Đặt vấn đề Nấm linh chi có tên khoa học là Ganoderma lucidum, ở Việt Nam còn có tên gọi là nấm Lim, nhưng thông dụng nhất vẫn là nấm linh chi. Linh chi từ lâu đã được xem là dược liệu thượng phẩm trong đông y, được người xưa kể lại với rất nhiều truyền thuyết. Ngày nay, khoa học kỹ thuật càng phát triển, nấm linh chi còn được các nhà nghiên cứu chứng minh được tác dụng hữu ích trong việc điều trị bệnh: ung thư, cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch, HIV, suy nhược thần kinh, … Với những tác dụng thần kỳ đó, nấm linh chi đang được nghiên cứu và nuôi trồng ở nhiều nơi trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,. Ở Việt Nam, nghề trồng nấm đang được mở rộng và phát triển mạnh mẽ nhờ tận dụng được các nguồn nguyên liệu nuôi trồng là phế, phụ phẩm nông, lâm nghiệp như rơm, mùn cưa, vỏ hạt bông, lõi ngô, … ; sử dụng nguồn lao động khi nông nhàn; thêm vào đó điều kiện khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới rất thích hợp để trồng nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xử lý ô nhiễm môi trường,.
Thực tế hiện nay, có rất nhiều nguồn giống nấm linh chi bản địa cũng như du nhập từ nước ngoài vào đã và đang được nuôi trồng ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu và sản xuất, công tác đánh giá, khảo nghiệm để lựa chọn ra nguồn giống đảm bảo chất lượng, phù hợp với nhu cầu của thị trường; phù hợp với địa hình khí hậu của từng vùng, miền và nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương là vô cùng quan trọng. Một chủng nấm được chúng tôi thu thập tại Hà Nội, đặt tên là Ga-268, đã được phân lập và lưu trữ tại Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển nấm, khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Qua quan sát, nhận thấy chủng nấm này có đặc điểm hình thái tốt, có khả năng phát triển hơn nếu được nghiên cứu và đánh giá một cách khoa học.
Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm linh chi Ga-268 trên một số giá thể nhân giống và nuôi trồng”. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần và hàm lượng một số chất dinh dưỡng trên các giá thể nhân giống và nuôi trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của chủng nấm linh chi Ga-268. Yêu cầu Nghiên cứu ảnh hưởng của một số môi trường nhân giống đến sự sinh trưởng của chủng nấm linh chi Ga-268.
Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần mùn cưa và lõi ngô đến sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm linh chi Ga-268. Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần mùn cưa và bông hạt đến sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm linh chi Ga-268. Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng bổ sung đến sự sinh trưởng, phát triển của chủng nấm linh chi Ga-268. Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn nguyên liệu nhân giống khác nhau đến sự sinh trưởng, phát triển chủng nấm linh chi Ga-268.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm trên thế giới Ngành sản xuất nấm đã hình thành và phát triển trên thế giới hàng trăm năm. Ngày nay đã phát hiện trên 2000 loài nấm, trong đó có khoảng 80 loài ăn được và nuôi trồng thành công như nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm, nấm hương, nấm kim châm,…và nấm được sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như linh chi, vân chi, đầu khỉ,… Có trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ sản xuất nấm, sản lượng nấm trên thế giới đạt 25 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7%-10%/năm.
Các nước sản xuất nấm hàng đầu thế giới là Trung Quốc: 2.000 tấn (trong đó Đài Loan chiếm 71.800 tấn), chiếm 53,79 % tổng sản lượng nấm thế giới, Hoa Kỳ: 393.400 tấn (7,61%), Nhật Bản: 360.800 tấn, Hàn Quốc 92.000 tấn, Hà Lan 88. Ở Châu Âu Bắc Mỹ trồng nấm đã trở thành một ngành công nghiệp lớn được cơ giới hóa toàn bộ nên năng suất và sản lượng rất cao. Các loại nấm được nuôi trồng chủ yếu là nấm mỡ, nấm sò theo quy mô dây chuyền công nghiệp chuyên môn hóa cao độ. Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan đã áp dụng kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hóa sản xuất nấm nên đã đạt mức tăng trưởng rất cao.
Nhật Bản đạt gần 1 triệu tấn nấm hương/năm. Hàn Quốc nổi tiếng với nấm linh chi mỗi năm thu về hàng trăm triệu USD. Trung Quốc có nhiều viện, trung tâm nghiên cứu nấm lớn, là đầu tàu sản xuất nấm, mỗi năm thu hàng tỷ USD từ nấm. Năm 2008, tổng giá trị sản xuất nấm tại Hàn Quốc đạt gần 8 tỷ USD, chiếm 3% tổng giá trị ngành nông nghiệp.
Hàn Quốc hiện đang là nước nhập khẩu nguyên liệu (mùn cưa, rơm rạ) từ Việt Nam, Trung Quốc để sản xuất nấm và xuất khẩu sang 80 quốc gia khác nhau có cả Việt Nam (Nguyễn Hữu Hỷ và Cs, 2015). Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp nhất trong 20 năm gần đây. Sản xuất nấm đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng, hạn chế việc đốt rơm rạ, đốt phá rừng, tạo ra nguồn phân bón hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần tích cực vào chu trình chuyển hóa vật chất. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nấm tại Việt Nam Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng nấm với nguồn nguyên liệu phong phú như rơm, rạ, mùn cưa, lõi ngô, bông phế thải,… và điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của nhiều loài nấm cùng với chính sách ưu tiên phát triển của nhà nước.
Hiện nay, các nhà khoa học đã xác định có khoảng 1800 loài nấm lớn, trong đó có gần 200 loài nấm ăn và nấm dược liệu ở Việt Nam (Trịnh Tam Kiệt, 2014). Tuy nhiên, những nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh lý, sinh hóa và quy trình công nghệ nuôi trồng nấm để phục vụ việc chọn tạo các loại giống nấm ở Việt Nam chưa được tiến hành đồng bộ. Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nay đạt khoảng trên 250.000 tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu khoảng 90 triệu USD/năm. Trong đó đang nuôi trồng 12 loại nấm phổ biến ở các địa phương như: nấm rơm trồng chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long; mộc nhĩ ở các tỉnh Đông Nam Bộ; nấm sò, nấm mỡ, nấm hương ở các tỉnh phía Bắc và một số nấm dược liệu như linh chi, vân chi, đầu khỉ… được nuôi trồng ở Hà Nội, Hưng Yên, Đà Lạt, …, sản lượng mỗi năm đạt 150 tấn (Đinh Xuân Linh và Cs, 2012).
Tình hình tiêu thụ trong nước: nhu cầu tiêu thụ nấm (nấm tươi, nấm khô) trong nước tăng nhanh trong những năm gần đây, giá nấm luôn đứng ở mức cao, nấm hương 100.000 đồng/kg, nấm rơm, nấm mỡ 100.000 đồng/kg, nấm mộc nhĩ 120. Tình hình xuất khẩu: Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của các loại nấm như nấm rơm, mộc nhĩ, nấm mỡ, nấm đùi gà vừa dưới dạng tươi lẫn dạng đóng hộp đạt 90 triệu USD và qua 31 thị trường khác nhau. Tuy nhiên, do thiếu nguồn cung cấp nguyên liệu với số lượng lớn và cả nước chưa có một nhà máy chế biến nấm đạt tiêu chuẩn nên việc xuất khẩu nấm của Việt Nam vẫn còn thấp nếu so sánh với Hàn Quốc, Trung Quốc (Hùng Đỗ, 2012). Khái quát về nấm Năm 1969 nhà khoa học người Mỹ R.Whitaker đưa ra hệ thống phân loại: Giới khởi sinh (Monera): Gồm vi khuẩn và tảo lam.
4 Giới nguyên sinh (Protista): Gồm một số tảo đơn bào, nấm đơn bào có khả năng di động nhờ lông roi (tiên mao) và các động vật sinh. Giới thực vật (Plantae hay Vegetabilia). Giới động vật (Animalia). Năm 1973 nhà khoa học A.Takhtadjan đưa ra hệ thống phân loại như sau: Giới Mycota: gồm vi khuẩn và vi khuẩn lam Giới nấm Giới thực vật Giới động vật Hiện nay, các nghiên cứu về nấm người ta thường dựa vào hệ thống phân loại của R.Whitaker (1969) và hệ thống phân loại của A.
Khóa phân loại nấm hiện đại bao gồm các ngành và ngành phụ như sau: (Allexopolous, 1962) Ngành nấm nhầy (Exomycotina): loài nấm này có cả hai tính chất động vật và thực vật, chúng sinh sản bằng bào tử, nhưng tế bào lại là khối sinh chất không có vách ngăn bao bọc, di chuyển và nuốt thức ăn như động vật (amib). Ngành nấm thật (Eumycotina): chiếm số lượng lớn, bao gồm các tế bào với nhân tương đối hoàn chỉnh. Tế bào nấm có vách bao bọc như tế bào thực vật, đa số cấu tạo bởi chitin. Nhiều tế bào nấm còn tích trữ đường ở dạng glycogen, giống như động vật.
Một số loài sinh sản theo lối tạo những giao tử có lông roi để di động (động bào tử), nhưng hợp tử lại phát triển theo 1 kiểu chung của nấm (Lê Duy Thắng, 1999). Dựa theo tổ chức hình thái, nấm có thể được xắp xếp thành 4 lớp chính: - Lớp Phycomycetes (Lớp nấm tảo): sợi không có vách ngăn ngang, có động bào tử, gồm 2 lớp phụ: + Lớp phụ Oomycetes (Nấm noãn). + Lớp phụ Zygomycetes (Nấm tiếp hợp). Thường gặp ở những nấm lớn có tai nấm (nấm rơm, nấm hương…) - Lớp Deuteromyceter (Lớp nấm bất toàn – Fungi imperfect): không có khả năng sinh sản hữu tính ( Tô Minh Châu và cs, 1999).
Nấm không có lục lạp, không có sự phân hóa thành rễ, thân, lá, không có hoa, phần lớn không chứa cellulose trong thành tế bào, không có một chu trình phát triển chung như thực vật. Nấm hấp thu chất dinh dưỡng cần thiết từ cơ thể khác hay từ đất qua bề mặt của tế bào hệ sợi nấm, sinh sản bằng cách tạo bào tử hữu tính hoặc vô tính. Hệ thống phân loại sinh giới hiện nay đều coi nấm là một giới riêng, độc lập giới thực vật và giới động vật. Giới thiệu chung về nấm linh Chi 2.1 Vị trí phân loại Nấm linh chi có tên khoa học là: Ganoderma lucidum (Curtis) P.
Tên tiếng Anh: Ling zhi, Reishi. Tên khác: Xích chi, đan chi, tiên thảo, thụy thảo. Theo tác giả Trịnh Tam Kiệt (2011), nấm Linh chi thuộc: Giới: Nấm Fungi Ngành: Nấm đảm Basidiomycota Lớp: Agaricomycetes Bộ: Nấm lỗ Polyporales Họ: linh chi Ganodermataceae Chi: linh chi Ganoderma Loài: linh chi Ganoderma lucidum 2. Phân bố Nấm linh chi phân bố rộng rãi ở vùng rừng rậm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ.
Được khai thác lâu đời nhất ở Trung quốc, Việt Nam và Ấn Độ.