Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo 1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới Lúa là cây lương thực đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích sau lúa mì, là cây có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng và cho năng suất cao.Đặc biệt với các nước châu Á đây là lương thực chính để tạo ra các sản phẩm thiết yếu phục vụ đời sống. Chính vì lý do trên lúa gạo có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng thiết yếu cho con người.
Vùng trồng lúa tương đối rộng lớn được phân bố từ 53 vĩ độ Bắc đến 35 vĩ độ Nam. Ở châu Á cây lúa phân bố từ 30 vĩ độ Bắc đến 10 vĩ độ Nam, chiếm trên 90% diện tích trồng lúa trên thế giới, nhưng năng suất lúa vẫn không cao hơn so với các châu khác. Các nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới là: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam [19], [ 31].Tình hình sản xuất lúa ở các châu lục trên thế giới năm 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Châu lục (ha) (kg/ha) (tấn) Châu Phi 10.524 Châu Đại Dương 117.1 cho thấy các diện tích trồng lúa ở các châu lục là không đồng đều. Châu Á có diện tích trồng lúa lớn nhất, hơn Châu Phi 13,4 lần, Châu Mỹ 147,1 lần.
Về sản lượng của các châu lục cũng có sự biến động và không đồng đều. Năng suất lúa của các châu lục cũng chênh lệch nhau rất lớn. Châu Đại Dương, Châu Mỹ có năng suất cao vượt trội tương ứng đạt 99 tấn/ha và 86 tấn/ha. Ở Châu Á có diện tích lớn, khí hậu thích hợp nên năng suất lúa cao đạt 45 tấn/ha.
Đối với Châu Phi do diện tích trồng lúa cạn chiếm 0- 20% và điều kiện khí hậu khắc nghiệt nên năng suất lúa thấp. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Bảng 2. Tình hình sản xuất lúa gạo của một số quốc gia trên Thế giới Diện tích Sản lượng Năng suất Nước (triệu ha) (triệu tấn) (1000 tạ/ha) Australia 113,64 1.709,79 45,27 [Nguồn: http//:faostat.fao, [54]] Theo thống kê ở Bảng 2.2, Australia là nước đạt năng suất cao nhất thế giới với 102.18 tạ/ha (Faostat, 2013), cao hơn gấp đôi so với bình quân của thế giới. Thành tựu này có được là nhờ áp dụng thành công các công nghệ khoa học kĩ thuật mới vào việc sản xuất lúa.
Phần lớn diện tích trồng lúa và sản lượng thu được tập trung chủ yếu ở các nước châu Á. Trung Quốc là nước có sản lượng lúa lớn nhất châu Á do áp dụng thành công công nghệ khoa học vào sản xuất lương thực, đặc biệt là công nghệ sản xuất lúa lai. Thái Lan là nước có diện tích và sản lượng không cao nhưng là nước rất chú trọng đến quá trình chọn tạo và sản xuất gạo chất lượng. Năm 2005, Thái Lan đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng nhưng xuất khẩu lại lớn nhất thế giới.
Sở dĩ Thái Lan Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 có được thành công đó là do chất lượng gạo Thái Lan tốt và đa dạng về chủng loại hàng hóa. Để tăng cường cạnh tranh xuất khẩu ra nước ngoài, Thái Lan thường xuyên chú trọng các chính sách nông nghiệp như: Bảo hộ nông phẩm trong nước, cho nông dân vay thế chấp bằng gạo, điều tiết cung cầu khi giá thị trường, thi hành những chính sách hỗ trợ xuất khẩu… Trong những năm vừa qua Việt Nam có những bước vựơt bậc trong sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. Từ một nước thiếu ăn trong những năm 80 của thế kỷ trước, hiện nay Việt Nam đã vươn lên sản xuất lúa gạo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và có xuất khẩu. Lượng gạo xuất khẩu ngày càng tăng và đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, nước ta từ mỗi năm góp từ 13-17% lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới.
Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam. Ở Việt Nam, một trong những cái nôi của lúa gạo thế giới, sản xuất lúa gạo đã gắn liền với truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hiện nay, sản lượng lúa chiếm trên 90% sản lượng của các cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân. Trong hơn 20 năm qua, năng suất và sản lượng lúa đã tăng gấp khoảng 2 lần, hiện nay năng suất bình quân đạt 5,3 tấn/ha/vụ, riêng vụ Đông Xuân, nhiều nơi ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng đã đạt 7 tấn/ha.
Việt Nam từ một nước nhiều năm thiếu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 của thế giới.Trong 22 năm qua, Việt Nam đã xuất khẩu trên 75 triệu tấn gạo, trị giá 23 tỷ USD. Những năm trở lại đây, do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu và sự thay đổi của thị trường trên thế giới nên tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam có nhiều biến động thay đổi, điều đó đước thể hiện trong Bảng 2. Qua kết quả của Bảng 2.5 chúng ta nhận thấy: từ năm 2007-2013 diện tích gieo trồng lúa giữ nguyên và không tăng lên, giữ ở mức trung bình 7 triệu ha. Năng suất trung bình đạt 49,9 đến 56 tạ/ha.
Từ những năm 2000 năng suất lúa đạt 49,9 tạ/ha, trong những năm về sau nhờ việc áp dụng kỹ thuật, cải tiến trong nông nghiệp mà năng suất lúa đã tăng lên đáng kể đạt 56 tạ/ha trong năm 2012. Về sản lượng lúa thu được, tính đến năm 2010 sản lượng lúa đat xấp xỉ 39,9 triệu tấn, đây là mức kỷ lục trong vòng 20 năm qua, đến năm 2013 đạt mức 44,04 triệu tấn. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Bảng 2. Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam từ 2007 - 2013 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2007 7,21 49,90 35,94 2008 7,42 52,30 38,73 2009 7,44 52,40 38,95 2010 7,49 53,40 40,01 2011 7,65 55,30 42,53 2012 7,750 56,00 43,40 2013 7,90 55,70 44,04 (Nguồn: FAOSTAT, [54]) Năm 2014, thị trường lúa gạo Việt Nam mang một số sự kiện nổi bật.
Chính phủ cho phép bổ sung Vinafood 1 (Tổng công ty Lương thực miền Bắc) cùng Vinafood 2 (Tổng công ty Lương thực miền Nam) làm đầu mối giao dịch hợp đồng tập trung tại các thị trường Philippines, Indonesia và Malaysia. Cạnh tranh xuất khẩu gạo vào Trung Quốc ngày càng tăng thêm, Việt Nam chiếm hơn nửa thị trường này, bên cạnh Pakistan, Thái Lan và Myanmar. Cũng giống 2013, VN mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo trong vụ Đông-Xuân ở đồng bằng sông Cửu Long với lãi suất hỗ trợ để hạn chế dao động giá cả lúa gạo trong nước. Từ 18/4, giá gạo xuất khẩu tối thiểu tăng thêm 20 đô la lên 375 đô la/tấn cho gạo 25% tấm.
Suốt năm, giá gạo xuất khẩu bị tác động mạnh do cạnh tranh mãnh liệt với Ấn Độ và Thái Lan. Dù thế, giá gạo xuất khẩu VN tăng lên liên tục từ quý 2 đến tháng 9-2014 mới bắt đầu xuống thấp.Châu Á và Châu Phi là thị trường nhập khẩu chính của VN. Thực trạng nghiên cứu lúa ở Bình Định. Bình Định là một tỉnh thuộc khu vực miền Trung, với số dân hơn 1,5 triệu người, hơn 69% dân số sống bằng nghề nông, diện tích đất tự nhiên khoảng 605.060 ha, vùng đồi núi chiếm 67% diện tích, vùng đồng bằng chiếm 16%, còn lại là vùng cát và đầm phá ven biển.
Với khí hậu khắc nghiệt quanh năm, nắng nóng mưa nhiều, đã ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp nơi đây. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Trong sản xuất nông nghiệp thì cây lúa có vị trí quan trọng trong đời sống của người dân. Việc trồng lúa đã cung cấp lương thực cho người dân và cũng đóng góp một phần không nhỏ trong sản xuất lúa gạo của Việt Nam. Tuy nhiên diện tích, sản lượng và năng suất lúa ở Bình Định đều thấp hơn so với trung bình của cả nước.
Các vùng trồng lúa của Bình Định thường bị chia cắt, phân tán, manh mún, không tập trung lớn để chuyên canh, đất đai có độ phì thấp. Nhưng nhìn chung tình hình sản xuất lúa trong những năm gần đây cũng có nhiều tiến bộ đáng kể, tình hình sản xuất lúa trong những năm qua được thể hiện ở Bảng 2. Tình hình sản xuất lúa ở Bình Định Diện tích Năng suất Sản lượng Năm ( triệu ha ) ( tạ/ha ) (triệu tấn ) 2005 111,723 47,2 527,361 2006 120,962 50,2 607,782 2007 111,937 51,7 579,189 2008 115,105 54,1 622,145 2009 113,896 53,1 604,427 2010 113,132 56,0 633,269 2011 112,329 57,8 649,289 2012 111,242 58,6 651,734 (Nguồn:FAOSTAT, [54]) Nhìn chung diện tích sản xuất ngày càng giảm dần, năm 2005 diện tích là 120,962 nghìn ha dến năm 2012 giảm còn 111,242 nghìn ha. Nguyên nhân do nhiều yếu tố như: quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, sự gia tăng dân số, hiện tượng sa mạc hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ… Tuy diện tích sản xuất có xu hướng giảm, nhưng năng suất ngày càng tăng lên do Bình Định đã có nhiều chú trọng trong công tác giống, sử dụng các giống mới năng suất cao, chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi vào sản xuất, thay thế những giống địa phương dài ngày, năng suất thấp, nên đã đưa năng suất sản xuất lúa của Bình Định tăng từ 47,2 tạ/ha (năm 2005) đến 58,6 tạ/ha (năm 2012).
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 Về sản lượng : Do năng suất ngày càng tăng nên sản lượng cũng ngày càng tăng lên, từ 527,361 nghìn tấn (năm 2005) lên 651,734 nghìn tấn (năm 2012). Tổng quan nghiên cứu tình hình nghiên cứu rầy nâu 1. Tình hình gây hại của rầy nâu trên Thế giới và Việt Nam 1. Trên Thế giới Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa, nhất là các nước ở đồng bằng nhiệt đới Á châu như Ấn Độ, Bangladesh, Đài Loan, đảo Solomon, Indonesia, Fiji, Malaysia, Nhật, Phillipines, Thái Lan, Sri - Lanka, Tân Guinea, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam.
❖ Nhật Bản: Tổng kết những vụ dịch rầy nâu đã xuất hiện từ khoảng năm 700 đến năm 1950, Miyashita thấy dịch rầy nâu xuất hiện ngày càng nhanh hơn: từ năm 700 đến 1020, trung bình 22,5 năm mới có một vụ dịch, từ 1400 đến 1878 trung bình 5,6 năm và từ 1879 đến 1950 trung bình 1,4 năm có một vụ dịch. Năm 1879 ước tính rầy nâu làm thiệt 960.000 tấn thóc, bằng 18,49% sản lượng thóc của cả nước.