MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đậu cô ve (Phaseolus vulgaris L.) là cây trồng quan trọng ở nhiều quốc gia, nó đứng hàng đầu trong họ đậu đỗ về sử dụng hạt làm lương thực, thực phẩm cho con người là cây lương thực của gần 300 triệu người, đặc biệt ở các nước đang phát triển là ở Đông Phi và Mỹ La Tinh đậu cô ve cung cấp 85% lượng protein và 32% năng lượng sinh học (Petry & cs. Ngoài ra, đậu cô ve còn có giá trị to lớn về kinh tế và môi trường do nó có khả năng cố định đạm nên trong quá trình canh tác loài cây trồng này có thể giảm bớt việc sử dụng phân bón hóa học - chìa khóa của vệ sinh an toàn thực phẩm và phát triển nông nghiệp bền vững (Castro- Guerrero & cs. Cây đậu cô ve có đặc điểm chung là năng suất không ổn định do các yếu tố bất thuận phi sinh học như khí hậu thời tiết và đất đã ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây.
Cây đậu cô ve thường được trồng dưới điều kiện canh tác nhờ nước trời, trong điều kiện đó bệnh hại là một yếu tố khiến năng suất thấp và không ổn định. Nông dân thường trồng muộn hoặc sớm hơn để tránh bệnh hại và điều đó đã do đó ảnh hưởng đến khả năng đậu quả của cây đậu cô ve do thời gian ra hoa rơi vào thời điểm thời tiết khí hậu không phù dẫn tới giảm tỉ lệ đậu quả khiến năng suất thấp (CITA, 1991). Tại Việt Nam, công tác chọn tạo và phát triển giống đậu cô ve còn rất hạn chế. Tính đến năm 2009 mới có 3 giống đậu cô ve được công nhận chính thức (Phạm Đồng Quảng & cs., 2009), Viện nghiên cứu rau quả cũng đã nhập nội và tuyển chọn được 2 giống đậu cô ve thân leo TL1 và giống đậu cô ve tím CVT02 (Trần Văn Lài & cs.
Ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam, công tác nghiên cứu đánh giá nguồn vật liệu đậu cô ve phục vụ cho công tác lai tạo giống đậu cô ve chống chịu sâu bệnh hại, năng suất cao và điều kiện bất thuận đã chọn lọc được một số dòng đậu cô ve như CV56, CV65, CV67, CV73, CV83, CV85, CV76 và CV77 có thể sử dụng làm vật liệu chọn giống đậu 1 cô ve năng suất cao, chịu nóng (Phạm Thị Ngọc & cs., 2014; Phạm Thị Ngọc & cs., 2016; Phạm Thị Ngọc, 2017). Với mỗi loại cây trồng, để đạt năng suất và chất lượng cao cần quản lý hài hòa và cân đối dinh dưỡng N, P, K trên từng loại đất, mùa vụ. Đặc biệt, cần có các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cho từng thời kỳ sinh trưởng để hạn chế tối đa việc thừa dinh dưỡng, bên cạnh đó mật độ trồng hợp lý cũng là một biện pháp kỹ thuật rất quan trọng góp phần làm tang năng suất (Zhang & cs. Yoshida (1981) cho rằng, mật độ trồng hợp lý sẽ tạo nên cấu trúc quần thể tốt, nâng cao hiệu suất quang hợp, khai thác tốt ưu lượng bức xạ mặt trời và dinh dưỡng trong đất góp phần nâng cao năng suất cây trồng.
Trong các dinh dưỡng khoáng đa lượng kali cần thiết đối với sinh trưởng và khả năng chống chịu của cây trồng (Arif & cs. Đối với nhiều cây trồng sử dụng phân bón kali được cho là giải pháp có hiệu quả trong việc ngăn cản hoặc làm giảm tác hại của hạn (Singh & Kumar, 2009). (2014) cho rằng bón phân kali cho cây đậu xanh có thể làm giảm tác động tiêu cực của tình trạng thiếu nước, khi mức độ bị hạn tăng bón 180 kg K2O/ha trên nền bón 50 kg N và 150 kg P2O5 có thể làm giảm tác hại của hạn đối với năng suất hạt. Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả của bón phân kali làm tang năng suất, chất lượng đậu xanh.
(2011) cho biết, các mức bón kali khác nhau đã ảnh hưởng rõ rệt đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất hạt và hàm lượng protein, trên đất thịt pha sét và pha cát ở Parkistan, bón 90 kg K2O cho năng suất hạt và hiệu quả kinh tế cao nhất. Theo Pranav & cs. (2014), trồng đậu xanh bón kali giúp cây sinh trưởng tốt, tăng sinh khối và năng suất, trên đất thịt pha cát của Ấn Độ lượng phân kali bón thích hợp cho cây đậu xanh là 80 kg K2O trên nền bón 20 kg N và 40 kg P2O5. Điều này cho thấy ở các loại đất khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng kali của đậu xanh là khác nhau.
Do vậy, bên cạnh việc bảo tồn cần phải tìm các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp cho giống vừa tạo điều kiện để giống phát huy được tiềm năng sinh học và nâng cao năng suất. 2 BH1, BH2 là 2 dòng đậu cô ve có năng suất cao và chịu nóng, thích hợp với vụ Xuân Hè ở miền Bắc Việt Nam (Phạm Thị Ngọc, 2017). Thực tiễn đã chỉ ra rằng, mỗi giống cây trồng chỉ thích hợp với một hoặc một số vùng sinh thái nhất định và các biện pháp kỹ thuật như mật độ, phân bón… cũng cần phải điều chỉnh cho phù hợp với cây trong các điều kiện khí hậu đất đai của từng vùng. Do đó, nghiên cứu này nhằm tìm ra liều lượng kali bón và mật độ trồng thích hợp để cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, sử dụng đất bền vững và góp phần hoàn thiện qui trình canh tác cho dòng đậu cô ve BH1 và BH2.
Xuất phát từ những lý do trên, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Thị Ngọc, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của phân bón kali và mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển của dòng đậu cô ve BH1 và BH2 mới lai tạo trong vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm - Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu xác định được liều lượng phân kali bón và mật độ trồng thích hợp cho hai dòng đậu cô ve BH1 và BH2 mới lai tạo trong vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm – Hà Nội.
Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân kali và mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh hại đồng ruộng của dòng đậu cô ve BH1 và BH2 vụ Xuân 2022 tại Gia Lâm – Hà Nội. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Giới thiệu chung về cây đậu côve 2. Nguồn gốc của đậu côve Nghiên cứu về nguồn gốc và tiến hóa của đậu cô ve (Phaseolus vulgaris L.
2n = 2x =22) tác giả Gepts (1988) cho rằng, cây trồng này được trồng ở tất cả các lục địa trừ Nam Cực. Cây đậu cô ve có 3 loại sản phẩm thu hoạch: loại ăn hạt (dry beans), thu hoạch khi hạt chín hoàn toàn; loại thu quả (shell beans), thu hoạch khi hạt chín sinh lý và loại thu quả xanh (geen hoặc snap beans), thu hoạch quả trước khi hạt phát triển. Đậu cô ve (Phaseolus vulgaris L.) thuộc họ đậu hoặc họ cánh bướm (Fabaceae or Leguminosae family). Tổ tiên hoang dại của đậu cô ve ở khu vực Trung và Nam Mỹ.
Những dạng tổ tiên của đậu cô ve tìm thấy ở các vùng khí hậu từ nóng trung bình, khí hậu khô cằn đến nhiệt đới đất thấp ẩm và ngay cả tại khu vực mát hơn như vùng núi Nam Mỹ. Trong số các cây họ đậu đỗ thì chi Phaseolus là chi lớn nhất, với hơn 70 loài có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Bắc Mỹ (Freytag & Debouck, 2002). Năm loài trong số này đã được thuần hóa là P. lunatus và thêm một vài loài đang bắt đầu được thuần hóa (Delgado-Salinas & cs.
Trong số 5 loài này thì 2 loài có nguồn gốc Mesoamerica (P. coccineus) là có quan hệ gần gũi nhất với P. Giữa ba loài này có thể xảy ra lai xa. Dựa trên dữ liệu giải trình tự gen tổng hợp chất ức chế α – amylase thì P.
vulgaris tách ra từ P. coccineus cách đây khoảng 2 triệu năm (Gepts & cs. Những kiến thức về nguồn gốc và tiến hóa của loài cây trồng có ý nghĩa quan trọng cho nghiên cứu bảo tồn và khai thác sử dụng chọn tạo vật liệu di truyền hiệu quả. (2012) đã nghiên cứu nguồn gốc đậu cô ve bằng phương pháp đánh giá đa dạng nucleotit tại 5 locus gen của số lượng lớn mẫu thu thập đại diện cho các khu vực phân bố sinh thái địa lý của các dạng đậu cô ve dại.
4 Kết quả chỉ ra rằng, Mesoamerica (khu vực Trung và phía Nam Bắc Mỹ) là nguồn gốc của đậu cô ve. Tại Việt Nam, hiện nay chua có tài liệu nào công bố chi tiết về sự hiện diện của đậu cô ve vào thời gian nào chỉ biết các thương gia đem đậu cô ve (Haricot vert) quả màu xanh và đậu cô bơ (Haricot beurre) quả màu vàng vào nước ta hàng trăm năm nay (Tạ Thu Cúc, 2006). Phân loại đậu cô ve - Tên khoa học: Phaseolus vulgaris L. - Thuộc họ đậu hay còn gọi là họ cánh bướm (Fabaceae).
- Tên tiếng anh: The common bean, bush bean, navy, French or snap. - Chi Phaseolus gồm 30 loài và 5 trong số đó được thuần hóa bao gồm: P. Polyanthus Greenman, và P. Trong đó loài đậu cô ve (P.) được trồng rộng rãi nhất và chiếm hơn 85% diện tích trồng chi Phaseolus trên toàn thế giới (Katy M.
Rainey and Philip D. Phân loại theo hình dạng (loại hình sinh trưởng) có 2 loại: dạng cây sinh tưởng vô hạn (đậu cô ve leo) và dạng cây sinh trưởng hữu hạn (đậu cô ve lùn). - Đậu cô ve lùn (sinh trưởng hữu hạn): nhóm này không có giống địa phương, chủ yếu là các giống nhập nội của Nhật Bản và Đài Loan, thích hợp trồng quanh năm ở các vùng cao, trồng được vụ đông xuân ở vùng đồng bằng. Giống đậu cô ve lùn rất thích hợp canh tác ở các vùng có gió mạnh, dễ trồng xen với các loại hoa màu khác và trồng ở những vùng khó khăn trong việc làm giàn.
Các giống nhập nội rất thích hợp với điều kiện tự nhiên ở nước ta nên được các công ty giống chọn lọc, nhân giống và phổ biến rộng rãi. Đặc tính chung của các giống đậu cô ve lùn là thấp cây (50-60cm), cho thu hoạch sớm (40-45 ngày sau gieo), thời gian thu hoạch kéo dài 30-45 ngày, trái dài, thẳng, màu xanh trung bình đến xanh đậm. 5 Các giống trồng hiện nay cho năng suất và phẩm chất không thua kém các giống đậu cô ve leo. - Đậu cô ve leo (sinh trưởng vô hạn): thân dài từ 2,5 – 3m, tron canh tác phải làm giàn.
Giống chịu nóng giỏi, chống bệnh tốt, trồng được ở vùng đồng bằng cũng như vùng cao.