Đặt vấn đề Cây lúa (Oryza sativa L.) là một cây trồng có từ lâu đời, là nền móng cho nền văn minh lúa nước của loài người, đặc biệt là khu vực Châu Á. Cùng với sự phát triển của xã hội, những thành tựu khoa học kỹ thuật liên tục ra đời đã nhanh chóng đi vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực: Di truyền chọn giống, sinh lý, sinh hóa, hóa sinh, cơ giới, hóa học. mà năng suất, phẩm chất, sản lượng và hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa không ngừng được tăng lên ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, việc thâm canh lúa được thực hiện chủ yếu bằng cách sử dụng những giống lúa chịu phân, chịu thâm canh cao cùng với thói quen là lạm dụng quá nhiều phân bón hóa học. Việc thâm canh như vậy để lại hậu quả rất xấu cho môi trường sinh thái, làm ô nhiễm các nguồn tài nguyên như đất, nước, mặt khác cũng không tiết kiệm được lượng phân bón trong sản xuất. Nhằm hạn chế hậu quả trên đã có rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau để tìm cách giảm lượng phân bón trong sản xuất mà vẫn duy trì được năng suất lúa. Trong đó, giống Khaau chonj gioongstốt và kỹ thuật canh tác mà chủ yếu là mật độ cấy đã và đang được các nhà nông học quan tâm nghiên cứu.
, Việc sử dụng giống tốt và cấy đúng mật độ không những tạo điều kiện tối ưu cho sinh trưởng phát triển, cho năng suất cao mà còn là những khâu vô cùng có ý nghĩa trong vấn đềquá trình chăm sóc cho lúa của bà con nông dân. Bên cạnh đó, việc xác định đúng giống và mật độ cấy cho tỉnh Vĩnh Phúc đúng còn 1 có ý nghĩa lớn trong việc sử dụng phân bón một cách hợp lý hơn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, khắc phục tình trạng sử dụng phân bón quá mức cần thiêt gây ảnh hưởng xấu tới đất canh tác. Chính vì thế, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức phân đạm tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa BT13 tại Tam Dương – Vĩnh Phúc”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.Mục đích - Đánh giá được các đặc trưng, đặc tính cơ bản về sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của giống ở các mật độ cấy và các nền phân bón khác nhau nhằm tìm ra mật độ và chế độ phân bón phù hợp với giống BT13 trong điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết ở Tam Dương – Vĩnh Phúc.
- Xác định được mật độ và lượng phân bón thích hợp đối với sự sinh trưởng, phát triển của giống, góp phần vào việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, tăng thu nhập cho người trồng lúa. Yêu cầu của đề tài * Yêu cầu đánh giá: - Đặc điểm sinh trưởng, phát triển - Một số chỉ tiêu sinh lý - Yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của các giống lúa - Khả năng chống chịu sâu bệnh hại của một số giống lúa ngắn ngày. - Hiệu quả kinh tế của phân bón lá đến giống lúa BT13 tại Tam Dương – Vĩnh Phúc. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống lúa ngắn ngày BT13 làm tài liệu cho công tác chọn lựa các mật độ cấy cũng như khẳng định vai trò của mức phân bón đến tăng năng suất lúa và cây trồng nói chung. Ý nghĩa thực tiễn: - Góp phần vào việc hoàn thiện quy trình thâm canh tăng năng suất, phát triển sản xuất lúa, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. TỔNG QUAN TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và trong nước 2.
Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới Cây lúa là một loại cây ngũ cốc có lịch sử lâu đời, trải qua một quá trình biến đổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay. Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, do khả năng thích nghi rộng nên cây lúa được trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Hiện nay có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục, với tổng diện tích là 164,12 triệu ha. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng (FAOSTAT, 2008).
Theo thống kê của FAO cho thấy diện tích canh tác lúa những năm đầu của thế kỷ 21, vẫn có xu hướng tăng nhưng tăng chậm. Từ 2008 đến năm 2009 diện tích lại có giảm đôi chút nhưng lại tăng ở năm 2010. Năng suất bình quân tăng ổn định qua từng năm từ 40,03 tạ/ha và đạt 44,03 năm 2011-Trong đó Ấn Độ là nước có diện tích thu hoạch lúa lớn nhất (khoảng 45 triệu ha), tiếp đến là Trung Quốc (khoảng 30 triệu ha) (Ghosh, R. Biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên toàn thế giới giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2011 được thể hiện qua bảng bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa gạo 4 trên toàn thế giới giai đoạn từ năm 2005 - 2011 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (Triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2005 154,99 40,93 634,44 2006 155,61 41,21 641,21 2007 155,14 42,35 656,97 2008 160,21 42,98 688,53 2009 158,58 43,203 685,09 2010 161,76 43,343 701,13 2011 164,12 44,037 722,76 (Nguồn: FAOSAT, 2013 ) Qua bảng cho thấy khoảng những năm đầu của thế kỷ 21, diện tích canh tác lúa vẫn có xu hướng tăng nhưng tăng chậm, từ 2008 đến năm 2009 diện tích lại có giảm đôi chút nhưng lại tăng khi sang năm 2010.
Điều này cho thấy sang đến thế kỷ 21, dân số toàn cầu đã đạt 7 tỷ người, tốc độ đô thị hóa tăng cao, diện tích canh tác thu hẹp dần, nhất là tại châu Á, châu Mỹ La Tinh nơi tập trung của nhiều nước đang phát triển và là những vùng trồng lúa chính của thế giới. Năng suất bình quân tăng ổn định qua từng năm từ 40,03 tạ/ha và đạt 44,03 năm 2011. Về sản lượng: sản lượng lúa gạo trên thế giới năm 2009 giảm 0,5% so với năm 2008 do có sự thụt giảm về diện tích, lý do chính là do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nông dân không chú trọng đầu tư vào cây lúa. Đến năm 2011 sản lượng lúa tăng lên và đạt cao nhất ở mứcsản lượng lúa gạo tang lên và đạt cao nhất ở năm 2011 ( 722,76 triệu tấn).
Lúa từ lâu cũng là mặt hàng đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trên thế giới hiện nay có những nước xuất khẩu gạo nổi tiếng như: Thái Lan, Việt Nam, Mỹ, Ấn Độ, Pakistan, Brazil, Campuchia,… Năm 2011, lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan đạt 5 8,5 triệu tấn, chiếm 22% tổng lượng gạo xuất khẩu. Lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt 7,3 triệu tấn, Ấn Độ 4,7 triệu tấn. Năm 2012, Thái Lan bị cơn lũ lịch sử tàn phá, gây thiệt hại nặng nề cho ngành nông nghiệp, nhà nước Thái Lan phải thu mua gạo dự trữ, bị canh tranh gay gắt bởi gạo Việt Nam và một số nước khác do đó sản lượng xuất khẩu gạo giảm chỉ còn 6 triệu tấn [42].
Thị trường lúa gạo thế giới chứng kiến những cạnh tranh gay gắt giữa những nước xuất khẩu gạo nhất là trong thời gian gần đây là sự vươn lên của Ấn Độ, Pakistan, Myanma. Nhu cầu gạo nhập khẩu của thị trường trên thế giới cũng tương đối khác nhau. Châu Âu, Châu Mỹ thường có nhu cầu nhập khẩu gạo chất lượng cao, trong khi đó châu Phi lại có nhu cầu nhập khẩu gạo chất lượng trung bình và thấp. Trong những năm qua Inđônêxia là nước luôn có nhu cầu nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, lượng gạo nhập khẩu của Inđônêxia lên tới 5,7 triệu tấn, Philippin, Malaysia, Nhật cũng là những quốc gia có nhu cầu nhập khẩu khá lớn. Trung Quốc là 1 thị trường rất lớn nhưng nhu cầu nhập khẩu gạo còn hạn chế. Hiện nay, lượng gạo trao đổi trên thị trường thế giới chiếm tỉ trọng thấp trong tổng cung (dưới 5%) và giá gạo chịu ảnh hưởng rất lớn lượng mua vào của một số nước nhập khẩu chính như Inđônêxia, Philippin, Trung Quốc,… Thời gian vừa qua Trung Quốc đã đẩy mạnh nhập gạo từ các nước khác nhất là các nước Đông Nam Á. Gần đây nhất, đầu năm 2008, thế giới đối đầu với cuộc khủng hoảng lương thực, giá gạo xuất khẩu đạt mức kỷ lục 1060 – 1100 USD/tấn.
Giá lương thực, thực phẩm tăng đe doạ hơn 100 triệu người trên thế giớ. Vì vậy vấn đề an ninh lương thực luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của Việt Nam 2. Tình hình nghiên cứu lúa ở Việt Nam Ở Việt Nam sản xuất lúa chiếm tỉ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp, thu hút hơn 70% dân số và 70% lao động xã hội cả nước.
Lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu vừa có kim ngạch lớn vừa có tính truyền thống lâu đời. Do đó việc 6 nghiên cứu các giống lúa cho năng xuất cao, phẩm chất tốt luôn được nhà nước ta quan tâm. Công tác chọn tạo giống mới ở nước ta được đánh dấu bằng sự nhập nội giống IR8 mà nhân dân ta thường quen gọi là lúa "thần nông". Đây là giống thấp cây, dáng khoẻ, chịu phân, kháng bệnh tốt và cho năng suất cao.
Ở miền Bắc cùng với một số dòng mới được tách ra và nhân lên từ IR8 và một số giống lúa thấp cây được lai tạo ra đã làm cho sản lượng thóc tăng lên đáng kể từ 10,8 triệu tấn năm 1976 đã tăng lên 26,3 triệu tấn năm 1996 trong cả nước. Do Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến công tác chọn tạo giống nên sau khi đất nước thống nhất nhiều trung tâm giống cây trồng đã được thành lập trong cả nước. Một số trung tâm đã thu được những kết quả nhất định. Trung tâm giống cây trồng Ma Lâm - Bình Thuận đã chọn tạo được hai tập đoàn lúa với khoảng 800 giống.
Trong đó có hai giống lúa ML48 và TH6 được rất nhiều nông dân các tỉnh miền Trung và miền Đông Nam Bộ ưa chuộng và đưa vào gieo cấy. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam được thành lập vào năm 1952 nhưng ngay từ giai đoạn 1954-1963 Viện đã tuyển chọn được nhiều giống lúa mới: Nam Ninh, Trà Trung Tử, 828, 813, NN1.