Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây bưởi Bưởi có nguồn gốc ở Trung Quốc, Án Độ, Đông Dương là giống cây có múi chịu khí hậu nóng âm nhất và thực tế chỉ trồng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nóng. Cây bưởi cao, to, lá có cánh rộng, hoa to, quả to chất lượng tốt hay xấu tùy theo giống (Vũ Công Hậu, 2000). Bưởi Da Xanh và bưởi Năm Roi là hai dòng bưởi phổ biến nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và có giá trị xuất khẩu cao.
Xuất khâu bưởi tươi, đặc biệt là bưởi Da Xanh, đã được bắt đầu từ năm 2007 ở thị trưởng Đức và dần dần mở rộng sang các nước khác (Huỳnh Ngọc Thanh Tâm và ctv, 2021). Giới thiệu chung về bưởi Da Xanh Cây bưởi Da Xanh có tên khoa học là Citrus maxima Burm. Merr thuộc chi Citrus, nhóm Cam quýt, họ Rutaceae, là loại cây được trồng lâu đời và phân bố rộng khắp từ miền Bắc đến miền Nam nước ta (Thái Hà và Đặng Mai, 201 1). Giống bưởi Da Xanh chính gốc ở huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XX.
Bưởi Da Xanh là loại bưởi rất được ưa chuộng, được trồng nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là Bến Tre. Bưởi Da Xanh có dạng hình cầu, nặng trung bình từ 1,2 - 1,5kg/quả. Khi chín vỏ quả có màu xanh đến xanh hơi vàng; tép bưởi mau hồng đỏ, khá to, bó chặt và dé tách khỏi vách múi; nước quả khá có vi ngọt đến ngọt chua rất ngon; rất ít hạt, tỷ lệ thịt trên 55%. Phẩm chất thơm ngon với năng suất cây 11 năm tuổi là 100kg/cây.
Thich hợp cho việc xuất khâu qua tươi. Giới thiệu chung về bưởi Năm Roi Bưởi Năm Roi có tên khoa học là Citrus grandis (L.) Osbeck được ghi nhận là xuất phát từ huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Bưởi Năm Roi chiết nhánh lớn trồng hai năm bắt đầu cho quả, thời gian từ khi trổ hoa đến khi quả chín khoảng 8 tháng và có thé neo thêm 1 - 2 tháng, năng suất 20kg/cây, cây trưởng thành trung bình cho 53 kg/cây. Quả bưởi Năm Roi hình quả lê, cao trung bình 17,2cm và đường kính 15,lem, có khối lượng 1.241,8g khi chin vỏ quả có màu xanh vàng thấy rõ túi tinh dầu, tép bưởi có màu vàng, vỏ qua san và dày đến 19mm, nặng 516g chiếm 41,6% khối lượng quả (Lê Văn Hòa và Nguyễn Bảo Vệ, 2016).
Trái bưởi Năm Roi dễ lột tróc vỏ lụa, có nhiều múi, rất mọn nước và ngọt thanh, trái có núm, vỏ mỏng, ráo nước, phù hợp ăn tươi, chế biến, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu (Hà Chí Trực và ctv, 2012). Bưởi Nam Roi có lá đơn, không rụng theo mùa, có màu xanh đậm, hình trứng dai 10,7 cm và rộng 6,6 cm. Cuống lá khá dài, khoảng 6,2 mm và cánh lá lớn hình trứng ngược, dài 38,6 mm và rộng 33,5mm (Tran Thé Tục và ctv, 1998). Đối với bưởi Năm Roi, thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 7-8 tháng (từ trái non đến lúc thu hoạch là 162-170 ngày) tùy theo mùa vụ, tuổi cây, tình trạng sinh trưởng (Ngô Hoàng Duyệt và ctv, 2012).
Bưởi Nam Roi có hai đợi thu hoạch nhiều là vào tháng Tám và tháng Chạp âm lịch (Nguyễn Đức Cường, 2010). Màu xanh của trái chuyển màu nhạt, túi tiunh dầu trên vỏ nở, khi đúng độ chín phan dau trái lõm vào, khi chín gõ vào trái có tiếng trầm. Những chỉ số và cảm quan này có thể tham khảo xem là chỉ số thu hoạch bưởi (Ngô Hoàng Duyệt và ctv, 2012). Đặc điểm thực vật học của cây bưởi Da xanh Cây sinh trưởng tốt trên đất phù sa ngọt, đủ nước tưới quanh năm, cây có khả năng cho quả 2,0 - 2,5 năm sau khi trồng trong điều kiện chăm sóc tốt, thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 7,0 - 8,0 tháng, có khả năng cho thu hoạch quanh năm nhưng tập trung nhất từ tháng 8 - 11 hàng năm, năng suất khá cao (120 - 150kg/cây/năm, đối với cây 10 năm tuổi).
Lá non có màu xanh nhạt và chuyên dần sang xanh đậm khi lá gia, mặt trên của lá có màu xanh đậm, cánh lá có hình tim ngược, mép lá có khía giống như tai bèo, phiến lá có dạng trứng ngược, phiến lá xếp chồng lên cánh lá rất đặc trưng cho giống. Phát hoa mọc thành chùm ở nách lá, hoặc tận cùng trên cành, mỗi phát hoa có thể chỉ mang một hoặc một chùm hoa, đài hoa có màu xanh vàng, cánh hoa màu trắng và có hình lòng thuyền, khi nở hoa có mùi rất thơm. Nhị đực màu vàng chiều đài bằng hoặc đài hơn so với nhụy. Tất cả các hoa đều có khả năng được thụ phan dé hình thành quả, nhưng quá trình phát triển trên mỗi chùm hoa chỉ còn lại 1 - 2 quả.
Qua có trọng lượng khá to trung bình 1,815g, dạng quả hình cau, phan tiếp giáp với cuống hình cụt, khi chin vỏ quả vẫn giữ màu xanh nhưng đôi khi ngã sang màu xanh hơi vàng, tâm quả rỗng, các tuyến tinh dầu trên bề mặt vỏ quả chín phông lên làm bề mặt vỏ nhám, trung quả bi có màu hông, day vỏ qua 17,1 sau 2 - 3 năm trồng cây bat đầu cho quả, tuy nhiên, vỏ qua thường mỏng hơn khi cây cho quả ổn định. Quả có 13,4 múi, thịt qua giòn (so với bưởi Năm Roi), tróc khỏi vách múi tốt, tép màu hồng bó chặt, ráo nước, tỷ lệ thịt qua > 60%, hương vi ngọt thanh (độ brix: 10,1%), pH = 4,6 không the, không dang, ít hạt đến không hat trong trường hợp trồng chuyên canh. Yêu cầu về sinh thái của cây bưởi Da Xanh - Dat trồng: Đất phải có tầng canh tác dày ít nhất là 0,6m và thành phần co giới nhẹ hoặc trung bình. Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, hàm lượng hữu cơ cao >3%, không bị nhiễm mặn.
Cây thích hợp với pH tương đối rộng từ 4 tới 8, tối ưu nhất là đất chua nhẹ từ 5,5 tới 6,5% (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004; Huỳnh Trí Đức và ctv, 2006). - Nước và 4m độ: Luong mưa cần thiết cho sự phát triển của bưởi là khoảng 1. Trong mùa nắng, cần phải tưới nước và lượng muối NaCl trong nước tưới không quá 3g/lit nước (3/oo). Cây bưởi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và đậu quả nhưng cũng rat sợ ngập ung, 4m độ thích hợp là 70 - 80% (Huỳnh Trí Đức và ctv, 2006).
- Ánh sáng: Cây thích bóng râm không cần cường độ ánh sáng quá cao. Cường độ ánh sáng thích hợp là 10. Vì vậy, khi thành lập vườn trồng bưởi nên bố trí mật độ trồng và khoảng cách trồng hợp lý dé hạn chế quả bị nám nắng. - Nhiệt độ: Cây bưởi thuộc nhóm cây có múi có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới nên cây không chịu được nhiệt độ quá cao hay quá thấp nhưng cây chịu nóng tốt và chịu lạnh kém (Vũ Công Hậu, 2000).
Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển là 23 - 29°C. Cây ngừng sinh trưởng ở ngưỡng dưới là 13°C, ngưỡng trên là 42°C và chết ở -5°C (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004). Một số loài côn trùng gây hại quan trọng trên bưởi Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2015) tại Việt Nam các loài côn trùng và nhện gây hại trên cây có múi rất đa dạng, với ít nhất 78 loài được phát hiện, các loài hiện diện phô biến bao gồm: sâu đục quả bưởi (Citripestis sagittiferella), sâu đục vỏ quả (Pray endocarpa Meyrick), ray chỗng cánh (Diaphorina ciri Kuwayara), bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis Hood), sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Staintion), các loài bướm phượng (Papilio spp. Những năm gan đây một đối tượng dich hại đáng quan tâm khác là ruồi đục qua Bactrocera dorsalis và Bactrocera correcta.
Không những gay hại trực tiếp lên quả, rudi đục quả B. correcta còn là đối tượng kiểm dịch thực vật của nhiều nước nhập khẩu sản phẩm tươi từ Việt Nam, sự xuất hiện của rudi đục quả B. correcta gây trở ngại trong việc xuất khâu bưởi. Tình hình ruồi đục quả Bactrocera dorsalis va Bactrocera correcta trên thế giới 1.
Thành phần, phân bố ruồi đục quả trên thế giới Trên thế giới có khoảng 4.500 loài ruồi đục qua (Diptera: Tephritidae), trong đó có 50 loài được phân loại là loài dịch hại nguy hiểm chủ yếu đối với cây ăn quả, cây rau ăn quả và 30 loài khác được đánh giá là loài dịch hại thứ yếu (Allwood và Drew, 1997; Drew, 2001). Giống ruồi đục qua Bactrocera được ghi nhận là quan trọng ở khu vực Thái Bình Dương và đa số các loài trong giống này thuộc nhóm kiêm dịch thực vật của nhiều nước ở trên thế giới (Roger và ctv, 2012). Loài ruồi đục quả Phương Đông nằm trong giống Bactrocera, thuộc loài Bactrocera dorsalis. Loài ruồi đục quả này xuất hiện ở California, Florida vào năm 1987 và đã bị tiêu diệt, nhưng đến 1989 nó lại xuất hiện trở lại.
Loài ruồi đục quả này chưa ghi nhận có ở khu vực châu Âu. Tại châu A, loài ruồi đục qua Phương Đông B. dorsalis được ghi nhận có mặt ở Đài Loan từ năm 1912. Từ đó đến nay loài này đã mở rộng phân bố tới nhiều vùng khác nhau thuộc khu vực châu Á và Thái Bình Dương như An Độ, Paskistan, Nepan, Việt Nam, Lao, Thái Lan.
Ruồi đục quả Phương Đông là một trong năm loài ruồi đục quả quan trọng ở khu vực Đông Nam Á. Theo Drew va ctv (2002), B. dorsalis là một trong các loài gây hại lớn trong giống Bactrocera phá hoại những loài cây có quả hoang da và được trồng, là loài gây hại thứ nhì chỉ xếp sau B. dorsalis được xem là loài đặc hữu và phổ biến ở các khu vực nhiệt đới của Đông Nam A (Clarke va ctv, 2005).
Theo Roger và ctv (2007), B. dorsalis được phát hiện trên dao Tahiti vào tháng 7 năm 1996. Các chương trình diệt trừ được tiến hành từ năm 1997 đến năm 2001, nhưng không thành công. dorsalis đã gia tăng quan thể và gây hại trên 29 loại quả ky chủ khác nhau từ năm quan dao: Tahiti, Moorea, Ralatea, Tahaa và Huahine.
Qua phân tích các mẫu thu thập được cho thấy B. dorsalis đã thay thé hai loài B. kirki va trở thành loài có quan thé nhiều nhất ở các vùng ven biển. dorsalis cũng đã du nhập vào Châu Phi và kề từ khi xuất hiện lần đầu tiên ở Kenya trong năm 2003, chúng đã lan rộng gần như khắp toàn bộ khu vực cận Sahara (Lux và ctv, 2003; Goergen và ctv, 2011).
Ở châu Phi, loài này tập trung chủ yếu ở vùng đất thấp 4m- âm, rừng và vùng dat trồng trọt. Tại Hoa Ky, việc tiêu diệt loài ruôi đục quả B.