Đặt vấn đề Hiện nay, nông nghiệp đã và đang đóng góp một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong nền kinh tế nước nhà. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp cũng dần chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa, các loại cây trồng đem lại giá trị cao để đáp ứng được nhu cầu thị trường. Trong đó có nhu cầu về trồng hoa, cây cảnh làm phong phú đời sống tinh thần của con người đồng thời cũng giúp tăng thu nhập, ổn định cuộc sống người dân. Trong giai đoạn gần đây, việc sản xuất hoa là rất có triển vọng đặc biệt là Hoa Hồng, một trong những loại hoa đang có ưu thế phát triển trong nước và để xuất khẩu.
Hiện nay, công nghệ trồng hoa ở một số nước như Pháp, Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc. đều đạt đến trình độ rất cao, trong đó giống và biện pháp kỹ thuật là hai yếu tố quan trọng luôn được quan tâm hàng đầu. Những năm gần đây, các nhà khoa học rất thành công trong việc chọn, tạo các giống Hoa Hồng mới đạt năng suất cao, phẩm chất tốt, màu sắc đa dạng, làm thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Ở khu vực Hà Nội, mặc dù có những vùng sản xuất Hoa Hồng với diện tích lớn, nhưng nhìn chung năng suất thấp, chất lượng hoa không cao, tỷ lệ hoa loại I (đạt tiêu chuẩn xuất khẩu) theo quy định rất thấp.
Nguyên nhân của tồn tại trên là do bộ giống cũ, đã trồng qua nhiều năm, không được thay thế. Do vậy cần chú trọng thêm vào công tác lai tạo hay nhập về các giống mới. Những năm gần đây Hoa Hồng nhập ngoại đang có những ưu thế nhất định. Bởi Hoa Hồng ngoại rất khỏe và kháng sâu bệnh tốt hơn Hoa Hồng nội, chăm sóc Hoa Hồng leo nhập ngoại cũng dễ hơn, hơn nữa Hoa Hồng là loài ưa nắng thích hợp với khí hậu nước ta.
Chúng tôi đã thử nghiệm các giống Hoa Hồng leo được ghép mắt từ Thái Lan,Anh , Pháp…và các giống Hoa Hồng giâm cành. Cũng như một số giống Hoa Hồng trong nước, Hoa Hồng ngoại càng nắng hoa càng ra nhiều, tuy nhiên mùa hoa đẹp nhất và to nhất lại là mùa đông và đầu xuân. Từ thực tiễn đó nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá sinh trưởng, phát triển của một số giống Hoa Hồng nhập ngoại vụxuân–hè năm 2021 tại Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên”với mục đích đánh giá khả năng thích nghi của các giống Hồng ngoại này khi trồng ở Văn Giang-Hưng Yên. Mục đích và yêu cầu` 1.
Mục đích Đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của 5 giống Hoa Hồng ngoại Molineux, Shizuku, Autumn Rouge, Double Delight, Pas De Deux so với giống 1 Hoa Hồ ng nô ̣i là hồng Cổ Sapa trong vụ Xuân - Hè năm 2021 tại Xuân Quan-Văn Giang- Hưng Yên. Tìm hiểu một số đặc điểm thực vật học của 5 giống Hoa Hồng ngoại Molineux, Shizuku, Autumn Rouge, Double Delight, Pas De Deux so với giống Hoa Hồ ng nô ̣i là hồng Cổ Sapa khi trồng ở Xuân Quan-Văn Giang- Hưng Yên. Yêu cầu Đánh giá sinh trưởng và phát triển của 5 giống Hoa Hồng ngoại Molineux, Shizuku, Autumn Rouge, Double Delight, Pas De Deux so với giống Hoa Hồ ng nô ̣i là hồng Cổ Sapa khi trồng ở Xuân Quan-Văn Giang- Hưng Yên. So sánh được một số đặc điểm thực vật học của 6 giống Hoa Hồng.
Khảo sát tình hình sâu bệnh của 6 giống Hoa Hồng vụ Xuân - Hè năm 2021 tại Xuân Quan-Văn Giang- Hưng Yên. 2 PHẦN II : TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu, sản xuất Hoa Hồng trên Thế giới và ở Việt Nam 2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất Hoa Hồng trên Thế giới Trên thế giới, công tác chọn tạo giống Hoa Hồng đã được chú ý từ rất lâu và rất phát triển. Ở những nước như Hà Lan, Mỹ, Pháp,… mỗi năm hàng ngàn giống Hoa Hồng mới được chọn tạo ra, hầu hết là chọn các giống theo hướng thâm canh, hiện đại hóa và ngày càng thỏa mãn nhu cầu người dùng.
Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc, kim ngạch xuất khẩu hoa toàn cầu (bao gồm hoa và cây giống) đạt 21,9 tỉ USD. Trong đó, một mình Hà Lan đã chiếm tới gần 1/2. Các nhà sản xuất hoa của khu vực châu Á chỉ chiếm khoảng 4% thị phần, tăng gần gấp rưỡi so với mức 2,7% của 10 năm trước. Theo số liệu từ ngân hàng Rabobank của Hà Lan, ba thị trường hoa lớn nhất toàn cầu là Mỹ (26,6 tỉ USD), liên minh châu Âu (27,5 tỉ USD) và Nhật Bản (9 tỉ USD).
Hoa Hồng là loài hoa cắt cành có giá trị thương mại lớn nhất thế giới. Gần 70% của hệ thống thương mại hoa cắt cành Châu Âu được giao dịch trên sàn đấu giá hoa tại Hà Lan, có thể được sử dụng như một chỉ số đánh giá những loài hoa cắt cành bán chạy nhất Châu Âu. Top 5 loại hoa cắt cành giai đoạn 2001-2007 tại Châu Âu Loại 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Hoa Hồng 653,0 699,8 681,3 705,9 728,6 758,2 795,4 Cúc 289,1 307,1 299,1 258,3 293,1 300,2 296,0 Tulip 177,3 171,2 158,9 185 191,5 223,0 204,6 Lily 155,9 168,1 160,0 158,3 164,1 166,7 171,2 Đồng tiền 103,8 107,7 105,9 115,9 121,2 122,2 126,2 (ĐVT: triệu EURO) - Nguồn: Hiệp hội Hoa Hà Lan (2007) 3 Bên cạnh các loài Hoa Hồng tự nhiên, có tới khoảng 10000 loài Hoa Hồng được sử dụng trong canh tác. Phillip và Rix (1998) đã mô tả hơn 1400 loại Hoa Hồng canh tác phổ biến, bao gồm các nhóm Hồng cổ và Hồng giống mới.
Một số hệ thống phân loại rau hoa quả được hình thành để phân loại các nhóm đó (Gudin, 2000), trong đó khung phân loại của Hiệp hội Hoa Hồng Hoa Kỳ (ARS) năm 2000 trở thành hệ thống được phổ biến rộng rãi nhất (Cairns, 2003). Hoa Hồng lai (Rosa x hybrid)không có ý nghĩa thực vật học nhưng lại có ý nghĩa kinh tế và thẩm mỹ rất lớn. Hệ thống Hoa Hồng lai rất phức tạp, gồm nhiều loài được lai tạo (Gudin, 2003). Hybrid Teas và Floribundas (được lai tạo từ Hybrid Teas) là những nhóm Hoa Hồng phổ biến nhất trong nhóm Hoa Hồng giống mới (Phillip và Rix, 1988; Cairns, 2003; Zlesak, 2006).
Số lượng Loài được đề cập Nhóm Mô tả đặc trưng NST chủ Phân bố trong các tài liệu yếu (2n) Banksianae 14 Đông Á R. Bracteatae 14 Châu Á clinophylla; R. Roxburghii Châu Âu, R. Caninae Hồng hoang dã 28-42 Đông Á, rubiginosa; R.
Bắc Phi Corymbifera Carolinae Hồng Carolina 28 Bắc Mỹ R. Chinensis Hồng Trung Quốc 14 Đông Á indica); R. nuktana; Cinnamomeae Hồng Cinnamon, Bắc Mỹ, 14-56 R. (Cassiorhodon) phom hoa dày Châu Á Blanda Đông Thân gỗ và ngầm, Gymnocarpae 14 Bắc Mỹ, R.
gymnocarpa quả trần Đông Á Laevigatae Lá sáng 14 Đông Á R. Pimpinellifoliae Lá hồi 14 Nam Âu hugonis; R. Synstylae Leo 14 Tây Á sempervivens; R. Gallicanae Hồng Pháp 28 Châu Âu, centifolia; R.
Các nhóm được đưa vào đề xuất cho chi Rosa Những loài Hoa Hồng được liệt kê trong bảng 2.3 là những loài hoang dã. Xuất phát từ cơ sở lai tạo các loài Hoa Hồng hoang dã này mà hình thành nên hệ thống đa dạng các loài lai được sử dụng trong canh tác. Dựa theo tính chất lịch sử, các loài lai tạo có thể được chia thành 2 nhóm Hồng cổ và Hồng giống mới. Yếu tố cốt lõi của phương thức lai tạo Hoa Hồng hiện đại bao gồm nguồn vật liệu di truyền từ ít nhất một trong các giống thuộc nhóm Hồng Trung Quốc mang những tính trạng khác biệt mà nhóm Hồng Châu Âu còn đang thiếu, như ra cành ở dưới thấp, ra hoa liên tục, hoa màu thẫm, không bị phai theo thời gian, có những mùi hương mới, hoa có sự khác biệt với phần tâm hoa 5 cao hơn và cánh hoa mảnh mai khi hoa bung nở (Higson, 2007).
Quá trình lai chéo của hồng Trung Quốc với hồng cổ Châu Âu làm gia tăng số lượng các nhóm hồng lai mới như Portland (nguồn gốc chưa xác định, có thể là Autumn Damask x Slater’s Crimson China), Bourbon (Autumn Damask x Parson’s Pink China), Noisette (Parson’s Pink China x R. moschata), Hybrid Perpetual (Portland x Bourbon x Hybrid China [R. gigantean]) và Tea (China x Bourbon hoặc Noisette) (Marriott, 2003; Filiberti, 2005; Higson, 2007).2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất Hoa Hồng trong nước Trên thế giới lĩnh vực nghiên cứu về chọn tạo giống Hoa Hồng và các biện pháp kỹ thuật đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ lâu và cho đến nay, những công trình nghiên cứu về Hoa Hồng còn rất khiêm tốn. Những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu.
Những nghiên cứu về thu thập và bảo tồn nguồn gen Hoa Hồng ở miền Bắc Việt Nam của tác giả Nguyễn Xuân Linh và cộng sự (1998) đã chỉ rõ: vùng Đông Bắc: nguồn gen họ cây Hoa Hồng được phát hiện thấy ở rừng cấm Quốc Gia Cát Bà, Tây Bắc: nguồn gen cây Hoa Hồng được tìm thấy ở vùng Lai Châu, Hòa Bình, Sơn La.; Ở đồng bằng Bắc Bộ: Hoa Hồng có ở khắp nơi như Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nội, Nam Hà, Ninh Bình. Tại các vườn Quốc Gia Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phương còn phát hiện được các loại hoang dại. Ở Bắc Trung Bộ tại dải rừng phía tây vùng biên giới Việt Lào cũng phát hiện được cây Hoa Hồng hoang dại. Diện tích trồng Hoa Hồng phát triển nhanh từ năm 1993 đến nay trên toàn quốc có hơn 900 ha, chiếm 35% tổng diện tích trồng hoa và hơn 65% tổng giá trị sản lượng hoa.
Sản xuất tập trung chủ yếu ở một số tỉnh, thành phố lớn như: Tây Tựu- Hà Nội (>200ha), Mê Linh- Vĩnh Phúc (>300ha), Đà Lạt- Lâm Đồng (>250ha). Đà Lạt là vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm rất thích hợp cho cây Hoa Hồng sinh trưởng và phát triển. Đây là nơi cung cấp Hoa Hồng chất lượng cao, thường xuyên cho cả nước. Vùng Mê Linh- Vĩnh Phúc toàn bộ diện tích trồng lúa được chuyển đổi sang trồng Hoa Hồng.
Các trung tâm sản xuất chính này cung cấp Hoa Hồng cho các thị trường của tất cả thành phố trong nước. Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hoa lớn ở Việt Nam. Nhu cầu tiêu dùng hoa cắt từ 35. Trong khi 2 vùng chuyên canh hoa là Sa Đéc và quận Gò Vấp chỉ cung cấp được 10.
Vì vậy vẫn phải nhập hoa từ Đà Lạt, Đài Loan và một số tỉnh miền Bắc. Hà Nội là trung tâm kinh tế của cả nước và cũng là địa phương có diện tích trồng hoa lớn nhất Việt Nam .Diện tích trồng hoa của Hà Nội tăng nhanh chóng những năm gần đây: năm 1997 là 640ha, năm 1998 tănglên 1.008 ha đến 1999 là 6 1.