Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cam sành được trồng từ lâu tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Nó đã trở thành cây trồng rất quen thuộc đối với người dân nơi đây. Không chỉ vì chất lượng thơm ngon mà loài cây trồng này rất thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai tại địa phương.
Trong nhiều năm qua cam sành đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao, giúp người dân ổn định cuộc sống, tăng thêm thu nhập. Tuy nhiên, với kỹ thuật chủ yếu là theo kinh nghiệm cổ truyền, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất còn những hạn chế nhất định. Từ đó, đã có những tác động không có lợi đến sản xuất của người dân, nhiều vườn cam sành đã thoái hóa, xuống cấp ít có giá trị kinh tế. Một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất, chất lượng cam sành tại Lục Yên là bón phân chưa đầy đủ, chưa có các biện pháp kỹ thuật như phun phân bón lá, bọc quả nhằm nâng cao sức sống, tăng năng suất và chất lượng cam sành.
Việc sử dụng phân bón lá trên cơ sở chăm sóc tốt, bón phân cân đối vào đất đặc biệt là phân hữu cơ đã được khẳng định qua các nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước từ đó làm tăng năng suất và chất lượng cam sành. Việc áp dụng kỹ thuật bọc quả trên nhiều loại quả như cam, bưởi, xoài….đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh kỹ thuật này làm cho mã quả, năng suất cũng như chất lượng tăng lên, giúp nâng cao giá trị sản phẩm sau thu hoạch. Từ những cơ sở trên thấy rằng việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân bón lá và bọc quả trên cam sành tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái là hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn. Từ đó, sẽ xác định được loại phân bón lá và bọc quả phù hợp với điều kiện thực tiễn tại địa phương để nâng cao năng suất, chất lượng cam sành trong những năm tiếp theo.
Nguồn gốc và phân loại cam quýt 1. Nguồn gốc Các giống cam quýt được trồng hiện nay được nhiều nhà khoa học cho rằng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á (Trần Thế Tục, 1980) [20]. Tác giả Tanaka (1954) [49] đã vạch đường ranh giới vùng xuất xứ của giống thuộc chi Ctrus từ phía đông Ấn Độ (chân dãy núi Hymalaya) qua Úc, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản. Theo Trần Thế Tục (1980) [20] nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3.000 năm trước; Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục’’ đã ghi chép và phân loại các giống ở Trung Quốc.
Điều này cũng khẳng định thêm rằng nguồn gốc của các giống cam, chanh (Citrus sinensis Obeck) và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc (Tanaka,1979) [50]. Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) là ở miền Nam Việt Nam. Thực tế ở Việt Nam có rất nhiều địa phương trồng cam sành như Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái ….với nhiều giống và tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có: Cam sành Bố Hạ, cam sành Hàm Yên - Tuyên Quang, cam sành Lục Yên - Yên Bái, quýt sen Đình Cả - Bắc Sơn. Cũng có một số tác giả khác cho rằng nguồn gốc các loại cây có múi ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc vùng châu Á - Thái Bình Dương, mặc dù có vài loài tìm thấy ở châu Phi (Herrett R., Hatfield et al 1962) [39].
Phân loại cam quýt Theo tác giả K. Trong hệ thống phân loại hiện nay có 3 hệ thống được sử dụng hơn cả đó là hệ thống phân loại của Swingle và R. Theo sự phân loại này thì cam, quýt, chanh, bưởi đều thuộc họ cam (Rutaceae), họ phụ cam, quýt (Aurantoideae). Theo Varoxop, Steiman - 1982 có gần 250 loài được 5 chia ra làm nhiều chi và loài khác nhau.
Trong đó có 3 chi được trồng từ lâu đời để lấy quả là chi cam quýt (Citrus), chi cam 3 lá (Poncirus), chi quất (Fortunella). Chi Citrus là quan trọng nhất được chia thành 2 chi phụ là Eucitrus (các loài quan trọng là: Cam, chanh, quýt, bưởi) và Papeda (Lockhart, J. Quýt (Citrus recticula) cây cao chừng 2,5 m, lá xanh sẫm nhỏ, cuống lá có cánh hẹp. Quả dẹt khi chín màu da cam, có 9 - 13 múi, dễ bóc vỏ và chia múi, hạt phôi màu xanh lục.
Có 4 nhóm phụ là quýt chịu rét: Trồng nhiều ở Nam Nhật Bản, loại này thường chín sớm và không có hạt; quýt Kinh: Quả to, vỏ dày, khó bóc vỏ trồng nhiều ở Việt Nam, Thái Lan, .; quýt Ponkan: Gồm các loại trồng nhiều ở Đông Nam Á, có tên gọi khác nhau (Việt Nam có cam Đường Canh, cam Giàng, quýt Bộp Bố Hạ. Các giống này vỏ đều dễ bóc, quả to và ngọt (Trần Thế Tục và Cs, 1995 [22], Miller, E. C, 1938 [43]) Bưởi (Citrus grandis Osbeck còn gọi là Shaddock, pumelo) là giống cây có múi trồng nhiều ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đặc điểm cây cao to, tán rộng, hoa to thơm, quả to nhỏ tùy theo giống.
Đây cũng là một trong những loài phổ biến nhất ở nước ta. Theo ước tính loài này có đến vài chục giống mọc bán hoang dại và được trồng ở khắp các tỉnh trung du miền núi, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Ở nước ta có nhiều giống bưởi ngon nổi tiếng như bưởi Năm Roi, bưởi Biên Hoà, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Diễn,. Chanh Yên và Phật Thủ (Citrus medica) là loại cây nhỏ, mọc thành bụi, thân, cành mềm.
Lá ngắn cứng, không có eo, mép lá gợn răng cưa rõ. Hoa có 2 loại: Hoa lưỡng tính và hoa đực. Quả to, vỏ dày, múi nhỏ, ở phía đuôi quả lá noãn biến thành hình giống như những ngón tay và có mùi thơm đặc biệt. Đây là loại được thuần dưỡng rất sớm ở Đông Dương, Ấn Độ, Trung Quốc và ở Việt Nam chanh Yên được trồng rất nhiều ở miền Bắc (Trần Thế Tục, 1980 [20]).
6 Chanh (Citrus limon) là cây thân bụi, cao 3 - 4 m, lá có eo to hoặc nhỏ tuỳ theo giống, cây nhiều gai, cành mềm, quả nhỏ tròn, vỏ quả có nhiều tinh dầu, có 2 loại chính là chanh vỏ mỏng và chanh núm. Chanh vỏ mỏng có nguồn gốc ở vùng nóng ẩm Ấn Độ và Đông Dương, được trồng nhiều ở vùng nhiệt đới. Chanh vỏ mỏng Việt Nam có nhiều như chanh chùm, chanh tứ thời, chanh đào. Cam chanh (Citrus sinensis Osbeck) có nguồn gốc từ Trung Quốc được phổ biến rộng rãi ở khắp vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của trái đất (Trần Thế Tục và cs, 1988 [21], Georgh E.
Cam đắng (Citrus aurantium) là giống có tán to hơn cam ngọt, quả không tròn, dịch quả chua, vỏ múi đắng như bưởi thường trồng để lấy hoa, quả cất tinh dầu, trước đây thường dùng làm gốc ghép cho cam ngọt để tăng khả năng chịu úng, rét, chống bệnh chảy gôm. Cam ngọt (Citrus sinensis) đây là loài quan trọng nhất chiếm 2/3 sản lượng cây có múi trên thế giới, Citrus sinensis có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Quốc được thuần hoá sớm nhất. Hiện trồng nhiều ở Braxin, Hoa Kỳ, các nước Địa Trung Hải. Loài này gồm nhiều giống, có thể chia thành 3 nhóm chính là Cam Naven: Đặc điểm, đáy quả phụ nằm lọt vào trong quả chính, khi bổ quả làm đôi mới nhìn thấy, quả dễ bóc vỏ và tách múi, không có hạt, chín sớm, chịu rét tốt nhất trong các giống cam hiện nay; cam vàng: Quả chín và thịt quả màu vàng, trồng nhiều ở vùng khí hậu nóng.
Đa số các giống cam ở Việt Nam thuộc nhóm này; cam huyết: Thịt quả và vỏ trong của quả màu đỏ, trồng nhiều ở Địa Trung Hải (Addicott, F. Đặc điểm thực vật học và yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cam quýt 1. Đặc điểm thực vật học 1. Đặc điểm rễ cam quýt Rễ cam quýt nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza), nấm Micorhiza sống cộng sinh trên lớp biểu bì của rễ, có vai trò như những lông hút ở các cây trồng và thực vật khác, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ chất hữu cơ cho cây, cây cung cấp hydrat carbon cho nấm (Trần Thế Tục, 1990 [19], Viện Bảo vệ thực vật, 2001 [26]).
Do những đặc điểm trên mà cam quýt không ưa trồng sâu, vì rễ cam quýt chủ yếu là rễ bất định, phân bố rất nông (10-30cm), phân bố tương đối rộng và tập trung ở tầng đất mặt. Tuy nhiên, mức độ phân bố sâu hay rộng phụ thuộc vào loại đất, đặc tính của giống, cách nhân giống, chế độ chăm bón, tầng canh tác và mực nước ngầm. Đặc biệt là biện pháp kỹ thuật canh tác như: Làm đất, bón phân, phương pháp nhân giống, giống gốc ghép và giống cây trồng. Nghiên cứu sự phát triển của bộ rễ cam trên một số loại đất ở vùng Phủ Quỳ Nghệ An, tác giả Trần Thế Tục (1990) [19] nhận xét: “Trên ba loại đất trồng cam: Đất Bazan, đất phiến thạch, đất dốc tụ thì thấy trên đất bazan rễ cam ăn sâu và xa nhất.
Cùng trồng trên một loại đất và cùng có chế độ chăm sóc, các giống cam khác nhau có sự phân bố bộ rễ khác nhau. Giống cam có bộ tán khoẻ tương ứng, có bộ rễ phát triển tốt và ngược lại”. Nhìn chung rễ cam quýt hoạt động mạnh ở thời kỳ 1- 8 năm tuổi sau trồng, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém. Trong một năm cam quýt có 3 thời kỳ rễ hoạt động mạnh: Trước khi ra cành Xuân (tháng 2 đến đầu tháng 3); sau rụng quả sinh lý lần 1 (lúc cành Hè xuất hiện) và cành Thu đã sung sức (tháng 9-10).
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ cam quýt: Nhiệt độ thích hợp trên dưới 26 0C; đất thoáng và đủ ẩm (60%); độ chua pH = 4-8 và tối thích là 5,5-6,5, nhiều mùn, đủ dinh dưỡng, đủ chất kích thích sinh trưởng vv. Đặc điểm thân, cành Theo tác giả Phạm Thừa (1965) [18]: Đặc điểm thân, cành tuỳ thuộc giống, tuổi cây, điều kiện sinh sống, hình thức nhân giống mà cây có chiều cao và hình thái khác nhau. Tán cây cam quýt rất đa dạng: Có loại tán thưa, tán rộng, có loại phân cành hướng ngang, có loại phân cành hướng ngọn. Có loại tán hình cầu, hình bán cầu, hình tháp, hoặc hình chổi xể.
Cành có thể có gai hoặc không gai, có thể còn non thì có gai và rụng gai khi về già v.