Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sản xuất nông nghiệp là hoạt động đối mặt với nhiều rủi ro xuất phát từ biến động tự nhiên, thị trường và các bất trắc kinh tế - xã hội (Ellis, 1993). Tại Việt Nam, bắp (Zea mays L.) là nguồn nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi (chiếm 80–90%). Trong giai đoạn 2014–2018, diện tích gieo trồng bắp cả nước đạt bình quân khoảng 1,12 triệu ha với sản lượng 5,15 triệu tấn/năm, tuy nhiên có xu hướng suy giảm bình quân 3%/năm về diện tích và 1,5%/năm về sản lượng. Nguồn cung trong nước chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu thụ nội địa, buộc Việt Nam phải nhập khẩu bình quân 6–7 triệu tấn/năm với kim ngạch khoảng 1,4 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đạt 15%/năm (AMIS, 2018; FAO, 2018).
Trước bối cảnh đó, Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 3367/QĐ-BNN ngày 31/7/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã định hướng chuyển đổi 236.000 ha đất lúa kém hiệu quả sang canh tác bắp lai, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được giao chỉ tiêu chuyển đổi 83.000 ha. Mặc dù diện tích trồng bắp tại ĐBSCL chỉ chiếm 2,8% diện tích bắp cả nước (khoảng 36 nghìn ha/năm giai đoạn 2014–2018), song năng suất bình quân tại đây cao gấp 1,3 lần mức trung bình toàn quốc, mang lại thu nhập cao gấp 1,8–2,3 lần so với độc canh cây lúa (Trương Vĩnh Hải và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, sản xuất bắp lai tại ĐBSCL đang đối mặt với nhiều trở ngại: quy mô manh mún, kỹ thuật canh tác hạn chế, liên kết tiêu thụ lỏng lẻo, chi phí sản xuất cao, hạ tầng và chính sách chưa đồng bộ, dẫn đến diện tích canh tác giảm từ 38,10 nghìn ha (năm 2014) xuống còn 33,00 nghìn ha (năm 2018), sản lượng giảm tương ứng từ 229,40 nghìn tấn xuống 189,50 nghìn tấn.
Về mặt lý thuyết và thực nghiệm, các nghiên cứu kinh tế nông nghiệp chỉ ra rằng thái độ đối với rủi ro chi phối trực tiếp quyết định phân bổ nguồn lực và ứng dụng kỹ thuật của nông hộ (Antle & Crissman, 1990; Ellis, 1993; Liu, 2013). Nông dân nghèo thường có xu hướng né tránh rủi ro, dẫn đến mức đầu tư đầu vào thấp hơn điểm tối ưu kinh tế, gây thất thoát lợi nhuận (Lipton, 1968; Larson & Plessmann, 2009). Dù vậy, các bằng chứng thực nghiệm về đo lường trực tiếp thái độ rủi ro bằng phương pháp trò chơi có thưởng và phân tích tác động của biến số này đến hiệu quả kinh tế trong canh tác bắp lai tại ĐBSCL còn thiếu vắng. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đo lường thái độ đối với rủi ro và phân tích ảnh hưởng của thái độ đối với rủi ro đến hiệu quả kinh tế trong canh tác bắp lai của nông hộ ở ĐBSCL; từ đó xác lập cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp giảm thiểu thái độ e sợ rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, cải thiện thu nhập cho nông hộ.
- Mục tiêu cụ thể:
- (1) Phân tích tình hình sản xuất bắp ở ĐBSCL.
- (2) Đo lường thái độ đối với rủi ro của nông hộ sản xuất bắp lai trên địa bàn nghiên cứu.
- (3) Phân tích ảnh hưởng của thái độ đối với rủi ro của nông hộ đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất bắp lai của nông hộ trên địa bàn.
- (4) Đề xuất các giải pháp giảm thái độ sợ rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất bắp lai, góp phần cải thiện thu nhập cho nông hộ.
Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình sản xuất bắp lai của các nông hộ ở ĐBSCL như thế nào?
- Nông hộ sản xuất bắp lai trên địa bàn là những người có thái độ rất sợ rủi ro, sợ rủi ro trung bình hay không sợ rủi ro?
- Thái độ đối với rủi ro của nông hộ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào?
- Mức hiệu quả kinh tế trong sản xuất bắp lai của các nông hộ đạt được là bao nhiêu?
- Thái độ đối với rủi ro, các đặc điểm của nông hộ và hoạt động sản xuất có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất của nông hộ như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1: Thái độ đối với rủi ro của nông hộ bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm kinh tế - xã hội của nông hộ.
- Giả thuyết 2: Thái độ sợ rủi ro khiến các nông hộ sử dụng đầu vào thấp hơn mức tối ưu về mặt kinh tế trong sản xuất.
- Giả thuyết 3: Hiệu quả kinh tế trong sản xuất của nông hộ bị giảm đi khi nông hộ càng có thái độ e sợ rủi ro hơn.
- Giả thuyết 4: Hiệu quả kinh tế trong trồng bắp lai phụ thuộc vào các yếu tố thuộc đặc điểm kinh tế - xã hội của nông hộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đo lường thái độ đối với rủi ro của nông hộ và ảnh hưởng của thái độ đối với rủi ro đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất bắp lai; các quyết định phân bổ đầu vào trong quá trình canh tác.
- Đối tượng khảo sát: 256 nông hộ canh tác bắp lai tại 03 tỉnh đại diện cho 2 vùng sinh thái của ĐBSCL.
- Phạm vi không gian: Tỉnh An Giang (huyện An Phú, vùng sinh thái phù sa thượng nguồn sông Cửu Long, diện tích bình quân 2014–2018 đạt 8,40 nghìn ha, chiếm 23,45% diện tích bắp toàn vùng); Tỉnh Đồng Tháp (huyện Thanh Bình, vùng phù sa thượng nguồn, diện tích bình quân 4,72 nghìn ha, chiếm 13,18% diện tích vùng); Tỉnh Trà Vinh (huyện Trà Cú, vùng đất giồng cát hạ nguồn sông Cửu Long, diện tích bình quân 4,66 nghìn ha, chiếm 13,01% diện tích vùng).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp thu thập trong niên vụ Đông Xuân từ tháng 11/2017 đến tháng 2/2018 (vụ canh tác đồng nhất giữa cả 3 tỉnh). Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2014–2018. Thời gian thực hiện luận án từ tháng 08/2016 đến tháng 05/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhánh trọng tâm:
-
Nghiên cứu về đo lường thái độ đối với rủi ro:
- Phương pháp mô hình toán và kinh tế lượng (khách quan): Dựa trên hành vi thực tế và giả định tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng để ước lượng tham số phân phối rủi ro của tổng thể (Moscardi & de Janvry, 1977; Antle, 1987; Wik và cộng sự, 2004). Tuy nhiên, cách tiếp cận này dễ bị nhiễu do các ràng buộc về nguồn lực của người ra quyết định (Eswaran & Kotwal, 1990).
- Phương pháp thực nghiệm (chủ quan): Khảo sát thông qua các tình huống giả định hoặc trò chơi có thưởng. Hạn chế của câu hỏi giả định là người tham gia không bộc lộ hành vi thực tế (Robison, 1982), điều này được khắc phục bằng trò chơi có thanh toán tiền thưởng thật (Binswanger, 1980, 1981, 1982). Thiết kế danh sách nhiều mức giá (Multiple Price List - MPL) của Holt và Laury (2002) cũng như Charness và cộng sự (2013) sử dụng 10 cặp lựa chọn để xác định điểm chuyển giao, tuy nhiên bộc lộ nhược điểm là người chơi có thể chuyển đổi qua lại không nhất quán do hạn chế nhận thức. Anderson và cộng sự (2010), Tanaka và cộng sự (2005, 2010), Liu và Huang (2010, 2013) đã cải tiến thiết kế này. Đặc biệt, phương pháp thực nghiệm của Eckel và Grossman (2002) thiết lập các lựa chọn có phương sai phần thưởng tăng tuyến tính với rủi ro trong khi xác suất cố định (50-50), giúp đơn giản hóa cấu trúc lựa chọn cho nông dân.
-
Nghiên cứu về thái độ rủi ro, phân bổ đầu vào và hiệu quả kinh tế:
- Lý thuyết kinh tế nông nghiệp xác nhận nông dân các nước đang phát triển nhìn chung có mức độ e sợ rủi ro cao do thu nhập thấp và rủi ro đe dọa trực tiếp sinh kế (Lipton, 1968; Mosley & Verschoor, 2003). Thái độ rủi ro tác động đến quyết định đa dạng hóa (Bezabih & Sarr, 2012; Chavas & Di Falco, 2012), mức độ sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (Ramaswami, 1992; Roosen & Hennessy, 2003; Liu & Huang, 2013) và khả năng chấp nhận công nghệ mới (Isik & Khanna, 2003; Knight và cộng sự, 2003; Liu, 2013).
- Đo lường hiệu quả kinh tế: Phát triển từ nền tảng của Farrell (1957) và Lau & Yotopoulos (1971), hiệu quả kinh tế ($EE$) là tích số giữa hiệu quả kỹ thuật ($TE$) và hiệu quả phân phối ($AE$). Hai phương pháp phổ biến gồm: Phân tích màng bao dữ liệu (DEA - Charnes và cộng sự, 1978; Coelli và cộng sự, 1998) và Phân tích biên ngẫu nhiên (SFA - Aigner và cộng sự, 1977; Meeusen & Van den Broeck, 1977). Các nghiên cứu thực nghiệm của Ogundari & Ojo (2006), Okoruwa và cộng sự (2009), Zalkuwi và cộng sự (2013), Dziwornu & Sarpong (2014), Sadiq và cộng sự (2015), Galawat & Yabe (2012), Hyuha và cộng sự (2007), Phạm Lê Thông (1998), Nguyễn Hữu Đặng (2011, 2012) đã áp dụng hàm sản xuất và hàm lợi nhuận biên dạng Cobb-Douglas hoặc Translog trong nông nghiệp.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án định vị nghiên cứu thông qua việc giải quyết ba khoảng trống:
- Ứng dụng kỹ thuật thực nghiệm của Eckel và Grossman (2002) với phần thưởng bằng tiền mặt thật để lượng hóa hành vi chấp nhận rủi ro của nông hộ trồng bắp lai ĐBSCL, khắc phục tính phi thực tế của câu hỏi giả định và sự phức tạp của thang đo MPL.
- Sử dụng mô hình hồi quy Logit thứ tự (Ordered Logit) để nhận diện các yếu tố kinh tế - xã hội đặc thù tác động đến mức độ e sợ rủi ro của nông hộ.
- Kết hợp đồng thời hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas và hàm phi hiệu quả theo phương pháp ước lượng một bước (one-stage estimation của Battese & Coelli, 1995) nhằm kiểm định thực nghiệm mô hình lý thuyết của Ellis (1993) về tác động của thái độ rủi ro đến hiệu quả kinh tế và tính tối ưu trong sử dụng đầu vào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm
- Rủi ro và Sự không chắc chắn: Rủi ro (Risk) đề cập đến tình huống mà các kết quả tương lai chưa được biết chính xác nhưng có thể lượng hóa được bằng phân phối xác suất khách quan hoặc chủ quan; trong khi sự không chắc chắn (Uncertainty) chỉ trạng thái không thể xác định được xác suất xảy ra của các biến cố (Knight, 1921; Ellis, 1993; Hardaker và cộng sự, 2004).
- Phân loại rủi ro nông nghiệp: Gồm 05 loại chính: rủi ro sản xuất, rủi ro thị trường, rủi ro thể chế, rủi ro cá nhân và rủi ro tài chính (Musser & Patrick, 2002; Hardaker và cộng sự, 2004; Drollete, 2009; Aimin, 2010).
- Lý thuyết Hữu dụng kỳ vọng (Expected Utility Theory - EUT): Do von-Neumann và Morgenstern (1944) đề xuất, xác định người ra quyết định lựa chọn phương án tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng:
$$E(U) = \sum_{i=1}^n P_i U(X_i)$$
Khái niệm tương đương chắc chắn (Certainty Equivalence - $CE$) và phí chấp nhận rủi ro ($EMV - I_A$) phân biệt ba thái độ: sợ rủi ro (hàm hữu dụng lõm, hữu dụng biên của thu nhập giảm dần), thích rủi ro (hàm hữu dụng lồi, hữu dụng biên tăng dần) và bàng quan với rủi ro (hàm hữu dụng tuyến tính) (Ellis, 1993; Lê Khương Ninh, 2016).
- Các thước đo mức độ e sợ rủi ro:
- Hệ số e sợ rủi ro tuyệt đối của Pratt (1964) và Arrow (1965):
$$A(W) = -\frac{U''(W)}{U'(W)}$$
- Hệ số e sợ rủi ro tương đối:
$$R(W) = -W \frac{U''(W)}{U'(W)}$$
- Hệ số e sợ rủi ro từng phần (Partial Risk Aversion - PRRA):
$$P(W_0, \epsilon) = -\epsilon \frac{U''(W_0 + \epsilon)}{U'(W_0 + \epsilon)}$$
Luận án sử dụng giả định rủi ro từng phần không đổi (Constant Partial Risk Assumption - CPRA) để chuẩn hóa hệ số rủi ro trong trò chơi thực nghiệm.
- Hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency - EE): Theo Farrell (1957) và Lau & Yotopoulos (1971):
$$EE_i = TE_i \times AE_i$$
Trong đó $TE$ là hiệu quả kỹ thuật (đạt sản lượng tối đa từ tập hợp đầu vào cho trước) và $AE$ là hiệu quả phân bổ (sử dụng đầu vào tại điểm giá trị sản phẩm biên bằng chi phí biên: $MVP_i = MFC_i$).
- Lý thuyết đối ngẫu và Hàm lợi nhuận đơn vị sản lượng (UOP): Từ hàm sản xuất, hàm lợi nhuận chuẩn hóa được thiết lập bằng cách chia lợi nhuận cho giá đầu ra ($P_y$):
$$\pi^* = \frac{\pi}{P_y} = f(P_j^, Z_k)$$
với $P_j^ = \frac{P_j}{P_y}$ là giá đầu vào chuẩn hóa và $Z_k$ là các yếu tố cố định.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế thực nghiệm đo lường rủi ro: Ứng dụng quy trình của Eckel và Grossman (2002). Nông hộ tham gia trò chơi lựa chọn rủi ro có trả thưởng thật với các kịch bản xác suất 50–50. Thiết kế bao gồm nhiều canh bạc có mức sinh lợi kỳ vọng và độ lệch chuẩn tăng dần tuyến tính. Dựa trên mức lựa chọn, người chơi được phân loại thành các nhóm thái độ: cực kỳ sợ rủi ro, rất sợ, sợ trung bình, e ngại vừa phải, ít e ngại đến trung dung, và ưa thích rủi ro. Các trò chơi lặp lại được tiến hành để kiểm tra tính ổn định trong hành vi lựa chọn của nông dân.
- Mô hình kinh tế lượng phân tích yếu tố ảnh hưởng đến thái độ rủi ro: Mô hình hồi quy Logit thứ tự (Ordered Logit Model) với biến phụ thuộc là các bậc thái độ rủi ro, các biến độc lập gồm: trình độ học vấn chủ hộ, sự tham gia đoàn thể xã hội, kinh nghiệm sản xuất bắp, tham gia tập huấn kỹ thuật, và mức độ đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình.
- Đo lường Hiệu quả kinh tế qua Phân tích biên ngẫu nhiên (SFA): Sử dụng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas kết hợp hàm phi hiệu quả:
$$\ln \pi_i = \beta_0 + \sum_{j} \beta_j \ln P_{ji}^* + \sum_{k} \gamma_k \ln Z_{ki} + v_i - u_i$$
Trong đó:
- $\pi_i$ là lợi nhuận chuẩn hóa của nông hộ $i$.
- $P_{ji}^*$ là giá chuẩn hóa của các đầu vào biến đổi (giá giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu/tưới tiêu, công lao động).
- $Z_{ki}$ là các biến cố định (diện tích đất canh tác bắp).
- $v_i \sim N(0, \sigma_v^2)$ là sai số ngẫu nhiên đối xứng hai phía.
- $u_i \ge 0$ là thành phần phi hiệu quả kinh tế một phía, tuân theo phân phối nửa chuẩn hoặc chuẩn cắt cụt.
- Hàm phi hiệu quả có dạng:
$$u_i = \delta_0 + \sum_m \delta_m W_{mi} + \epsilon_i$$
với $W_{mi}$ là các biến giải thích (thái độ sợ rủi ro, trình độ học vấn, quy mô lao động gia đình, diện tích canh tác, tỷ lệ thu nhập bắp trong tổng thu nhập hộ).
- Ước lượng hệ phương trình được thực hiện đồng thời bằng phương pháp hợp lý cực đại một bước (one-stage MLE theo Battese & Coelli, 1995) để đảm bảo các ước lượng không chệch và có tính vững.
- Kiểm định mức sử dụng đầu vào tối ưu: Xác định hệ số hiệu quả phân phối ($k$) cho từng yếu tố đầu vào thông qua kiểm định tương quan giữa giá trị sản phẩm biên tế ($MVP$) và chi phí yếu tố cận biên ($MFC$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của đề tài. Tác giả phân tích bối cảnh suy giảm diện tích trồng bắp tại Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng trong giai đoạn 2014–2018 (diện tích ĐBSCL giảm từ 38,10 nghìn ha xuống 33,00 nghìn ha; sản lượng giảm từ 229,40 nghìn tấn xuống 189,50 nghìn tấn). Phân tích tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn của đề án tái cơ cấu cây trồng theo Quyết định số 899/QĐ-TTg và Quyết định số 3367/QĐ-BNN. Xác lập hệ thống 04 mục tiêu cụ thể, 05 câu hỏi nghiên cứu, 04 giả thuyết kiểm định. Giới hạn phạm vi nghiên cứu tại 03 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh trong vụ Đông Xuân 2017–2018 với 256 mẫu khảo sát. Trình bày các đóng góp học thuật và các giới hạn nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh tế về hành vi trong điều kiện bất định: Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng (EUT), các thuộc tính của hàm hữu dụng von Neumann-Morgenstern, lý thuyết đo lường mức độ e sợ rủi ro tuyệt đối ($A(W)$), tương đối ($R(W)$), từng phần ($PRRA$) và các tính chất DARA, DPRA, IRRA, IPRA. Phân tích mô hình lý thuyết của Ellis (1993) về việc thái độ sợ rủi ro dẫn đến mức đầu tư đầu vào thấp hơn điểm tối ưu kinh tế. Trình bày lý thuyết hiệu quả sản xuất của Farrell (1957), nguyên lý đối ngẫu, cấu trúc hàm sản xuất Cobb-Douglas và hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên UOP. So sánh chi tiết ưu nhược điểm giữa phương pháp phi tham số (DEA) và phương pháp tham số (SFA), từ đó lựa chọn phương pháp ước lượng biên ngẫu nhiên SFA một bước (Battese & Coelli, 1995) kết hợp thực nghiệm trò chơi Eckel & Grossman (2002) dưới giả định CPRA.
Chương 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Phân tích các điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, thủy văn và kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL tác động đến sản xuất nông nghiệp. Đánh giá hiện trạng thực hiện chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả. Trình bày số liệu tổng quan về cung cầu, giá cả bắp trên thị trường thế giới và Việt Nam giai đoạn 2014–2018. Mô tả bức tranh canh tác bắp lai tại 3 địa bàn khảo sát:
- An Giang: Địa bàn huyện An Phú, vùng đất phù sa màu mỡ đầu nguồn sông Hậu, dẫn đầu toàn vùng về diện tích (bình quân 8,40 nghìn ha/năm, chiếm 23,45% diện tích bắp ĐBSCL).
- Đồng Tháp: Địa bàn huyện Thanh Bình, vùng phù sa ven sông Tiền, diện tích bình quân 4,72 nghìn ha/năm (chiếm 13,18%).
- Trà Vinh: Địa bàn huyện Trà Cú, đại diện vùng hạ lưu ven biển với thổ nhưỡng đất giồng cát đặc thù, diện tích bình quân 4,66 nghìn ha/năm (chiếm 13,01%).
Chương này làm rõ sự phân hóa về điều kiện sinh thái, kỹ thuật canh tác và tập quán sản xuất luân canh giữa các tiểu vùng.
Chương 4: Thái độ đối với rủi ro của nông hộ và hiệu quả kinh tế trong sản xuất bắp lai
Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận chuyên sâu qua 4 nội dung:
- Đặc điểm kinh tế - xã hội và tài chính: Thống kê nhân khẩu học, trình độ học vấn chủ hộ, quy mô lao động, quy mô diện tích canh tác, cơ cấu chi phí sản xuất (chi phí giống, phân bón, thuốc BVTV, lao động, tưới tiêu), doanh thu và lợi nhuận tài chính của 256 nông hộ.
- Đo lường và phân tích thái độ đối với rủi ro: Kết quả thực hiện trò chơi thực nghiệm Eckel & Grossman chỉ ra tỷ lệ e sợ rủi ro chiếm áp đảo. Ước lượng mô hình Ordered Logit xác định các biến có ý nghĩa thống kê tác động đến mức độ e sợ rủi ro gồm: học vấn chủ hộ, tham gia tổ chức đoàn thể, kinh nghiệm canh tác, tham gia tập huấn kỹ thuật, và đa dạng hóa thu nhập hộ gia đình. Kiểm định hệ số hiệu quả phân phối ($k$) cho thấy nông hộ không đạt được mức sử dụng đầu vào tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận.
- Ước lượng hiệu quả kinh tế: Kết quả ước lượng hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas đồng thời với hàm phi hiệu quả chỉ ra mức hiệu quả kinh tế trung bình đạt 70,65%. Sự biến thiên hiệu quả chịu ảnh hưởng bởi thái độ sợ rủi ro, học vấn chủ hộ, quy mô lao động, diện tích gieo trồng và tỷ lệ thu nhập từ bắp.
- Thất thoát lợi nhuận và giải pháp: Phân tích mức lợi nhuận bị mất do kém hiệu quả kinh tế phân theo từng nhóm thái độ rủi ro. Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và chính sách nhằm giảm tâm lý e sợ rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp các kết luận chính rút ra từ các mục tiêu nghiên cứu. Đề xuất 06 nhóm giải pháp thực tiễn cho các cơ quan quản lý nông nghiệp vùng ĐBSCL và các tỉnh khảo sát. Trình bày các kiến nghị về định hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm khắc phục các giới hạn về dữ liệu chuỗi thời gian và mở rộng phạm vi đo lường rủi ro đa chiều.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án là công trình thực nghiệm áp dụng quy trình trò chơi lựa chọn rủi ro có trả thưởng thật của Eckel và Grossman (2002) dưới giả định rủi ro từng phần không đổi (CPRA) trên đối tượng nông hộ canh tác bắp lai tại ĐBSCL. Quy trình này cung cấp bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy về hành vi kinh tế của nông dân có trình độ tính toán hạn chế, tạo tiền đề phương pháp luận cho các nghiên cứu đo lường rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.
- Vận dụng thành công phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) thông qua ước lượng đồng thời một bước (one-stage MLE) hệ phương trình hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas và hàm phi hiệu quả kinh tế, khắc phục được khiếm khuyết ước lượng chệch và thiếu vững chắc của phương pháp ước lượng hai bước truyền thống (Battese & Coelli, 1995).
- Kiểm định thực nghiệm mô hình lý thuyết của Ellis (1993), làm rõ mối quan hệ giữa các bậc thái độ rủi ro, quyết định lựa chọn mức đầu vào và mức độ thất thoát lợi nhuận do kém hiệu quả kinh tế trong nông hộ.
Đóng góp thực tiễn và các phát hiện định lượng
- Phân bố thái độ đối với rủi ro của nông hộ: Kết quả từ trò chơi thực nghiệm trên 256 nông hộ cho thấy phần lớn nông dân có tâm lý e ngại rủi ro cao:
- Cực kỳ sợ rủi ro: 46,48%
- Rất sợ rủi ro: 21,88%
- Sợ rủi ro ở mức trung bình: 13,28%
- E ngại rủi ro vừa phải: 6,25%
- Ít e ngại đến trung dung: 2,34%
- Ưa thích rủi ro: 9,77%
| Mức độ thái độ đối với rủi ro |
Tỷ lệ nông hộ (%) |
| Cực kỳ sợ rủi ro (Extremely risk-averse) |
46,48 |
| Rất sợ rủi ro (Severely risk-averse) |
21,88 |
| Sợ rủi ro mức trung bình (Moderately risk-averse) |
13,28 |
| E ngại rủi ro vừa phải (Slightly risk-averse) |
6,25 |
| Ít e ngại đến trung dung (Neutral to slight risk) |
2,34 |
| Ưa thích rủi ro (Risk-preferring) |
9,77 |
| Tổng cộng |
100,00 |
- Yếu tố ảnh hưởng đến thái độ rủi ro (Ordered Logit): Trình độ học vấn cao hơn, việc tham gia các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương, kinh nghiệm sản xuất, tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật và mức độ đa dạng hóa nguồn thu nhập gia đình có tác động làm giảm mức độ e sợ rủi ro của nông hộ.
- Sử dụng đầu vào và Hiệu quả kinh tế (EE):
- Nông hộ thuộc các nhóm thái độ rủi ro khác nhau nhìn chung đều chưa đạt được mức sử dụng đầu vào tối ưu nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
- Hiệu quả kinh tế trung bình của nông hộ trồng bắp lai đạt 70,65%, cho thấy tiềm năng có thể cải thiện thêm 29,35% lợi nhuận trên cùng mức nguồn lực hiện có.
- Các yếu tố làm tăng hiệu quả kinh tế (giảm phi hiệu quả) gồm: thái độ ít e sợ rủi ro hơn, trình độ học vấn của chủ hộ cao hơn, quy mô lao động gia đình dồi dào, diện tích đất canh tác lớn và tỷ trọng thu nhập từ bắp trong tổng thu nhập hộ cao.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận án đề xuất 06 nhóm giải pháp:
- Xây dựng và phát triển chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ: Kêu gọi và thiết lập hợp đồng liên kết bao tiêu giữa doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi với các tổ hợp tác/hợp tác xã trồng bắp nhằm ổn định giá đầu ra, giảm rủi ro thị trường cho nông hộ.
- Đa dạng hóa thu nhập và sinh kế hộ: Khuyến khích nông hộ phân bổ hợp lý nguồn lực lao động và đất đai thông qua các mô hình xen canh, luân canh màu - lúa phù hợp, giúp gia tăng khả năng chống chịu tài chính trước rủi ro sản xuất.
- Thí điểm mô hình bảo hiểm nông nghiệp cho cây bắp: Nhà nước và các tổ chức tài chính cần xây dựng cơ chế bảo hiểm chỉ số thời tiết hoặc bảo hiểm năng suất đối với bắp lai nhằm tạo điểm tựa an toàn cho nông hộ khi chuyển đổi diện tích.
- Nâng cao nhận thức kỹ thuật và kiến thức thị trường: Tăng cường công tác khuyến nông, đào tạo kỹ thuật bón phân, sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc tối ưu kinh tế (thay vì lạm dụng hoặc cắt giảm quá mức do sợ rủi ro), đồng thời cung cấp thông tin thị trường định kỳ cho nông dân.
- Khuyến khích tích tụ, mở rộng quy mô diện tích canh tác: Hỗ trợ chính sách dồn điền đổi thửa, liên kết cánh đồng lớn để nông hộ đạt được tính kinh tế theo quy mô, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc cơ giới hóa.
- Quy hoạch và phân vùng sản xuất tập trung: Nhà nước cần hoàn thiện quy hoạch vùng chuyên canh bắp lai gắn với hạ tầng logistics, thủy lợi phục vụ tưới tiêu tại các tiểu vùng sinh thái trọng điểm (vùng phù sa An Giang, Đồng Tháp và vùng đất giồng Trà Vinh).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về phương pháp thực nghiệm: Luận án mới chỉ thực hiện đo lường thái độ rủi ro qua các trò chơi có mức trả thưởng cố định, chưa thiết kế được nhiều mức thanh toán tăng dần với quy mô tiền thưởng lớn hơn để kiểm tra sự biến động của hệ số rủi ro khi quy mô của cải thay đổi.
- Về phương pháp đo lường: Nghiên cứu chưa kết hợp đo lường đồng thời thái độ rủi ro bằng cả phương pháp kinh tế lượng khách quan (thông qua hàm sản xuất/chi phí thực tế) song song với phương pháp thực nghiệm để đối chiếu chéo độ tin cậy.
- Về bản chất dữ liệu: Luận án sử dụng dữ liệu mặt cắt không gian (cross-sectional data) trong một vụ sản xuất duy nhất (Đông Xuân 2017–2018), do đó chưa phản ánh được sự thay đổi của thái độ rủi ro và hiệu quả kinh tế của nông hộ theo chuỗi thời gian (panel data).
- Về phạm vi rủi ro: Nghiên cứu chỉ tập trung lượng hóa thái độ đối với rủi ro thu nhập nói chung dựa trên kỳ vọng tài chính, chưa bóc tách và đo lường riêng rẽ thái độ của nông hộ đối với từng loại hình rủi ro chuyên biệt (rủi ro sản xuất/thời tiết, rủi ro biến động giá thị trường, rủi ro thể chế chính sách, rủi ro cá nhân và rủi ro tín dụng tài chính).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng thiết kế thực nghiệm với các thang mức thanh toán phần thưởng tăng tiến nhằm kiểm định sâu hơn các giả thuyết về sự thay đổi của hệ số e sợ rủi ro tương đối ($CRRA$) và rủi ro tuyệt đối ($CARA$).
- Thu thập dữ liệu bảng (panel data) qua nhiều mùa vụ liên tiếp để phân tích động thái thay đổi thái độ rủi ro và tính ổn định của hiệu quả kinh tế nông hộ dưới tác động của biến đổi khí hậu.
- Thiết kế các mô hình đánh giá riêng biệt mức độ chấp nhận từng loại rủi ro (thời tiết, giá cả, dịch bệnh) để làm cơ sở thiết kế sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp đặc thù.
Giá trị tham khảo
Đối tượng tham khảo
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển: Tài liệu tham khảo về việc thiết kế trò chơi thực nghiệm trong kinh tế học hành vi (Behavioral Economics) và kỹ thuật ước lượng đồng thời một bước mô hình phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) trên phần mềm kinh tế lượng.
- Cơ quan quản lý nhà nước và Hoạch định chính sách (Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL): Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang bắp, các rào cản hành vi của nông hộ, từ đó điều chỉnh chính sách quy hoạch vùng sản xuất, hỗ trợ tín dụng và dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp.
- Tổ chức khuyến nông và Doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi: Tham khảo thông tin về tập quán sử dụng đầu vào của nông dân, khoảng cách hiệu quả kinh tế và cơ chế hình thành chuỗi liên kết bao tiêu nông sản tại địa phương.
Các nội dung đáng tham khảo
- Thiết kế chi tiết trò chơi thực nghiệm đo lường rủi ro theo phương pháp Eckel và Grossman (2002) tại Mục 2.1 và 2.3.
- Quy trình toán học thiết lập hàm lợi nhuận chuẩn hóa UOP và hệ phương trình hàm biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas đồng thời với hàm phi hiệu quả tại Mục 2.5.
- Phương pháp kiểm định lượng đầu vào tối ưu và hệ số hiệu quả phân phối ($k$) trong điều kiện sản xuất có rủi ro tại Chương 2 và Chương 4.
- Hệ thống dữ liệu thống kê mô tả chi tiết về chi phí, doanh thu, lợi nhuận và cơ cấu các nhóm rủi ro của 256 nông hộ trồng bắp lai tại An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng phương pháp nào để đo lường thái độ đối với rủi ro của nông hộ?
Tác giả sử dụng phương pháp kinh tế học thực nghiệm của Eckel và Grossman (2002). Nông hộ tham gia trò chơi lựa chọn các phương án canh bạc có xác suất 50–50 với mức chi trả tiền thưởng thật, trong đó giá trị nhận thưởng kỳ vọng và phương sai tăng tuyến tính với mức độ rủi ro. Hệ số rủi ro của người tham gia được xác định dựa trên hàm hữu dụng với giả định rủi ro từng phần không đổi (CPRA).
2. Tỷ lệ phân bố thái độ rủi ro của các nông hộ trồng bắp lai tại ĐBSCL được ghi nhận như thế nào?
Khảo sát thực nghiệm trên 256 nông hộ cho thấy: 46,48% nông hộ cực kỳ sợ rủi ro; 21,88% rất sợ rủi ro; 13,28% sợ rủi ro mức trung bình; 6,25% e ngại vừa phải; 2,34% ít e ngại đến trung dung; và chỉ có 9,77% nông hộ có thái độ ưa thích rủi ro. Tổng tỷ lệ nông dân có tâm lý e ngại rủi ro (từ vừa phải đến cực kỳ sợ) chiếm tới 87,89%.
3. Những yếu tố nào ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến thái độ đối với rủi ro của nông dân?
Thông qua mô hình hồi quy Logit thứ tự (Ordered Logit), luận án xác định 05 yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thái độ rủi ro của nông hộ: trình độ học vấn của chủ hộ, mức độ tham gia các tổ chức đoàn thể tại địa phương, kinh nghiệm sản xuất bắp, việc tham gia các chương trình tập huấn kỹ thuật, và mức độ đa dạng hóa các nguồn thu nhập của hộ gia đình.
4. Mức hiệu quả kinh tế trung bình của nông hộ trồng bắp lai tại ĐBSCL đạt bao nhiêu và chịu tác động bởi các yếu tố nào?
Hiệu quả kinh tế trung bình đạt 70,65% (ước lượng từ hệ phương trình đồng thời hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas và hàm phi hiệu quả bằng phương pháp SFA một bước). Các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa đến hiệu quả kinh tế bao gồm: mức độ e sợ rủi ro của nông dân, trình độ học vấn chủ hộ, quy mô lao động gia đình, diện tích đất canh tác bắp, và tỷ trọng thu nhập từ bắp trong tổng thu nhập của nông hộ.
5. Kết quả kiểm định việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong canh tác bắp lai cho thấy điều gì?
Kiểm định mối quan hệ giữa thái độ rủi ro và quyết định đầu vào cho thấy chưa có bằng chứng rõ ràng về sự khác biệt trong quyết định sử dụng đầu vào tối ưu giữa các nhóm thái độ rủi ro khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung đa số các nông hộ khảo sát đều không chọn được mức đầu vào tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận, thể hiện qua việc hệ số hiệu quả phân phối ($k$) của các nguồn lực đầu vào biến đổi đều chệch khỏi mức tối ưu kinh tế ($k \neq 1$).
Kết luận
Luận án tiến sĩ đã cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả kinh tế của 256 nông hộ trồng bắp lai tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả chỉ ra rằng đại bộ phận nông dân có thái độ e sợ rủi ro cao (chiếm hơn 87%), chịu sự chi phối của học vấn, kinh nghiệm, tập huấn khuyến nông và đa dạng hóa thu nhập. Mức hiệu quả kinh tế trung bình đạt 70,65% và bị suy giảm bởi tâm lý sợ rủi ro cùng các hạn chế về quy mô diện tích và kỹ thuật lựa chọn đầu vào tối ưu. Các phát hiện này xác lập căn cứ khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách liên kết chuỗi, quy hoạch vùng chuyên canh tập trung và triển khai bảo hiểm nông nghiệp nhằm phát triển bền vững ngành hàng bắp lai tại vùng ĐBSCL.