Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Giới thiệu tong quát về cây hoa cát tường 1. Vị trí phân loại và nguồn gốc Hoa cát tường có vi tri phân loại như sau: - Ngành: Magnoliophyta - Lớp: Magnoliopsida - Lớp phụ: Asteridae - Bộ: Gentianales - Họ: Gentianaceae - Giống: Eustoma -Tên khoa học: Eustoma russellianum (tên đồng nghĩa Eustoma grandiflorum) -Tên tiếng Anh: lisianthus. Hoa cát tường có nguồn gốc ở vùng đồng bằng, khí hậu ấm, khô ở phía nam nước Mỹ và phía bắc nước Mexico.
Nó được tìm thấy trong tự nhiên ở các đồng cỏ của bang Texas, Oklahoma, Kansas, Nebraska, Colorado, Wyoming, va South Dakota của nước Mỹ, nơi mà hoa nay được gọi la Texas Blue Bell, Prairie Rose, va Prairie Gentian (Harbaugh, 2007). Tên khoa hoc Eustoma được dat theo 2 từ Hy Lap “Eu” (dep, tốt) và “stoma” (miệng). Đây là một loài hoa thân thảo không chi phổ biến trong thị trường hoa cắt cành mà còn được biết đến dưới dạng hoa chậu, hoa thảm. Đặc điểm thực vật học của cây hoa cát tường Theo Harbaugh (2007), cây hoa cát tường có đặc điểm thực vật học sau: Thân: thân thảo, chia thành nhiều đốt.
Các đốt sát gốc thường to và ngắn hơn các đốt trên ngọn, độ dài các đốt thay đổi tùy theo giống. Bên ngoài thân được phủ một lớp sáp trắng mỏng. Cây có thé cao từ 15 đến 120 cm, tùy giống. Rễ: rễ của cát tường thuộc loại rễ cọc.
Rễ phát triển theo chiều sâu, ít phát triển theo chiều ngang, do vậy cây có khả năng chịu hạn cao. Lá: lá đơn, mọc đối, hầu như không có cuống và hơi mọng nước. Lá đưới cùng ở trên thân là lá to nhất, thường dài khoảng 12,7em và rộng 7,6cm. Càng ở phía trên cao cua thân thì lá càng nhỏ hơn, thường dài dưới 5cm và rộng khoảng 1,3cm.
Hình dạng của lá thay đổi rất lớn giữa các giống khác nhau. Hình dạng lá cơ bản thường là hình trứng hoặc hình bầu dục, nhưng một vài giống qua quá trình lai tạo có lá dạng hình mác hoặc dang hình mác ngược. Mau sac của lá cũng thay đôi từ màu xanh xám (như lá màu hoa cam chướng) đến màu xanh sáng, màu xanh tối, hay xanh biếc. Hoa: đa dạng về màu sắc, hình dạng, và kích thước.
Màu nguyên thủy của hoa cát tường là màu xanh, về sau do chọn lọc, lai tạo nên đã có sự xuất hiện các giống hoa có màu sắc đa dạng như hồng, trắng, kem, tím, vàng, hồng, hồng phat, tim dam, trang viền tim,. Hoa lớn, lưỡng tính, tự thu phan, mọc thang đứng từ than cây, có nhiều dạng khác nhau như hình chuông, hình phéu, hình ống, hay cánh bên ngoài phẳng, cánh bên trong hình ống. Hoa cát tường thường được mô tả giống như hoa hồng ở giai đoạn nụ, như hoa tulip khi bắt đầu nở và như hoa anh túc khi chúng đã nở hoàn toàn. Hoa có 2 dạng: hoa đơn và hoa kép.
(Nguồn: https://www.com) Quả: cây cát tường có khả năng đậu quả cao. Quả hình tròn, dạng quả nang tự nở. Quả còn non có màu xanh đậm, khi chín, vỏ quả chuyển sang màu xanh xám và vỏ quả tự nứt ra. Mỗi quả chứa vài trăm hạt.
Hạt cây hoa cát tường có kích thước rất nhỏ, khoảng 19. Hạt còn non có màu kem; khi chín, hạt có màu đen nhánh. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây hoa cát tường Tùy thuộc giống cây, điều kiện thô nhưỡng mà cây hoa cát tường có thê là cây ngắn ngày hay cây lâu năm (1- 2 năm). So với các loại cây trồng khác thì cây hoa cát tường được xem là khó trồng hơn, bởi hoa cát tường có thời kỳ cây con kéo dải (10- 12 tuần) nên dễ bị sâu bệnh hại trong thời kỳ vườn ươm.
Thời gian từ khi gieo hạt tới khi cho hoa kéo dài từ 5 — 6 tháng. Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây hoa cát tường gồm 5 giai đoạn (Sakata Ornamentals, 2012): Giai đoạn 1 (1- 14 ngày): giai đoạn hat nảy mầm. Trong suốt quá trình này, cần tưới nước đề duy trì độ âm, nhiệt độ 21°C, ánh sáng 1. Giai đoạn 2 (15- 21 ngày): Khi cây con xuất hiện, cần hạ nhiệt độ xuống 15 — 20°C và cung cấp dinh dưỡng cho cây.
Nhiệt độ ban đêm cao hơn 22°C sẽ kiềm hãm sự phát triển của cây. Giai đoạn 3 (22- 56 ngày): Giai đoạn này cây con tăng trưởng chậm. Nếu nhiệt độ, âm độ quá cao vào ban đêm và cường độ ánh sáng yếu thi tốc độ tăng trưởng của cây sẽ bị anh hưởng va phát sinh một số bệnh hai. Giai đoạn 4 (57- 80 ngày): Khi cây con có 2 cặp lá (4 lá thật) thì chuyên ra ngoài ruộng sản xuất.
Nếu dé cây giống trong khay quá lâu thì rễ cây sẽ bị xoắn, việc chuyên ra ruộng sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn, cây ra hoa sớm khi thân cây còn ngắn, năng suất và chất lượng hoa đều giảm. Giai đoạn 5 (81- 150 ngày): Day là giai đoạn sản xuất hoa, giai đoạn này cần tạo điều kiện thích hợp đề cây sinh trưởng phát triển tốt nhất thì cây mới cho năng suất và chất lượng hoa cao. Cành hoa cát tường sau khi cắt khỏi cây, có thể tươi từ 2 — 3 tuần nếu được chăm sóc tốt. Yêu cầu sinh thái của cây hoa cát tường Cây hoa cát tường yêu cầu lượng ánh sáng cần cho quá trình quang hợp không cao.
Cây phát triển tốt ở điều kiện ánh sáng vừa phải (70-80 Klux ánh sáng tự nhiên), giờ chiếu sáng tôi ưu từ 16-18 giờ/ngày sẽ cho hoa to và dep. Do vậy, về mùa hè cần che cho cây một lớp lưới đen hoặc lưới màu dé giảm bớt từ 30 — 40% ánh sáng nhằm giúp gia tăng chiều dài cành hoa. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển từ 18-20°C vào ban ngày, và 15-18°C vào ban đêm. Nếu nhiệt độ ban đêm thấp dưới 15°C sẽ làm cây sinh trưởng cham; néu nhiệt độ ban ngày cao hon 28°C thì hoa sẽ nở sớm, do bi rút ngắn thời gian sinh trưởng bình thường nên chất lượng hoa không cao.
Hoa cát tường sinh trưởng phát triển tốt ở đất trồng có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều canxi, nhiéu mun, dé thoát nước, pH dat 6,0 — 6,8, độ am dat từ 65 - 75%. Các giống hoa cat tường Theo Chi cục TT và BVTV tinh Lâm Đồng (2013), hoa cát tường có nhiều giống, tập trung vào 2 dạng chính: dạng hoa đơn (chỉ có 1 vòng cánh hoa chung quanh tâm) và dạng hoa kép (vài vòng cánh hoa). Dạng hoa đơn gồm có các nhóm: Nhóm Flamenco: nhóm này thích hợp với cường độ ánh sáng cao và quang chu kỳ dai ngày. Thân hoa dài và mảnh, có các màu xanh bóng, hồng, vàng và trắng.
Nhóm Hedi: thích hợp với cường độ sáng trung bình, quang chu kỳ ngắn ngày, gồm có nhiều màu dé lựa chọn. Nhóm Laguna: ưa cường độ ánh sáng mạnh, dài ngày, có thé trong vụ hè thu. Thân hoa dài khoảng 48cm, một cây thường có 3 thân và 25 nụ hoa, có 2 màu xanh đậm và xanh tía. Nhóm Mabilu: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình, trồng mùa xuân và mùa thu.
Hoa nhiều màu: xanh đậm, trắng, hồng, trang vién xanh va mau hoa ca. Nhóm Yodel: có than hoa dai khoảng 45-50cm, gom cac mau xanh dam, xanh, hoa cà, hong phan, hồng và trắng. Dạng hoa kép gồm có các nhóm: Nhóm Avilia: thích hợp với ánh sáng yếu, nhiệt độ mát, do đó thường được trồng vào mùa đông. Hoa của nhóm giống này có các màu trắng ngà, viền xanh, hồng cánh sen và đỏ tía.
Nhóm Balboa: thích hợp nhiệt độ và cường độ ánh sang cao hơn nhóm Avilia, do đó phủ hợp trồng vụ xuân hè. Hoa của nhóm giống này có các màu xanh, viền xanh và xanh tía. Nhóm Catalina: thích hợp với điều kiện dai ngày, thời tiết 4m áp, có thê trồng vụ đông, gồm các màu vàng và xanh tía. Nhóm Candy: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình, chu kỳ ánh sáng ngắn ngày.
Hoa của nhóm này thường nở đồng loạt và có nhiều màu sắc khác nhau. Nhóm Echo: là nhóm phổ biến trong các giống hoa cát tường, không thích hợp với ánh sáng quá cao hay thấp, thích hợp cho trồng vụ xuân. Các màu phô biến của nhóm này gồm: xanh bóng, xanh tía, hồng, hồng tía, trắng tuyên. Nhóm Mariachi: thích hợp dé trồng trong chậu vi hoa có nhiều cánh, cánh hoa mỏng hơn các giống khác nên rất đẹp.
Các màu phô biến của nhóm Mariachi là trắng, hồng, hồng nhạt, xanh. Một số bệnh hại phố biến trên cây hoa cát tường Cũng như các cây trồng khác, hoa cát tường bị nhiều loại bệnh hại tấn công, bao gồm các bệnh do nam, vi khuẩn, virus và tuyến trùng gây ra. Theo McGovern (2016), các bệnh quan trọng đáng chú ý trên cây hoa cát tường là bệnh mốc xám do Botrytis cinerea, các bệnh thối thân, chết héo do Fusarium Spp. và các bệnh virus, đặc biệt là bệnh do tospoviruses.
Theo Chi cục TT và BVTV tỉnh Lam Đồng (2013), một số bệnh hại hoa cát tường như sau: 1. Bệnh lỡ cỗ rễ Triệu chứng: Bệnh này thường xuất hiện trên cây con trong vườn ươm. Triệu chứng bệnh là cây bị héo và ngã gục ngang phần cô rễ. Tác nhân gây bệnh là nắm Pythium spp.
va Rhizoctonia solani. Bệnh sẽ phat triển và lan rộng nhanh nếu môi trường giá thé có độ âm quá cao. Do vậy, vi ươm cây cần kê cách mặt đất đề tạo độ thông thoáng; trong quá trình chăm sóc, tránh tưới vào thời điểm 15 giờ trở đi để hạn chế âm độ cao vào ban đêm. Biện pháp phòng trừ: Có thé sử dụng một số loại thuốc như Pencycuron, Kasugamycin + Copper oxychloride, hoặc Iprodione đề phòng trừ.
Trong quá trình trồng nên sử dụng chế pham Trichoderma ủ chung với phân hữu cơ dé bón lót và bón thúc (Chi cục TT và BVTV tinh Lâm Đồng, 2013). Bệnh héo vàng Triệu chứng: nắm gây bệnh xâm nhập vào hệ rễ làm cho rễ trở nên mềm, có màu nâu đến đen. Khi bệnh phát triển, có thể nhìn thấy những khối u rất nhỏ, màu cam trên thân cây. Cây bị bệnh sẽ có bộ lá vàng dan và chết.
Tác nhân gây bệnh: nam Fusarium avenaceum Biện pháp phòng trừ: Luân canh cây trồng, vệ sinh đồng ruộng và vệ sinh nông cụ. Làm đất cao ráo, thoát nước tốt. Xử lý đất trước khi trồng bằng chế pham sinh học Trichoderma sp. Biện pháp hóa học: Có thể sử dụng một số loại thuốc như Iprodione, Thiopanate — Methyl, Dazonet.
Bénh théi than Triệu chứng: Bệnh xuất hiện đầu tiên ở phần nách lá và chồi thân, sau lan rộng ra các phần thân xung quanh. Phần bị bệnh có màu xám. Bệnh nặng toàn bộ các bộ phận của cây phía trên vết bệnh bị chết héo.