗ trợ lợn nái trong những tình huống đẻ khó. Việc trực, hỗ trợ sinh sẽ bằng những việc giám soát liên tục để nắm bắt được thời gian đẻ và hỗ trợ sinh cho lợn nái tránh hiện trạng lợn đẻ mà thiếu người trực đẻ, hỗ trợ sinh. - Các cách nhận biết lợn nái sắp đẻ: Lợn nái sắp đẻ bụng to võng xuống, khi lợn nằm thai cử động nhiều, lợn sẽ nằm nhiều hơn đứng.

Trước khi đẻ 3 - 5 ngày bầu vú bắt đầu cứng săn chắc. Trước khi đẻ 1 - 2 ngày nếu vắt thấy có sữa chảy ra, bộ phận sinh dục bên ngoài dãn lỏng hoặc sưng to có màu hồng đỏ, 2 bên gốc đuôi lõm xuống. Nếu thấy lợn có biểu hiện bỏ ăn hoặc ăn ít, nằm nhiều, là lúc lợn sắp đẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ