mở đầu thời kỳ dùng lạc đầu tiên trên quy mô lớn. Công nghiệp ép dầu được xây dựng với tốc độ nhanh ở các nước Châu Âu và trên toàn thế giới. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 12 Trong những năm gần đây, người ta chú ý nhiều đến protein trong hạt lạc, nhân loại đặt nhiều hy vọng vào các loại cây bộ đậu để giải quyết nạn đói prôtêin trước mắt và trong tương lai. Trong các cây bộ đậu của thế giới, lạc có diện tích và sản lượng đứng thứ 2 sau cây đậu tương.
Như vậy, hướng sản suất lạc trên thế giới trong những năm tới tốc độ phát triển sẽ chậm hơn so với những năm trước. Diện tích trồng lạc sẽ có thay đổi nhiều do các chính sách quản lý, thương mại. Năng suất là chỉ tiêu để phản ánh tiến bộ nghiên cứu về cây lạc và cây đậu tương, và chính sách là yếu tố quan trọng quyết định tương lai của cây trồng này. Những yếu tố quan trọng quyết định năng suất cao là: - Cải tiến kỹ thuật canh tác và mở rộng diện tích ở các nước nhiệt đới và Á nhiệt đới, đặc biệt các nước đang phát triển.
- Chú trọng đến công tác chọn tạo giống mới có năng suất cao hơn, phẩm chất tốt, giống phải phù hợp với từng điều kiện sinh thái, hình thành vùng sản suất hàng hoá, cơ giới hoá sản suất. Thuốc trừ sâu, trừ cỏ, bệnh tốt hơn. - Chế biến, đi sâu vào lĩnh vực chế biến dầu thực vật, hỗ trợ và giúp đỡ các nước đang phát triển về xuất khẩu và nhập khẩu lạc nhân. Trong tương lai, sự tác động của công nghệ sinh học, di truyền học phân tử đối với cây trồng có thể mở ra 1 tiềm năng mới trong tương lai phát triển cây lạc, cây đậu tương có thể làm tăng năng suất cây lạc, cây đậu tương lên nhiều thông qua các giống năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt.
Công nghệ sinh học cũng là yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng đậu tương, lạc.Những tiến bộ kỹ thuật này cũng có thể cải tiến hiệu quả sản suất và tiêu dùng sản phẩm lạc, đậu tương. Tình hình sản xuấ t la ̣c ở Viê ̣t Nam Cây lạc đã được nông dân ta trồng từ lâu đời và được trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Hiện nay, lạc được phân bố chủ yếu ở 4 vùng lớn là: Miền núi và trung du Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng, khu bốn cũ và miền Đông Nam Bộ. Cả 4 vùng này chiếm đến 3/4 diện tích và sản lượng, còn lại rải rác ở một số vùng.
Tiềm năng để nâng cao năng suất lạc của nước ta còn rất lớn.Kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy trên diện tích rộng hàng chục hecta, gieo trồng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, nông dân có thể dễ dàng đạt năng suất lạc 4 - 5 tấn/ha, gấp 3 lần so năng suất lạc bình quân trong sản xuất đại trà. Điều đó chứng tỏ rằng kỹ thuật tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất sẽ góp phần rất đáng kể trong việc tăng năng suất và sản lượng ở nước ta. Vấn đề chính hiện nay là làm sao để các giống mới và các kỹ thuật tiến bộ đến được với nông dân và được nông dân tiếp nhận. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 13 Hơn 10 năm trở lại đây việc thực hiện chính sách chuyển đổi cơ chế quản lý trong sản xuất nông nghiệp đã giải quyết được vấn đề lương thực.
Vì vậy người dân có điều kiện chủ động để chuyển dần một phần diện tích trồng lúa thiếu nước sang trồng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, trong đó cây lạc có vị trí quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, cũng như góp phần cải tạo và sử dụng tài nguyên đất đai, nhằm khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới. Đồng thời, việc sử dụng những giống mới có năng suất cao, kỹ thuật thâm canh lạc tiên tiến cũng được áp dụng rộng rãi. Nhờ vậy năng suất và sản lượng lạc ở nước ta ngày càng tăng. Diê ̣n tích, năng suấ t, sản lượng lạc ở Viê ̣t Nam 2010-1013 Diê ̣n tić h Năng suấ t Sản lươ ̣ng Năm (nghìn ha) (tấ n/ha) ( nghìn tấ n) 2010 231,4 2,105 487,2 2011 223,7 2,094 468,4 2012 220,5 2,134 470,6 2013 216,2 2,276 492,0 (Nguồ n: FAO, 2014) Qua bảng số liê ̣u cho thấ y diê ̣n tić h và sản lươ ̣ng la ̣c của Viêt Nam từ năm 2010 đế n năm 2013 giảm dầ n.
Từ năm 2010 với diê ̣n tić h là 231,4 nghìn ha đế n năm 2013 giảm xuố ng còn 216,2 nghìn ha. Tuy nhiên năng suấ t với sản lươ ̣ng la ̣c la ̣i tăng dầ n. Tình hình sản xuất lạc tại Thừa Thiên Huế Ở Thừa Thiên Huế cây lạc được xem là cây trồng quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định.Nhiều nơi đã chuyển đổi cơ cấu mở rộng diện tích trồng lạc, đầu tư vào sản xuất lạc nên diện tích và năng suất đã có những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây.Tình hình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế từ năm 2010 -2015 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (ha) (Tạ/ha) (tấn) 2010 4060 21,70 8810 2011 3830 19,70 7391 2012 3507 21,90 7680 2013 3606 23,10 8330 2014 3764 18,20 6852 2015 3897 24,25 9452 (Nguồn:Cục thống kê Thừa Thiên Huế, 2015) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 14 Diện tích trồng lạc ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong hai năm 2010 và 2011 giảm từ 4,0 nghìn ha xuống còn 3,8 nghìn ha. Năm 2012 diện tích trồng lạc tiếp tục giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, dân số tăng nhanh.
Tuy nhiên nhờ chính sách khuyến nông diện tích trồng lạc ở Thừa thiên Huế lại tăng lên trong 4 năm từ năm 2012 đến năm 2015. Nếu như năm 2012 diện tích trồng lạc trên toàn tỉnh là 3507 ha thì năm 2015 là 3897 ha tăng 390ha tương ứng 11,12%. Năng suất thì trong năm gần đây lạc ở Thừa Thiên Huế tăng lên đáng kể từ năm 2010 đến năm 2015. Năm 2010 năng suất lạc toàn tỉnh là 21,70 tạ/ha thì năm 2015 là 24,25 tạ/ha.
Tuy nhiên, Năm 2011 và năm 2014 do điều kiện khí hậu không thuận lợi cây lạc bị chết nhiều và quả lạc chưa phát triển tốt ảnh hưởng tới năng suất. Mặc dù diện tích giảm nhưng sản lượng vẫn duy trì ở mức ổn định năm 2010 sản lượng lạc toàn tỉnh đạt8,8 nghìn tấn, đến năm 2015 sản lượng lạc 9,5 nghìn tấn. Cây lạc vẫn là cây trồng hàng năm mang lại lợi nhuận kinh tế cao cho bà con nông dân ở Thừa Thiên Huế. Các nghiên cứ về nano bạc Lịch sử hình thành của công nghệ nano Tiền tố nano xuất hiện trong tài liệu khoa học lần đầu tiên vào năm 1908, khi Lohman sử dụng nó để chỉ các sinh vật rất nhỏ với đường kính 200nm.Năm 1974, Tanigushi lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ công nghệ nano hàm ý sự liên kết các vật liệu cho kỹ thuật chính xác trong tương lai.
Hiện tại trong khoa học, tiền tố nano biểu thị con số 10-9 tức kích thước 1 phần tỷ mét. Cho tới nay, vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất về công nghệ nano. Theo cơ quan Hàng Không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), công nghệ nano là công nghệ chế tạo ra các cấu trúc, vật liệu, thiết bị và hệ thống chức năng với kích thước đo bằng (khoảng từ 1 đến 100nm) và khai thác ứng dụng các đặc tính độc đáo của những sản phẩm này. Công nghệ nano cũng có thể hiểu là ngành công nghệ dựa trên các hiểu biết về các quy luật, hiện tượng, tính chất của cấu trúc vật lý có kích thước đặc trưng ở hạt nano.
Có thể nói, trong thời điểm hiện tại, tiềm năng phát triển của một công nghệ hay kỹ thuật mới rõ nhất qua nguồn ngân sách nghiên cứu hàng năm và doanh thu đem lại từ các sản phẩm thương mại của nó. Được toàn thế giới nghiên cứu và đầu tư phát triển, ngân sách đầu tư cho công nghệ nano của các tổ chức thuộc chính phủ đã tăng khoảng 7 lần từ 430 triệu năm 1997 lên 3 tỉ USD năm 2003. Cơ sở khoa học Công nghệ nano dựa trên ba cơ sở khoa học chính: Chuyển tiếp từ tính chất cổ điển đến tính chất lượng tử: khác với vật liệu khối, khi ở kích thước nano thì các tính chất lượng tử được thể hiện rất rõ ràng. Vì vậy khi Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 15 nghiên cứu vật liệu nano chúng ta cần tính tới các thăng giáng ngẫu nhiên.
Càng ở kích thước nhỏ thì các tính chất lượng tử càng thể hiện một cách rõ ràng hơn. Ví dụ một chấm lượng tử có thể được coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng lượng giống như một nguyên tử Hiệu ứng bề mặt: Cùng một khối lượng nhưng khi ở kích thước nano chúng có diện tích bề mặt lớn hơn rất nhiều so với khi chúng ở dạng khối. Điều này, có ý nghĩa rất quan trọng trong các ứng dụng của vật liệu nano có liên quan tới khả năng tiếp xúc bề mặt của vật liệu, như trong các ứng dụng vật liệu nano làm chất diệt khuẩn. Đây là một tính chất quan trọng làm nên sự khác biệt của vật liệu có kích thước nanomet so với vật liệu ở dạng khối Kích thước tới hạn: Kích thước tới hạn là kích thước mà ở đó vật giữ nguyên các tính chất về vật lý, hóa học khi ở dạng khối.
Nếu kích thước vật liệu mà nhỏ hơn kích thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi. Nếu ta giảm kích thước của vật liệu đến kích cỡ nhỏ hơn bước sóng của vùng ánh sáng thấy được (400 - 700 nm), theo Mie hiện tượng "cộng hưởng plasmon bề mặt" xảy ra và ánh sáng quan sát được sẽ thay đổi phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng xảy ra hiện tượng cộng hưởng. Hay như tính dẫn điện của vật liệu khi tới kích thước tới hạn thì không tuân theo định luật Ohm nữa. Mà lúc này điện trở của chúng sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử.
Mỗi vật liệu đều có những kích thước tới hạn khác nhau và bạn thân trong một vật liệu cũng có nhiều kích thước tới hạn ứng với các tính chất khác nhau của chúng.Bởi vậy khi nghiên cứu vật liệu nano chúng ta cần xác định rõ tính chất sẽ nghiên cứu là gì.