MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Cây có múi (Citrus) là loại cây có giá trị dinh dƣỡng cao, có hƣơng vị thơm ngon, đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng. Cây cho quả sớm và có sản lƣợng cao, năm thứ ba sau trồng cây đã bắt đầu cho quả, những năm về sau năngsuất tăng dần và thời gian kinh doanh kéo dài, nếu chăm sóc tốt có thể trên 50 năm.
Có nhiều giống chín sớm muộn khác nhau, nên có thể kéo dài thời gian cung cấp quả tƣơi cho thị trƣờng tới 6 tháng trong năm.Mặt khác quả chín đúng vào dịp Tết Nguyên Đán nên càng có giá trị. Việt Nam là một trong những nƣớc nằm trong trung tâm phát sinh cây có múi (Trung tâm Đông Nam Á), nên cây có múi đã đƣợc trồng rất lâu đời và phân bố rộng khắp từ Bắc đến Nam. Nhiều địa danh đã nổi tiếng với tên gọi nhƣ: cam Canh, cam Xã Đoài, cam Sông Con, cam Vân Du, cam Bố Hạ, quýt Lạng Sơn… Trong những năm gần đây cam quýt đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của một số tỉnh nhƣ: Cần Thơ, Vĩnh Long, Nghệ An, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn … Trong nhiều thập kỷ qua, quảcó múi vẫn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực và nhu cầu tiêu thụ trong nƣớc cũng rất lớn. Việc nghiên cứu phát triển các loa ̣i cây ăn quả có múi ở nƣớc tachính thức phát triển từ những năm 30 của thế kỷ trƣớc.
Càng ngày, càng có nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu phát triển cam quýt ở Việt Nam. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất: nghiên cứu về sinh trƣởng phát triển, sự đa dạng nguồn gen di truyền cây cam, quýt; nghiên cứu về gốc ghép vô tính và kỹ thuật nhân giống cây cam, quýt, chanh, bƣởi sạch bệnh bằng nhân giống invitro và vi ghép;các biện pháp kỹthuật thâm canh tổng hợp, phòng trừ sâu bệnh hại… Tuy nhiên cho đến nay, năng suất 2 quả có múi ở nƣớc ta, nhìn chung còn thấp hơn nhiều so với một số nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Về chất lƣợng cũng còn có nhiều hạn chế: mã quả chƣa đẹp, nhiều hạt,lƣợng đƣờng cao, nhƣng hàm lƣợng acid thấp, mặc dù về phẩm vị có một số giống có thể sánh ngang vớinhững giống nổi tiếng thếgiới (cam Sành Vĩnh Long, Tiền Giang, Hà Giang; quýt Bắc Sơn - Lạng Sơn; bƣởi Da Xanh…). Điều kiện tự nhiên của tỉnh Yên Bái rất thích hợp cho trồng câyăn quả có múi và đã hình thành vùng cây ăn quả tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cao, trong đó có huyện Lục Yên.
Năm 2014 tổng diện tích cây ăn quả có múi của tỉnh là 1.710 ha thì Lục Yên chiếm diện tích 343 ha trong đó chủ yếu là cam sành. Cây cam sành đã gắn liền với ngƣời dân huyện Lục Yên nhiều năm nay, mang lại hiệu quả cho nhiều hộ dân ở các xã Khánh Hòa, Tân Lĩnh, Mƣờng Lai, thị trấn Yên Thế. Tuy nhiên một vài năm gần đây, diện tích cam sành đã giảm mạnh, năng suất thấp, chất lƣợng kém. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó chủ yếu là các nguyên nhân nhƣ câygiống bị nhiễm các loại bệnh nguy hiểm nhƣ Greening (vàng lá gân xanh), quá trình trồng và chăm sóc chƣa đƣợc ngƣời dân đầu tƣ đúngmức và đặc biệt là cây giống đã thoái hóa và không đảm bảo chất lƣợng.
Để góp phần khắc phục những tồn tại trên nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cây cam sành, mởrộng diện tích trồng mộtsố giống cam có năng suất và chất lƣợng cao phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng, phát triển của giống cam không hạt LD06 tại Lục Yên, Yên Bái” 3 1.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài. Xác định đƣợc gốc ghép có khả năng tƣơng thích cao nhất với giống cam sành không hạt LD06 trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Theo dõi và mô tả đặc điểm hình thái, khả năng sinh trƣởng, phát triểncủa giống cam không hạt LD06 trên đất trồng mới. Đánh giá tình hình nhiễm sâu bệnh hại của cây cam không hạt LD06 đƣợc trồng tạiLục Yên – Yên Bái.
Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. - Rèn luyện và nâng cao khả năng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cho sinh viên, là một cơ sở và tiêu chí cho việc đánh giá chất lƣợng sinh viên của trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu tiếp theo về cây cam tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, là tƣ liệu, nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, đào tạo trong và ngoài nhà trƣờng.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất. - Bƣớc đầu đƣa ra đƣợc các đánh giá về khả năng sinh trƣởng và phát triển của giống cam không hạt LD06 nghiên cứu khi trồng tại xã Khánh Hòa, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. - Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để xây dựng và mở rộng mô hình diện tích trồng cam không hạt LD06 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài. Cam, quýt đƣợc trồng lâu đời ở nƣớc ta, tuy nhiên không phải nơi nào cây cũng phát huy đƣợc những ƣu thế nhƣ nhau, không phải giống nào cũng thích hợp với bất kỳ một điều kiện tự nhiên của các vùng.Mỗi vùng đều có những điều kiện sinh thái nhất định ảnh hƣởng đến quá trình sinh trƣởng, phát triển, khả năng cho năng suất và phẩm chất quả. Cam quýt đƣợc xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trƣởng, ra hoa, kết quả chịu ảnh hƣởng nhiều của các yếu tố: các yếu tố về nội tại (di truyền), các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, ánh sáng, đất đai.) và các yếu tố về kỹ thuật canh tác… Các ảnh hƣởng đó sẽ đƣợc phản ánh ra trên bản thân của cây bằng những biểuhiện của sinh trƣởng, phát triển, khả năng cho năng suất và phẩm chất quả.Những đặc trƣng, đặc tính biểu hiện trong một đời của cây hay một năm đều là kết quả phản ánh tổng hợp giữa đặc điểm của giống và điều kiện ngoại cảnh. Tuỳ vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng, trong chu kỳ sống một năm cam, quýt thƣờng ra 4 đợt lộc: Xuân, Hè, Thu, Đông.
Các đợt lộc có sự liên quan khá chặt chẽ với nhau, quá trình ra lộc năm trƣớc là tiền đề cho sựra hoa kết quả năm sau. Hiểu biết rõ về các quy luật trên có các biện pháp kỹ thuật hợp lý điều khiển quá trình ra lộc, hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tƣợng ra quả cách năm, điều chỉnh cân đối giữa bộ phận trên mặt đất và dƣới mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất và chất lƣợng. Trên cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình sinh trƣởng, phát triển của cây cam, quýt thông qua các đợt lộc và mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm nhằm có thêm hiểu biết cơ bản, là tiền đề để xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác cây cam, quýt, đặc biệt là giống cam không hạt để đƣợc hiệu quả 5 kinh tế cao nhất.2Điều kiện tự nhiên.1 Vị trí địa lí. - Huyện Lục Yên nằm ở phía bắc tỉnh Yên Bái, trung tâm huyện là thị trấn Yên Thế nằm cách quốc lộ 70 khoảng 18 km về hƣớng đông và cách thành phố Yên Bái 60 km về hƣớng Bắc.Huyện có 23 xã và 1 thị trấn.
Phía Bắc của Lục Yên giáp tỉnh Hà Giang, phía Tây là tỉnh Lào Cai , phía Nam là huyện Văn Yên và huyện Yên Bình, phía Đông giáp huyện Hàm Yên (Tuyên Quang). -Huyện có diện tích 808,98 km2 và dân số là 102.2 Điều kiện đất đai và địa hình. - Địa hình của huyện bị chia cắt bởi 2 dãy núi chính, chạy dọc theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam phía hữu ngạn sông Chảy là dãy núi Con Voi có độ cao trung bình 300 – 400m, đỉnh cao nhất 1,148m, sƣờn thoải, độ dốc trung bình 400 chia cắt địa bàn thành những thung lũng nhỏ và các khe suối. Phía tả ngạn sông Chảy là dãy núi đá lớn chạy dọc theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam có độ cao trung bình 935m, đỉnh cao nhất 1.035m, có độ dốc lớn, đỉnh nhọn, sƣờn núi bị cắt xẻ, có độ dốc 700 trở lên, hầu hết vùng núi đá có rừng tự nhiên, độ che phủ rừng hiện tại là 42,6%.
- Nằm giữa 2 dãy núi và triền sông Chảy là vùng đất thấp bằng phẳng, hệ thống sông Chảy chảy qua huyện Lục Yên dài 65 km với nhiều chi lƣu lớn nhƣ ngòi Trúc Lâu, ngòi Vàn, ngòi Đại Cại, ngòi Biệc.3 Điều kiện khí hậu. Đặc trƣng của khí hậu Yên Bái là nhiệt đới gió mùa, nắng và mƣa nhiều, nền nhiệt cao.Nhiệt độ trung bình ít biến động trong năm (khoảng 18- 200C), cao nhất 37-390C, thấp nhất 2-40C.Gió thịnh hành là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam. Mƣa nhiều nhƣng phân bố không đều, lƣợng mƣa 6 trung bình 1.000mm/năm, cao nhất tới 2.204mm/năm và thấp nhất cũng đạt 1. Một số vùng tiểu khí hậu vào tiết xuân thƣờng có mƣa dầm triền miên.
* Chế độ mƣa: Yên Bái thuộc vùng có lƣợng mƣa trung bình, theo số liệu của khí tƣợng thủy văn tỉnh, lƣợng mƣa bình quân ở trạm Yên Bái là: 1.368,7 mm/năm; Mù Cang Chải 1. Phân bố lƣợng mƣa theo xu hƣớng tăng dần từ vùng thấp đến vùng cao và lƣợng mƣa phân bố không đồng đều các tháng trong năm, tháng mƣa nhiều nhất là tháng 5 đến tháng 9 (từ 114,8 đến 429,4 mm ); các tháng mƣa ít nhất là tháng 12 đến tháng 3 (từ 1,1 đến 80,3 mm ). * Chế độ ẩm: Theo số liệu khí tƣợng thì độ ẩm tƣơng đối, trung bình năm tại các trạm: Yên Bái là 86%; Văn Chấn 83%, Mù Cang Chải 81%.Sự chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng trong năm của các vùng trong tỉnh lệch nhau không lớn, từ 3- 50C càng lên cao độ ẩm tƣơng đối giảm xuống. Độ ẩm giữa các tháng có sự chênh lệch, do độ ẩm phụ thuộc vào lƣợng mƣa và chế độ bốc hơi (chế độ nhiệt và chế độ gió), tháng có độ ẩm lớn nhất là tháng 2,3,4,5,6,7 từ 80%- 89%, những tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11,12,1 có độ ẩm từ 77% 85%.
Yên Bái có lƣợng mƣa hàng năm lớn, độ ẩm tƣơng đối cao nên thảm thực vật xanh tốt quanh năm, thể hiện rất rõ tính chất gió mùa.