Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu xác định nguồn vật liệu chịu mặn phục vụ công tác chọn tạo giống ngô cho vùng duyên hải nam trung bộ và đồng bằng sông cửu long watermark

Nghiên cứu nguồn vật liệu chịu mặn cho giống ngô tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và ĐBSCL nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng.

Chuyên ngành

Di Truyền Chọn Giống Cây Trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

219
12
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Những đóng góp mới của đề tài luận án

2. CHƯƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Tổ hợp lai

2.2. Giống đối chứng

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong nhà lưới

2.4.3. Đánh giá khả năng chịu mặn của ngô ở giai đoạn cây con trong dung dịch dưỡng mặn

2.4.4. Đánh giá khả năng chịu mặn của ngô bằng phương pháp trồng trong chậu

2.4.5. Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng

2.5. Lai tạo và đánh giá khả năng kết hợp của các dòng có khả năng chịu mặn

2.6. Khảo sát, đánh giá các tổ hợp lai chịu mặn tại các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long

2.7. Khảo nghiệm, xây dựng mô hình trình diễn và quy trình thâm canh của giống lai triển vọng

2.8. Các chỉ tiêu theo dõi: Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá khả năng chịu mặn của tập đoàn dòng bằng phương pháp nhân tạo

3.2. Đánh giá khả năng chịu mặn của các dòng ở giai đoạn cây con bằng phương pháp trồng trong dung dịch dưỡng mặn

3.2.1. Ngày sống sót và mức độ chịu mặn

3.2.2. Chiều dài thân lá

3.2.3. Chiều dài rễ

3.2.4. Khối lượng tươi của cây con

3.2.5. Khối lượng khô cây con

3.3. Đánh giá khả năng chịu mặn của tập đoàn dòng bằng phương pháp trồng trong chậu

3.3.1. Ngày sống sót và mức độ chịu mặn

3.3.2. Khối lượng thân lá tươi

3.3.3. Khối lượng thân lá khô

3.3.4. Hàm lượng Na+ trong cây

3.3.5. Hàm lượng K+ trong cây

3.3.6. Tỷ lệ Na+/K+ trong cây

3.4. Thời gian từ gieo đến tung phấn

3.5. Thời gian từ gieo đến phun râu

3.6. Số hạt trên bắp

3.7. Khối lượng 1000 hạt

3.8. Năng suất hạt

3.9. Khảo sát, đánh giá các tổ hợp lai chịu mặn tại Duyên hải Nam Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và phát triển giống mới

3.9.1. Khảo sát, đánh giá tổ hợp lai chịu mặn tại Duyên hải Nam Trung Bộ

3.9.2. Khảo sát, đánh giá tổ hợp lai chịu mặn tại đồng bằng sông Cửu Long

3.9.3. Phát triển giống mới

3.9.4. Kết quả khảo nghiệm tác giả

3.9.5. Kết quả khảo nghiệm VCU

3.9.6. Kết quả khảo nghiệm sản xuất

3.9.7. Xây dựng mô hình trình diễn

3.9.8. Xây dựng mô hình trình diễn giống VS71 tại Phù Mỹ - Bình Định

3.9.9. Xây dựng quy trình thâm canh giống ngô lai VS71

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu nguồn vật liệu chịu mặn cho giống ngô

Nghiên cứu nguồn vật liệu chịu mặn cho giống ngô tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và ĐBSCL là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Ngô (Zea mays L.) là cây lương thực chủ lực, nhưng khả năng chịu mặn của giống ngô hiện tại còn hạn chế. Việc tìm kiếm và phát triển các giống ngô có khả năng chịu mặn sẽ giúp tăng năng suất và đảm bảo an ninh lương thực cho khu vực này.

1.1. Tình hình sản xuất ngô tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ

Vùng duyên hải Nam Trung Bộ có điều kiện khí hậu và đất đai đặc thù, ảnh hưởng đến sản xuất ngô. Năng suất ngô tại đây thường thấp hơn so với các vùng khác do ảnh hưởng của độ mặn trong đất.

1.2. Tình hình sản xuất ngô tại ĐBSCL

ĐBSCL là vùng sản xuất ngô lớn của Việt Nam, nhưng cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ xâm nhập mặn. Việc nghiên cứu giống ngô chịu mặn là cần thiết để duy trì sản xuất bền vững.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu giống ngô chịu mặn

Sự gia tăng độ mặn trong đất do biến đổi khí hậu và hoạt động con người đang trở thành thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với giống ngô. Các giống ngô hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu về khả năng chịu mặn, dẫn đến năng suất thấp và thiệt hại kinh tế cho nông dân.

2.1. Ảnh hưởng của độ mặn đến sự phát triển của ngô

Độ mặn cao ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ nước và dinh dưỡng của cây ngô, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng hạt.

2.2. Thách thức trong việc chọn tạo giống ngô chịu mặn

Việc chọn tạo giống ngô chịu mặn gặp nhiều khó khăn do tính đa dạng di truyền và sự phức tạp trong cơ chế chịu mặn của cây trồng.

III. Phương pháp nghiên cứu giống ngô chịu mặn hiệu quả

Nghiên cứu giống ngô chịu mặn cần áp dụng các phương pháp hiện đại và truyền thống để đánh giá khả năng chịu mặn của các dòng giống. Các phương pháp này bao gồm khảo nghiệm trong điều kiện mặn và phân tích di truyền.

3.1. Phương pháp khảo nghiệm trong điều kiện mặn

Khảo nghiệm trong điều kiện mặn giúp đánh giá chính xác khả năng chịu mặn của các giống ngô, từ đó lựa chọn giống phù hợp cho từng vùng.

3.2. Ứng dụng công nghệ gen trong chọn tạo giống

Công nghệ gen có thể giúp tăng cường khả năng chịu mặn của giống ngô thông qua việc xác định và chuyển giao các gen chịu mặn.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy một số dòng giống ngô mới có khả năng chịu mặn tốt hơn so với giống đối chứng. Những giống này đã được thử nghiệm thành công tại các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ và ĐBSCL.

4.1. Đánh giá khả năng chịu mặn của các dòng giống

Các dòng giống mới cho thấy khả năng sống sót cao hơn trong điều kiện mặn, với năng suất hạt đạt yêu cầu.

4.2. Ứng dụng mô hình sản xuất giống ngô chịu mặn

Mô hình sản xuất giống ngô chịu mặn đã được triển khai tại một số địa phương, giúp nông dân cải thiện năng suất và thu nhập.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu nguồn vật liệu chịu mặn cho giống ngô tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và ĐBSCL là cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các giống ngô mới có khả năng chịu mặn sẽ mở ra cơ hội mới cho nông nghiệp bền vững.

5.1. Tương lai của giống ngô chịu mặn

Việc phát triển giống ngô chịu mặn sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại và nghiên cứu khoa học.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chịu mặn và phát triển các giống ngô mới có khả năng thích ứng tốt hơn với điều kiện môi trường khắc nghiệt.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu xác định nguồn vật liệu chịu mặn phục vụ công tác chọn tạo giống ngô cho vùng duyên hải nam trung bộ và đồng bằng sông cửu long watermark

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngô (Zea mays L.) là cây lƣơng thực quan trọng thứ ba trên thế giới sau lúa mì và lúa nƣớc, đồng thời là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao và đƣợc trồng phổ biến ở hầu hết các nƣớc thuộc vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. Ở góc độ toàn cầu, ngô đứng đầu cả về năng suất và sản lƣợng trong số những cây lƣơng thực chính. Theo thống kê của USDA, trong năm 2015 năng suất ngô thế giới đạt 54,1 tạ/ha và sản lƣợng 959,7 triệu tấn, năng suất của lúa là 44,2 tạ/ha, sản lƣợng 702,3 triệu tấn và lúa mỳ có năng suất là 32,7 tạ/ha và sản lƣợng 734,8 triệu tấn.

Ở Việt Nam, cây ngô giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống cơ cấu cây trồng nông nghiệp. Sản xuất ngô nƣớc ta không ngừng tăng từ những năm đầu thập kỷ 1990 đến nay, theo Tổng cục Thống kê năm 2015 diện tích ngô cả nƣớc là 1,178 triệu ha, năng suất 44,8 tạ/ha và sản lƣợng đạt 5,281 triệu tấn, so với năm 1990 thì sản lƣợng tăng 7,4 lần, diện tích tăng 2,6 lần và năng suất tăng gần 3 lần. Ngô chủ yếu đƣợc dùng làm nguyên liệu trong ngành công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến thức ăn chăn nuôi với nhu cầu lớn. Hàng năm, ngoài sản lƣợng ngô đƣợc sản xuất trong nƣớc, Việt Nam vẫn phải phải nhập thêm hàng triệu tấn.

Theo Cục xúc tiến thƣơng mại, năm 2015 Việt Nam đã nhập khoảng 7,6 triệu tấn ngô hạt, tăng 1,9 triệu tấn so với năm 2014, và trong năm 2016 lƣợng nhập khẩu đƣợc dự tính tƣơng đƣơng năm 2015. Thúc đẩy sản xuất nhằm giảm lƣợng ngô nhập khẩu là vấn đề thời sự cần đƣợc thực hiện dựa trên hai phƣơng diện là tăng diện tích sản xuất và tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên, với ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu hiện nay thì diện tích đất canh tác thuận lợi ngày một giảm, diện tích đất khô hạn, sa mạc hóa, nhiễm mặn tăng lên, do đó việc thúc đẩy sản xuất ngô để tăng sản lƣợng ngày càng trở nên khó khăn. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp 2 Trên thế giới có khoảng hơn 800 triệu ha đất bị ảnh hƣởng muối, trong đó 397 triệu ha đất mặn và 434 triệu ha đất kiềm liên quan tới mặn (FAO 2005).

Sự tích tụ muối trong đất, do cả hai yếu tố con ngƣời và xâm nhập mặn tự nhiên, đã làm giảm năng suất trên một phần ba của đất canh tác toàn cầu. Tại Việt Nam, đất mặn khá phổ biến ở các vùng đất bằng phẳng ven biển, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long. Cả nƣớc có khoảng trên 1 triệu ha đất mặn, phân bố chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhƣ: Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre., và các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng nhƣ: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hoá., ngoài ra còn có một số phân bố ở Ninh Thuận và Bình Định, gọi là đất mặn kiềm (Viện Thổ nhƣỡng Nông hoá, 2010). Đất mặn Việt Nam đƣợc phân thành bốn nhóm chính là: đất mặn sú, vẹt, đƣớc có diện tích khoảng 180.000 ha, tập trung chủ yếu ở Cà Mau, Bến Tre và thƣờng có độ mặn rất cao; đất mặn nhiều có diện tích khoảng 300.000 ha, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và thƣờng có độ mặn EC > 4 dS/m ở 25 0C; đất mặn trung bình và ít có diện tích khoảng 700.000 ha, tập trung chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phân bố phía trong vùng đất mặn nhiều và thƣờng có độ mặn EC < 4 dS/m ở 25 0C; đất mặn kiềm có diện tích khoảng 400 ha, tập trung ở Ninh Thuận, Bình Định, Bình Thuận, loại đất mặn này thƣờng đi kèm với độ pH cao (pH > 8).

Kết quả nghiên cứu và chọn tạo giống ngô ở Việt nam những năm qua đã góp phần đƣa sản xuất ngô trong nƣớc phát triển vƣợt bậc qua các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, những giống ngô mới chủ yếu đƣợc tạo ra để phục vụ cho các vùng thâm canh hoặc có điều kiện canh tác chủ động. Các giống ngô có khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận ( hạn, mặn, úng,.) Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp 3 đã đƣợc chú trọng chọn tạo nhƣng còn hạn chế, chƣa đủ đáp ứng yêu cầu sản xuất, nhất là các giống ngô chịu hạn, mặn. Với sự biến đổi khí hậu toàn cầu mà Việt Nam không nằm ngoài ảnh hƣởng, cùng sự phát triển công nghiệp và đô thị hoá, các vùng đất tốt, có điều kiện sản xuất thuận lợi đang ngày càng ít đi, bên cạnh đó diện tích đất nhiễm mặn ngày một gia tăng do sự xâm nhập của nƣớc biển, dẫn đến sản xuất nông nghiệp ngày càng trở lên khó khăn.

Để đảm bảo lƣơng thực, thực phẩm cho nhu cầu của con ngƣời thì việc nghiên cứu, chọn tạo ra các giống cây trồng nói chung, cây ngô nói riêng, có khả năng chống chịu tốt với môi trƣờng bất thuận, đáp ứng với biến đổi khí hậu, nhằm khai thác các vùng đất có điều kiện canh tác khó khăn là rất cần thiết. Trong nghiên cứu chọn tạo giống ngô, định hƣớng nguồn vật liệu đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công đối với nhà chọn tạo giống. Nguồn vật liệu khởi đầu có thể là các dòng, giống thụ phấn tự do (TPTD), quần thể và các loại giống lai. Sàng lọc, đánh giá, thử nghiệm và phát triển nguồn vật liệu đối với nghiên cứu chọn tạo giống ngô chống chịu với điều kiện bất thuận trong thời điểm hiện tại (chịu hạn, chịu mặn, chịu úng…,) là bƣớc không thể thiếu, giúp nhanh chóng lai tạo thành công các giống ngô lai nhƣ mong muốn phục vụ sản xuất.

Với những cơ sở và lý do trên, đề tài “Nghiên cứu xác định nguồn vật liệu chịu mặn phục vụ công tác chọn tạo giống ngô cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long” đƣợc tiến hành nghiên cứu. Mục tiêu của đề tài Xác định đƣợc nguồn vật liệu (dòng thuần) chịu mặn phục vụ cho công tác chọn tạo giống ngô lai; Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp 4 Tạo giống ngô lai chịu mặn cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn a. Ý nghĩa khoa học của đề tài Bổ sung lý thuyết về cơ sở chọn tạo giống ngô cho vùng khó khăn ở Việt Nam; Xác định đƣợc mức độ ảnh hƣởng của các độ mặn khác nhau đến sinh trƣởng, phát triển và năng suất của ngô; Xác định đƣợc một số vật liệu ngô (dòng thuần) có khả năng ứng dụng trong tạo giống ngô lai chịu mặn phục vụ sản xuất cho những vùng khó khăn.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Xác định đƣợc 4 dòng có khả năng chịu mặn tốt cho chƣơng trình chọn tạo giống ngô chịu mặn là STL2, STL6, STL28, STL30; Chọn tạo thành công giống ngô lai VS71 có khả năng chịu mặn, năng suất cao phục vụ sản xuất, đặc biệt là cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tƣợng nghiên cứu 32 dòng thuần ngô ƣu tú, đã đƣợc chọn lọc thuộc tập đoàn dòng công tác của Viện Nghiên cứu Ngô; Các tổ hợp lai (THL) đƣợc tạo ra từ các dòng đƣợc đánh giá có khả năng chịu mặn; Các giống ngô lai thƣơng mại đang đƣợc trồng phổ biến tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp 5 b.

Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học, khả năng chịu mặn, khả năng kết hợp của các dòng ngô thuần; nghiên cứu các đặc điểm nông sinh học, khả năng chịu mặn của các tổ hợp ngô lai; Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại Viện Nghiên cứu Ngô, Đan Phƣợng, Hà Nội và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2010 – 2015; 5. Những đóng góp mới của đề tài luận án Đây là công trình đầu tiên ở Việt nam nghiên cứu một cách hệ thống sử dụng phƣơng pháp đánh giá tính chịu mặn ở ngô bằng dung dịch dƣỡng mặn, trồng trong chậu để chọn lọc dòng thuần và lai tạo thành công giống ngô chịu mặn phục vụ sản xuất; Các thông tin khoa học trên cơ sở kết quả của các bƣớc tiến hành đánh giá vật liệu chịu mặn (dòng thuần), lai tạo và thử nghiệm giống ngô lai chịu mặn đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng cho công tác chọn tạo giống ngô cho vùng khó khăn hiện nay. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp 6 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 1.

Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô (Zea mays L.) là cây lƣơng thực quan trọng thứ ba trong nền kinh tế thế giới, đóng vai trò thiết yếu đáp ứng nhu cầu làm thực phẩm cho con ngƣời, thức ăn cho gia súc và là nguồn cung cấp dồi dào tinh bột, protein, chất béo, dầu và đƣờng cho công nghiệp chế biến. Ngành sản xuất ngô thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ XX, nhất là từ những đầu thập kỷ 70 đến nay. Ngô là cây trồng có tốc độ tăng trƣởng cao nhất trong các cây lƣơng thực chính về cả ba chỉ tiêu diện tích, năng suất và sản lƣợng. Năm 1970, diện tích ngô thế giới 113,1 triệu ha, năng suất trung bình 23,5 tạ/ha và sản lƣợng 256,8 triệu tấn, trong khi lúa nƣớc có diện tích 132,8 triệu ha, năng suất 23,8 tạ/ha, sản lƣợng 316,3 triệu tấn và lúa mỳ là 207,9 ha, 14,9 tạ/ha, 310,7 triệu tấn.

Năm 2015, sản xuất ngô thế giới tăng vƣợt bậc so với lúa mỳ và lúa nƣớc với diện tích 177,4 triệu ha, năng suất 54,1 tạ/ha và sản lƣợng 959,7 triệu tấn; lúa nƣớc, diện tích là 158,9 triệu ha, năng suất 44,2 tạ/ha và sản lƣợng là 702,3 triệu tấn; và lúa mỳ diện tích 224,7 triệu ha, năng suất 32,7 tạ/ha, sản lƣợng 734,8 triệu tấn (Bảng 1. Nhƣ vậy, từ năm 1970 đến nay, sản lƣợng ngô thế giới tăng 3,83 lần, trong khi lúa nƣớc tăng 2,35 lần và lúa mỳ tăng 2,3 lần (FAOSTAT, USDA, 2015). Theo thống kê của USDA, năm 2015 quốc gia sản xuất nhiều ngô nhất trên thế giới là Trung Quốc với diện tích 38,1 triệu ha, sản lƣợng 224,6 triệu tấn, tiếp theo là Mỹ 32,7 triệu ha, 345,5 triệu tấn, Brazil đứng thứ 3 với diện tích 16,0 triệu ha và sản lƣợng 68,5 triệu tấn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu xác định nguồn vật liệu chịu mặn cho giống ngô tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long" của tác giả Nguyễn Hữu Hùng, dưới sự hướng dẫn của TS. Lương Văn Vàng và PGS. Hồ Quang Đức, được thực hiện tại Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam vào năm 2017. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các nguồn vật liệu có khả năng chịu mặn, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sự xâm nhập mặn tại các vùng ven biển. Qua đó, luận án không chỉ cung cấp những hiểu biết sâu sắc về di truyền và chọn giống cây trồng mà còn mở ra hướng đi mới cho việc cải thiện năng suất và chất lượng giống ngô trong điều kiện khắc nghiệt.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến giống cây trồng và quản lý nông nghiệp, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu vật liệu khởi đầu cho giống lúa kháng rầy nâu, nơi trình bày các phương pháp chọn giống và cải thiện giống cây trồng; Nghiên cứu nâng cao năng suất chất lượng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử, cung cấp thông tin về kỹ thuật nâng cao năng suất cây trồng; và Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long, giúp bạn hiểu thêm về biện pháp phòng trừ sâu bệnh trong sản xuất nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nông nghiệp và các giải pháp phát triển bền vững.