Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây hồng 1. Nguồn gốc, phân loại cây hồng Cây hồng thuộc chi thị (Diospyros) thuộc bộ thị (Ebenales), họ Thị (Ebenaceae), phân lớp Sổ (Dilleniaceae), lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae), ngành thực vật Hạt kín (Angiospermae) [3], [14].
Các nghiên cứu về nguồn gốc của cây hồng phương Đông đều đi đến thống nhất là cây hồng (Diospyros kaki) có nguồn gốc từ Trung Quốc. Từ Trung Quốc hồng được đưa đến trồng ở Địa Trung Hải, sau đó được đưa sang châu Âu năm 1789, sang Mỹ năm 1852, Liên Xô (cũ) năm 1889 và nhiều nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam [3]. Hiện nay trên thế giới có khoảng 800-1000 loài hồng và được trồng phổ biến ở các nước có khí hậu ôn hoà thuộc châu Á, bắc Mỹ, trong đó có 04 loài được trồng để lấy quả là: Dkaki Linn; D. Cây hồng (Diospyros kaki Lf.) được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, bang Califonia (Mỹ), Italia, Brazin, Úc, Israel.
Hồng được chia ra thành hai nhóm là hồng chát và hồng không chát, trong đó nhóm hồng không chát có khả năng thương mại lớn hơn. Hồng thành 4 nhóm đó là: - Nhóm 1: Nhóm PCNA (Pollination Constant Non- Astringent) là nhóm gồm những giống hồng không chát, không biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả thường có những đốm tanin sẫm. Các giống thuộc nhóm này như: Fuju, Jiro, Gosh, Suruga. - Nhóm 2: Nhóm PVNA (Pollination Variant Non-Astringent) là nhóm gồm những giống không chát và biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả có những đốm tanin sẫm, khi không có hạt thì thịt quả có vị chát.
Các giống thuộc nhóm này như: Zenjimaru, Shogatsu, Mizushima, Anahya kume. 3 - Nhóm 3: Nhóm PCA (Pollination Constant Astringent) là nhóm gồm những giống chát, không biến đổi với sự thụ phấn, thịt quả không có những đốm tanin sẫm. Các giống thuộc nhóm này như: Yokomo, Yosumizo, Shakokashi, Hagakushi, Hachiya. - Nhóm 4: Nhóm PVA (Pollination Variant Astringent) là nhóm gồm những giống chát và biến đổi với sự thụ phấn, quả có thể chát khi được thụ phấn và có một vài đốm tanin sẫm xung quanh hạt.
Các giống thuộc nhóm này như: Azumi, Shirazu, Emon, Kosshuhya kume, Hiratanenashi. Theo Phạm Văn Côn [3], những kết quả điều tra về hồng từ những năm 1990 cho thấy ở Việt Nam có 3 loài hồng là: - Hồng lông (Diospyros tokinensis L.) phân bố rải rác khắp nơi trên miền Bắc, thân cây cao to, phân cành ngang, tạo nhiều tầng cành, tán hình tròn. Lá thuôn dài, mặt trên màu xanh sẫm có lông màu xanh, mặt dưới màu xanh nhạt có lông màu hơi vàng. Quả to tròn hoặc hơi dẹt, khi chín lông trên quả rụng đi quả chuyển sang màu vàng hồng, quả có nhiều hạt (6-9 hạt), cây sinh trưởng khoẻ, sản lượng cao nhưng chất lượng quả kém (quả có mùi hôi nên còn được gọi là hồng hội hay hồng trâu).
- Hồng cậy (Diospyros lotus L.) được trồng rải rác ở các tỉnh phía Bắc như: Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình. Thân cây cao to, tán lớn. Lá nhỏ hẹp mặt trên màu xanh đậm nhẵn nhưng không bóng, mặt dưới màu xanh nhạt có ít lông. Quả bé hình tròn dẹt, trọng lượng trung bình 10g/quả, hạt nhiều (6-7 hạt), quả chín vàng, ăn ngọt.
- Hồng trơn có lá nhẵn (Diospyros kaki Lf.) được trồng ở miền Bắc và vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Thân cây thường có màu nâu, góc độ phân cành hẹp, tán hình tròn hoặc hình tháp. Lá hình bầu dục hoặc elíp, mặt trên lá có màu xanh sẫm, mặt dưới lá có màu vàng nhạt. Quả chưa chín có màu xanh lục, nhẵn, trơn, khi chín có màu vàng đỏ, quả có thể không hạt hoặc ít hạt tuỳ theo giống, hạt nhỏ khó mọc mầm, cây sinh trưởng khoẻ, phẩm chất quả ngon.
Loài này được chia ra hai nhóm chính là hồng ngâm và hồng dấm. Đặc điểm sinh học của cây hồng 1. Rễ và hệ rễ Rễ hồng thuộc dạng rễ cọc. Rễ hồng yếu, thường khó phục hồi nếu bị sát thương cơ giới.
Nhiệt độ thích hợp cho bộ rễ hoạt động là 12- 25°C. Trong mùa lá rụng, rễ hồng hầu như không hoạt động, hấp thu dinh dưỡng rất chậm, từ vụ xuân rễ hồng mới bắt đầu hoạt động. Hoạt động mạnh nhất vào 2 thời kì cuối tháng 6-7 và giữa tháng 9 đầu tháng 10. Rễ hồng chứa nhiều tanin, cường độ hô hấp yếu, nhu cầu về hàm lượng ôxy trong đất thấp, vì vậy cây hồng có thể chịu úng tốt [3].
Sự phân bố của rễ hồng theo chiều sâu, thay đổi phụ thuộc vào loại đất và giống. Thân, cành Hồng là cây thân gỗ, sinh trưởng nhiều năm, tán cây có dạng hình tròn mâm xôi hoặc hình tháp, tốc độ sinh trưởng chậm, thông thường cây hồng 30 tuổi đường kính thân chỉ đạt 25- 30cm, chiều cao cây chỉ đạt 5 - 6m [3]. Hồng là cây thay lá hàng năm về mùa đông, có thời gian ngủ nghỉ rõ rệt. Trong các loại cây thay lá, hồng ưa nhiệt độ tương đối cao, vì vậy rụng lá sớm và nảy mầm muộn.
Ở miền Bắc hồng thường rụng lá vào cuối tháng 10, đến giữa hoặc cuối tháng 2 mới ra lộc, thời gian ngủ nghỉ khoảng 2-3 tháng [3]. Thời gian ra lộc của hồng phụ thuộc vào nhiệt độ. Năm nào có nhiệt độ cao hồng sẽ ra lộc sớm hơn, tập trung hơn và ngược lại. Trong một năm hồng ra 3 - 4 đợt lộc tuỳ thuộc vào tuổi và khả năng sinh trưởng của cây.
Cây già chỉ ra một đợt lộc chủ yếu là lộc xuân, cây non một năm có thể ra 3 - 4 đợt lộc. Nhưng các đợt lộc thứ 3, thứ 4 thường yếu biểu hiện ở cành ngắn, số lượng ít [3]. Cây hồng có các đợt cành chính sau: - Cành xuân: Nảy đồng loạt vào trung tuần tháng 2 đến tháng 3, trên cành lúc này có cả mầm hoa và mầm dinh dưỡng. - Cành hè: Nảy vào tháng 6, tháng 7.
Thân và cành cây hồng (Nguồn: Lê Văn Trọng Lò Thị Quyến) - Cành thu: Nảy vào tháng 8, tháng 9. Đây là đợt cành mẹ của cành mang quả năm sau, vì vậy trong sản xuất cần chú ý chăm sóc và bồi dưỡng. Đối với những cây đã kết quả thì trong đợt cành xuân thường có 3 loại cành: cành sinh trưởng, cành mang hoa đực và cành mang hoa cái [3]. + Cành sinh trưởng: Là những cành không mang hoa, không có quả, chỉ có lá làm nhiệm vụ quang hợp và tích luỹ dinh dưỡng nuôi quả.
+ Cành mang hoa đực: Loại cành này thường nhỏ, mọc từ gốc cành năm trước, sinh trưởng yếu nên cành ngắn, cành mang hoa đực chủ yếu làm nhiệm vụ cung cấp phấn cho hoa cái nhờ côn trùng. + Cành mang hoa cái hoặc hoa lưỡng tính: Là những cành mang quả, phần lớn là những cành ở phần trên gần ngọn của cành sinh trưởng năm trước chưa ra quả hoặc mọc từ chồi nách thứ 1-2 của cành mẹ. Lá Lá hồng thuộc loại lá nguyên, to bản, có hình bầu dục hoặc ô van. Lá xuất hiện vào mùa xuân, sau khoảng một tháng thì phát triển đầy đủ và bước 6 vào thời kì hoạt động mạnh, màu chuyển dần từ xanh lục sang lục đậm hoặc xanh nhạt tuỳ giống, một số giống mặt dưới có nhiều lông tơ màu vàng xanh.
Cuối tháng 10 lá bắt đầu chuyển sang màu vàng sau chuyển sang màu đỏ và rụng, từ tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau trên cây hoàn toàn không có lá [3]. Hoa Khoảng 30-40 ngày sau khi ra lộc thì hoa bắt đầu nhú, thông thường hoa ở nách lá thứ 3-8 tính từ chân cành quả. Vì lộc nảy vào giữa tháng 2 nên hoa sẽ xuất hiện vào khoảng cuối tháng 3, thời kỳ ra hoa kéo dài 20- 25 ngày. Hoa cây hồng Nhân Hậu (Nguồn: Internet) Hoa của cây hồng được chia làm 3 loại: Hoa cái: Nhị thoái hoá hoặc không có hạt phấn, nhụy rất phát triển, hoa cái thường mọc ở nách lá thứ 3 - 8 tính từ chân cành quả lên ngọn [3].
- Hoa lưỡng tính: Tồn tại cả nhị và nhuỵ trên cùng một hoa, loại hoa này có thể tự thụ phấn. - Hoa đực: Thường nhỏ chỉ bằng 1/3 hoa cái và mọc thành chùm ở nách lá, nhụy cái thoái hoá. Hoa đực và hoa cái có thể tồn tại trên cùng một cây, 7 nhưng tỷ lệ không ổn định. Nếu cây còn khoẻ dinh dưỡng đầy đủ thì hoa cái thường có nhiều hơn, ngược lại khi cây già dinh dưỡng kém hoa đực sẽ ra nhiều hơn [3].
Có tác giả khi nghiên cứu về hoa của cây hồng cho rằng: Có những giống không cần thụ phấn vẫn có thể đậu quả được, quả hoàn toàn không hạt và kích thước khá đồng đều như: Hồng Bảo Lâm (Lạng Sơn), hồng Hạc Trì (Phú Thọ). Nhưng cũng có những giống để đạt được năng suất cao nhất thiết phải được thụ phấn như hồng Thạch Thất [3]. Quả Sau trồng được khoảng 3- 5 năm (đối với cây trồng từ giâm rễ) và 2-3 năm (đối với cây trồng từ cây ghép) hồng bắt đầu bói quả và thời gian cho quả rất dài. Tỷ lệ đậu quả của hồng tương đối cao vì hoa ra đều và tương đối tập trung.
Hoa to nên dễ dàng được thụ phấn nhờ ong, bướm, ruồi. Hoa nở vào thời gian tương đối muộn, lúc thời tiết đã ấm áp (ở miền Bắc vào tháng 3-4) nên dễ đậu quả [3]. Hồng thường có hiện tượng rụng quả sinh lý khá nhiều trong năm, nhưng tập trung chủ yếu vào hai đợt chính: Đợt 1 vào tháng 4 - 5 khi quả to bằng đầu ngón tay, đợt 2 vào tháng 7-8, lần này tuy quả rụng ít hơn đợt 1 nhưng vẫn ảnh hưởng đáng kể tới năng suất vì quả đã lớn. Ngoài ra quả hồng còn rụng rải rác cho đến trước thu hoạch do các nguyên nhân khác như sâu bệnh, gió bão, thiếu dinh dưỡng.
Trong các nguyên nhân gây rụng quả thì rụng quả sinh lý là nguyên nhân chủ yếu [3], [17]. Hồng là cây phân tính nhưng hoa cái có thể tạo quả không hạt khi không thụ phấn. Tuy nhiên, quả được hình thành không qua quá trình thụ phấn, thụ tinh có xu hướng nhỏ bé hơn. Sự tích luỹ dinh dưỡng vào quả của các giống hồng phụ thuộc vào thời vụ chín và điều kiện trồng trọt.
Quả hồng (Nguồn: Lê Văn Trọng Lò Thị Quyến) Khả năng mang quả không hạt là một nhân tố quan trọng để đánh giá chất lượng quả và ổn định sản lượng quả. Hiện tượng rụng quả sớm có liên quan đến hai nhân tố, khả năng mang quả không hạt và khả năng sinh hạt [10]. Giống có khả năng mang quả không hạt cao hơn thì rụng quả ít hơn. Một số giống được thụ phấn đầy đủ, số hạt được hình thành nhiều cũng rụng quả sinh lý ít.