CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài Đối với cây trồng muốn thu được năng suất cao, cần phải hiểu biết về đặc tính sinh lý của cây trồng, để từ đó chúng ta có thể khai thác khả năng tiềm tàng về năng suất và sản lượng kế hoạch của chúng. Với mục đích đó nên đã có nhiều nghiên cứu về sinh lý năng suất cao ở nhiều loại cây trồng khác nhau trong đó có cây bông. Nghiên cứu sinh lý ruộng bông năng suất cao đã được nghiên cứu nhiều ở các nước trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam vấn đề này còn ít được quan tâm. Cây trồng nói chung và cây bông nói riêng muốn đạt được năng suất sinh vật học cao trước hết phải có diện tích lá lớn.
Tuy nhiên, khi diện tích lá quá cao, thì cường độ quang hợp và hiệu suất quang hợp thuần có xu hướng giảm xuống do hiện tượng che lấp ánh sáng lẫn nhau, trong lúc đó cường độ hô hấp tăng lên. Đối với cây trồng, diện tích lá cũng chỉ có thể được phép tăng lên đến một ngưỡng thích hợp. Muốn xúc tiến khả năng tích lũy chất khô lên nữa thì cần tăng thời gian duy trì diện tích lá tối ưu bằng cách tăng mật độ trồng dày hợp lý, đồng thời bảo đảm đủ nước và phân bón nhất là đạm (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, 1996). Cây bông là cây sinh trưởng vô hạn vì vậy cần điều khiển nguồn quang hợp bằng cách tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp, muốn tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp để có năng suất cao thì cần phải căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng, phát triển, đặc điểm sinh lý, khả năng quang hợp của cây với môi trường cụ thể như chỉ số diện tích lá, hiệu suất quang hợp, hàm lượng diệp lục,.
Bằng cách đó chúng ta mới giải quyết được quan hệ giữa quần thể 6 và cá thể. Vì vậy, để thỏa mãn các điều kiện cần cho quang hợp như: tăng chỉ số diện tích lá tối thích chúng ta cần tác động các biện pháp kỹ thuật như mật độ gieo trồng, xử lý chất điều hòa sinh trưởng PIX, phân bón hợp lý,. Vì vậy, trong phạm vi đề tài, chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến các chỉ tiêu sinh lý và nông sinh học của cây bông để từ đó tác động các biện pháp kỹ thuật, nhằm mang lại năng suất và hiệu quả cao.2 Tình hình sản xuất bông trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất bông trên thế giới Bông là loại cây trồng cho năng suất kinh tế lớn. Sản phẩm của cây bông vừa là nguyên liệu chủ yếu của ngành Dệt - May, vừa là nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành công nghiệp khác như công nghiệp nhẹ, công nghiệp hóa chất.
Do vậy, cây bông được trồng hầu khắp trên thế giới và chủ yếu được trồng tập trung ở các nước châu Á và châu Mỹ, trong đó châu Á chiếm 61% diện tích và đạt 63% sản lượng, châu Mỹ chiếm 24% diện tích và đạt 25% sản lượng bông thế giới (FAO, 1997), (Cotton: world statistics, 1994). Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 80 quốc gia sản xuất bông vải với diện tích hằng năm khoảng 30-35 triệu ha, tập trung chủ yếu ở các nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Ở các nước này, nhìn chung, tồn tại 02 phương thức sản xuất bông: – Cách thứ nhất: chủ yếu ở những nước, những vùng mà cây bông vẫn còn có ưu thế vì không có cây trồng nào tốt hơn. Diện tích bông trồng theo cách này có cả vùng có năng suất rất tốt, nhưng đại bộ phận là vùng đất xấu (như châu Phi, Ấn Độ …), người trồng bông nghèo, trình độ dân trí thấp; – Cách thứ 2: sản xuất có sự hỗ trợ của Chính phủ nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Điển hinh là 3 nước lớn chiếm hơn 75% sản lượng bông thế giới là Mỹ, Ấn độ và Trung Quốc. Cách hỗ trợ mỗi 7 nước thì khác nhau, nhưng nét chung là làm cho bông có hiệu quả hơn các cây trồng cạnh tranh (kể cả trong nước và quốc tế). Trong gần 10 năm trở lại đây, diện tích trồng bông toàn cầu biến động trong khoảng 30-35 triệu ha với sản lượng bông xơ khoảng 20-25 triệu tấn/năm. Tổng giá trị sản xuất bông đạt 21 tỷ USD/năm, trong đó các nước đang phát triển chiếm khoảng 70% giá trị.
Sản xuất bông ở khu vực Châu Á chiếm khoảng 60% sản lượng toàn cầu, Châu Phi chiếm 15% và Châu Mỹ Latinh khoảng <5%, (ICAC, 2011). Hiện tại, diện tích trồng bông trên thế giới có xu hướng chững lại, ổn định trong khoảng 33 triệu ha. Tuy nhiên, năng suất bông xơ có xu hướng tăng từ 6,4tạ/ha vào năm 2001 lên 7,26 tạ/ha vào năm 2009; theo đó, sản lượng bông xơ không giảm mà có xu hướng tăng lên. Theo tính toán của ICAC (2011), tuy sản lượng bông ước tính trong niên vụ 2010/2011 đạt 25,1 triệu tấn nhưng vẫn còn thấp hơn so với nhu cầu của thế giới (ước tính 27,4 triệu tấn) – còn thiếu hụt khoảng gần 10%.
Chính vì vậy, giá bông tăng liên tục từ 2004 đến nay, hiện đạt mức 1,68 USD/kg bông xơ (bảng 1. Tính đến niên vụ 2009/2010, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản lượng bông xơ (trên 6 triệu tấn), đứng thứ hai là Mỹ (trên 5 triệu tấn), kế tiếp là Ấn Độ (trên 3 triệu tấn), Pakistan (trên 2 triệu tấn), Brazil (khoảng 1,5 triệu tấn), (ICAC, 2011). Theo thống kê của Bộ nông nghiệp Mỹ, trong số các nước sản xuất bông đứng đầu thế giới thì Braxin và Trung Quốc là các nước có năng suất bông đạt mức khá cao. Năng suất bông hạt bình quân chung của các quốc gia này đạt mức từ 22 – 23 tạ/ha.
Các nước khác như Uzbekistan và Thổ Nhĩ Kỳ có năng suất bông cũng ở mức cao, (USDA, 2008). Diện tích bông thế giới đạt đỉnh cao 35,7 triệu ha vào niên vụ 2004/2005. Sau đỉnh cao này, ngành Bông thế giới có nhiều biến động. Diện 8 tích bông sụt giảm ở nhiều nước sản xuất bông lớn, đáng kể nhất là ở Mỹ, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ.
Các nước Trung Quốc Ấn Độ tuy còn giữ được diện tích nhưng nguy cơ sụt giảm đã xuất hiện rõ.1: Tình hình sản xuất bông của thế giới trong những năm gần đây Năng suất Giá bông xơ Diện tích Sản lượng bông Niên vụ bông xơ hạng A-Index (triệu ha) xơ (triệu tấn) (tạ/ha) (US$/kg) 2001/2002 33,5 6,40 21,5 - 2002/2003 31,2 6,19 19,3 - 2003/2004 32,6 6,20 20,2 1,76 2004/2005 35,7 6,94 24,8 1,15 2005-2006 32,9 6,75 22,2 1,24 2006/2007 33,8 7,90 26,7 1,30 2007/2008 33,6 7,56 25,7 1,48 2008/2009 33,9 7,94 23,3 1,59 2009/2010 30,0 7,26 21,8 1,68 2010/2011* 33,6 7,49 25,1 - Ghi chú: (*): Số liệu niên vụ 2010/2011 ước tính Nguồn: (ICAC 3/2011), (ICAC 1/2003), (ICAC 2003).2 Tình hình sản xuất bông ở Việt Nam Trước thời Pháp thuộc, giống bông được sử dụng chủ yếu các giống bông Cỏ địa phương (Gossypium arboreum L. Giống bông này cho năng suất thấp. Một số ít diện tích ở Trung Bộ và Nam Bộ đã được trồng các giống bông Luồi (Gossypium hirsutum L.) nhập nội, với năng suất đạt 300-500kg/ha (Lê Quang Quyến, 1999). Đầu thế kỷ 20, nước ta đã xuất khẩu bông sang Nhật, Hồng Kông.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, diện tích trồng bông đã được phát triển mạnh, trong đó liên khu V đạt khoảng 10.000 ha và 9 liên khu IV đạt khoảng 13.000 ha (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs. Sau năm 1954, các giống bông Luồi nhập nội được thay thế một phần cho các giống bông Cỏ địa phương. Sau năm 1975, năng suất bông hạt thấp chỉ đạt 3-4 tạ/ha. Nguyên nhân năng suất và diện tích bông giảm ở giai đoạn này là do sâu bệnh phá hại nặng và chưa có các giống bông thích hợp cho các vùng (Lê Quang Quyến, 1999).
Do chi phí sản xuất quá lớn vì đầu tư thuốc trừ sâu rất cao, người trồng bông luôn bị thua lỗ, thêm vào đó môi trường bị ô nhiễm nặng, ngành bông Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn (Nguyễn Thơ, 1998).2: Diễn biến tình hình sản xuất bông ở Việt Nam trong những năm qua Vụ mưa Vụ khô Cả năm Diện Năng Diện Năng Diện Năng Sản lượng Sản lượng Niên vụ tích suất tích suất tích suất bông hạt bông xơ (ha) (kg/ha) (ha) (kg/ha) (ha) (kg/ha) (tấn) (tấn) 2001-02 24.833 - - - Nguồn: Công ty bông Việt Nam 10 Từ sau những năm 1990, ngành bông Việt Nam đã có những bước thay đổi mạnh mẽ, chúng ta đã tạo được các giống bông, đặc biệt là các giống bông lai có năng suất cao, chất lượng xơ tốt, chống chịu được sâu bệnh. Hàng loạt các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng như: áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp giúp giảm chi phí bảo vệ thực vật; các biện pháp kỹ thuật canh tác khác như hệ thống luân xen canh hợp lý, phủ màng PE cho bông, phun các chất điều hòa sinh trưởng. chính vì vậy mà năng suất và chất lượng bông xơ tăng, nghề sản xuất bông cho hiệu quả kinh tế cao. Cao nhất là niên vụ 2002-2003 đạt 32.625 ha, với nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt do giá bông thấp nên đến niên vụ 2003-2004, diện tích bông bắt đầu giảm; đến vụ 2006-2007 thì diện tích giảm mạnh còn 15.445 ha (chỉ bằng <50% diện tích niên vụ 2002-2003) và đến niên vụ 07-08 chỉ còn 7.
Trong 3 năm qua do giá bông thế giới bắt đầu tăng, cây bông trong nước cạnh tranh tốt với các cây trồng ngắn ngày khác trong cùng thời vụ nên diện tích bông có xu hướng tăng trở lại (bảng 2.3 Đặc điểm của vùng trồng bông Duyên hải Trung Bộ Duyên hải Trung Bộ là một trong những vùng trồng bông chính hiện nay của Việt Nam (Duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Bắc Bộ), có điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế xã hội khá thích hợp cho cây bông phát triển.1 Điều kiện khí hậu Duyên hải Trung Bộ là một dải dài nằm dọc theo kinh tuyến và trải dài trên 6-7 vĩ độ, từ vĩ tuyến 17 ở Quảng Trị đến vĩ tuyến 11 của Phan Thiết. Đặc điểm phân bố này, cùng với sự phức tạp của địa hình, đã kéo theo sự biến động rất lớn về thời tiết và khí hậu, như sự tăng dần của nhiệt độ trung bình từ Quảng Trị đến Bình Thuận (250C so với 26,50C) và ngược lại sự giảm vũ lượng 11 và ẩm độ không khí (2.608,7mm và 84,8% so với 1.133,3mm và 80,7%) (Lê Xuân Đính, 1998), (Trần Anh Hào và cs. Số giờ nắng trên 3.000 giờ/năm và là vùng có số giờ nắng cao nhất Việt Nam (Trần Đức Hạnh, 1995), (Trần Đức Hạnh và cs.