Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc tính sinh học của cỏ thí nghiệm 1. Cỏ Panicum maximum cv hamill * Nguồn gốc: Cỏ Panicum maximum cv hamill (P. hamill) thuộc nhóm cỏ Ghine có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới thuộc Châu Phi, được đưa vào trồng ở Nam bộ từ năm 1875 và đưa vảo trồng ở Bắc bộ (Hải Kiến) năm 1900.
Cỏ đã được trồng lâu tại Việt Nam, nhưng thực tế những năm thăng trầm của kinh tế và việc phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp không được chú ý, giống cỏ này đã bị mai một không được phát triển trong sản xuất. Cỏ thí nghiệm được nhập giống bằng hạt từ Thái Lan (Búi Quan Tuấn, 2005)[66]. Cỏ có thể gieo trồng bằng hạt hay búi. Nếu trồng bằng búi thì cần chuẩn bị búi nhỏ khoảng 4 - 5 dảnh, trồng theo hàng cách nhau 50 - 60 cm hố cách nhau 30 - 50 cm, lấp sâu khoảng 12 - 15 cm.
Trồng xong nên tưới cho đất ẩm đến khi cỏ nẩy mầm. Giống cần chọn ở đồng cỏ lâu năm, cắt rễ ngắn còn 2 cm, thân dài 20 cm. Lượng giống cần khoảng 2 - 2,5 tấn/ha. Nếu trồng bằng hạt thì gieo 15 - 20 kg hạt theo hàng hay vãi vung.
Tuy nhiên nếu hạt giống tốt thì 1 ha chỉ cần 5 kg hạt là đủ. 1 kg giống cỏ có khoảng 1. Theo Panga (1978) [101] cho biết hạt giống cỏ thu được ở Cu Ba là 395 kg/ha và 100 kg/ha ở Srilanka sử dụng trồng để chăn nuôi ngựa. Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa.
Đất trồng chuẩn bị kỹ, bón lót phân chuồng 10 - 15 tấn, 10 kg lân và 50 kg kali. Phân đạm được bón khi thiết lập đồng cỏ và sau mỗi lứa thu hoạch. Cỏ có thể dùng làm bãi chăn thả hoặc sau đó 30 - 40 ngày thu hoạch một lần để cho ăn. Cỏ mọc thành khóm có chiều cao từ 30 - 50 cm.
Cỏ thích nghi tốt với thời tiết khô lạnh, thời 5 gian cắt trung bình từ 45 - 50 ngày/lứa (Thái Đình Dũng và Đặng Đình Liệu, 1979) [22]. Cỏ có thân cao tới 2 - 3m, không có thân bò, chỉ phân nhánh và tạo thành bụi. Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, cả bẹ và lá có lông nhỏ và trắng nhất là ở bẹ lá. Những lá phía trên ngắn và có bẹ lá dài nên không che nắng cho những lá dưới, lá có khả năng xoay theo chiều nắng.
Tỷ lệ lá/thân là 5/7, cụm hoa hình chùy đặc trưng của Panicum, hạt hoa dẹt, cũng có lông nhỏ và mịn. Bộ rễ có nhiều nhánh, phát triển rất mạnh, thích hợp ở nhiệt độ 25 - 37oC và ẩm độ 80%. Cỏ thường phân bố trong khoảng 16,3 - 28,70 vĩ độ Bắc. (1967)[84] độ cao có thể đến 2500 m so với mực nước biển.
Lượng mưa bình quân là 1000 mm/năm. Cỏ không có khả năng sinh trưởng ở vùng đất hay bị ngập lụt cũng không thực sự chịu hạn nhiều. Cỏ có thể thích ứng với nhiều loại đất nhưng cho năng suất cao khi đất có nhiều mùn và dinh dưỡng cao. Cỏ thích nghi với những vùng đất dốc, nên nhiều nơi sử dụng chúng để trồng trên các đường đồng mức hay trồng để bảo vệ đất chống xói mòn (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1976) [11].
* Năng suất Ở vùng South Johnstone, Queensland cho năng suất 60.000kg VCK/ha khi được bón 300 kg Nitơ (Middleton & MeCosker,1975)[99]. Khi cỏ được bón 440 kg Nitơ/ha thì thu được 26,846 kg VCK/ha khi cắt cỏ ở giai đoạn 40 ngày. Ở Việt Nam, năng suất đạt 50 - 100 tấn cỏ tươi/ha và có thể lên tới 130 - 180 tấn/ha (Nguyễn Đăng Khôi và Dương Hữu Thời, 1981)[43]. Mỗi năm cỏ Ghine cho khoảng 9 lứa cắt.
Năng suất cỏ biến đổi theo mùa. Cỏ có năng suất 8,13 tấn/ ha vào mùa khô và đạt 10,5 tấn/ha vào mùa mưa. * Thành phần hoá học Ở Coasta Rica người ta đã phân tích được thành phần hóa học như sau: protein thô 7,81% VCK, xơ thô 30,62% VCK, mỡ thô 2,33% VCK, khoáng 8,36 % VCK, vào giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa. Phân tích của (Davies , J , G 6 1970) [82] ở Tanzania và Thái Lan cho thấy lượng protein biến động trong khoảng 5,3 - 6,0% VCK.
Theo Lê Hòa Bình và cs (1992)[6], năng xuất chất xanh của cỏ tại Long Mỹ là 56,91 tấn/ ha/ năm, tại Sơn Thành đạt 92,9 tấn/ ha/ năm, tại Ba Vì đạt 86,3 tấn/ ha/ năm và tại Thụy Phương đạt 90,5 tấn/ ha/ năm. Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (2002)[33], thành phần dinh dưỡng của cỏ Ghine như sau: Nước 80%, protein 2,32%, mỡ 1,43%, xenlulose 5,56%, khoáng 1,38%, và cứ 5 kg cỏ này tương ứng với 1 đơn vị thức ăn. Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ và cs (1993)[36] cho biết cỏ Ghine giai đoạn 4 tuần tuổi có tỷ lệ protein thô đạt từ 10,5 – 17,0%, tỷ lệ xơ thô từ 29,0 – 39,0%, tỷ lệ Ca từ 1,06 – 1,37% và tỷ lệ P từ 0,21 – 0,27%. Cỏ ở 6 tuần tuổi tỷ lệ protein thô, xơ thô, Ca, P lần lượt đạt từ: 8,0 – 9,0%, 32,0 – 39,0%, 0,75 – 1,02%, 0,21 – 0,23% và 8 tuần tuổi là: 6,5 - 7,0%, 35,0 - 42,0%, 0,70 - 0,99%, 0,19 - 0,21%.
Cỏ Brachiaria mulato 2 * Nguồn gốc Cỏ Brachiaria mulato 2 (B. mulato 2) là giống cỏ lai (B. decumbens), được nhập nội từ Thái Lan, thuộc loại cây lâu năm.mulato 2 là cỏ thân bụi thấp, đẻ nhánh trên mặt đất, rễ chùm nên có khả năng chịu hạn rất tốt, cây cao từ 80 – 100 cm. Đây là giống cỏ không kén đất, chịu hạn tốt, thích hợp với hầu hết các vùng sinh thái của nước ta.
Thân có lông, lá có bẹ ôm lấy thân, bẹ lá và lá có lông nhỏ mịn. Thân và lá nhỏ, mềm vì vậy gia súc thích ăn. là kết quả lai tạo từ dự án đồng cỏ CIAD nhằm tạo ra giống có đặc tính nông học bền vững thích nghi rộng rãi, năng suất và chất lượng thức ăn cao hơn, chống chịu với rệp, nấm. Mulato 2 là cỏ lai giữa B.ruziziensis sinh sản hữu tính với B.
decumbens, từ quá trình lựa chọn Thế hệ sau và tiếp hợp vô tính với các dòng B. Kết quả đã tạo ra giống cỏ Mulato 2. Mulato 2 đã được đưa về nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Đồng cỏ Ba Vì để đánh giá thông qua đề tài “Nghiên 7 cứu xác định bộ giống cỏ phù hợp làm cây thức ăn gia súc ở Đồng bằng Bắc Bộ” (Dương Quốc Dũng và cs 1999) [23]. * Năng suất Cỏ có số lượng hoa lớn và hoa nở hàng loạt do vậy cỏ cho năng suất hạt khá cao từ 150 - 420 kg/ ha.
Tỷ lệ nẩy mầm của hạt không cao vì vậy giống cỏ này thường được trồng bằng gốc. Ở đất tốt, cỏ Mulato 2 cho năng suất chất xanh đạt trên 100 tấn ha/năm (100-150 tấn). Nếu trồng cỏ ở đất có lượng màu mỡ trung bình, cỏ cho năng suất trên 80 tấn/ ha/năm. Năng suất trong năm của cỏ tập trung vào mùa mưa từ 60 – 73,5% so với sản lượng cản năm.
- Thời vụ: Cỏ có thể trồng vào tháng 3 đến tháng 9 hàng năm. Nhưng tốt nhất là trồng vào tháng 3 đến tháng 4 vì thời gian này trời bắt đầu bước vào mùa mưa đất ẩm làm cho cây nhanh bén rễ và nẩy mầm. Sản lượng chất xanh hàng năm của cỏ đạt từ 80 - 150 tấn/ ha. Cỏ có thể sử dụng làm thức ăn xanh, phơi khô và cũng có thể trồng làm bãi chăn thả gia súc.
- Thu hoạch và sử dụng: Cỏ sau khi trồng từ 50 - 60 ngày có thể tiến hành cắt lứa đầu tiên, khoảng cách giữa các lứa cắt sau khoảng từ 30 - 40 ngày. Khi cắt phải chừa lại khoảng cách không quá 3 cm. Yêu cầu cỏ phải được cắt đúng lứa. * Thành phần hoá học Theo Trịnh Văn Thịnh (1974)[61] cho biết thành phần hóa học của cỏ Mulato 2 là: VCK đạt 26,40%, protein là 11,34%, lipit là 3,69% và tỷ lệ xơ là 9,78%.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cỏ Như chúng ta được biết cơ thể thực vật và điều kiện ngoại cảnh có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau. Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi quá trình trao đổi chất và khả năng tích luỹ chất khô của thực vật và có thể làm thay đổi thành phần hoá học của thực vật, nhất là vùng á 8 nhiệt đới (Cooper. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chất lượng cỏ đó là: 1. Phân bón - Cơ sở lý luận xây dựng chế độ phân bón và sử dụng phân bón cho cây trồng.
Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Từ đó sẽ dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng của cây trồng. Những bãi chăn thuộc loại trung bình (sản lượng cỏ khô 2,5 tấn/ha/năm) thì một năm tiêu tốn khoảng 70 kg N; 7,5 kg P; 37 kg Ca và 60 kg K/ha. Vì vậy, hàng năm phải bón một lượng lớn hơn Thế để bù đắp cho cây (Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, 2002)[32].
Cần có lượng phân bón đủ, phù hợp cho mỗi loại cỏ, mỗi mùa trong năm, mùa mưa cỏ có khả năng sử dụng phân nhiều vì sinh trưởng tốt cho năng suất cao. Nhưng mùa đông, sinh trưởng của cỏ kém, nhu cầu sử dụng phân hạn chế hơn, đồng thời phải xác định lượng các chất có trong đất để xác định lượng phân cần phù hợp. Theo Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Văn Dung (2006), [57] năng suất chất khô / 1 ha của cây thức ăn là sự phản ánh của đất và lượng mưa. Nếu ta đưa một lượng cây thức ăn cho gia súc không được bón phân vào một hệ thống canh tác theo kỹ thuật quảng canh trên đất xấu không thể đem lại năng suất cao trên đất ấy.
Trong tất cả các nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của cây thức ăn gia súc, nhân tố phân bón chắc chắn là quan trọng nhất và là nhân tố sau này cần bố trí thí nghiệm. Để xác định chế độ phân bón cần khảo sát các đặc điểm sau: Đặc điểm sinh lý của từng loại cây trồng và đặc điểm dinh dưỡng của từng loại cây 9 trồng đó. Tính chất của đất trồng. Điều kiện khí hậu và thời tiết khu vực trồng.
Tính chất của phân bón muốn sử dụng.