CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu chung về phụ phẩm lá ngoài cải thảo 1.1 Nguồn gốc cải thảo Cải thảo (Brassica rapa subsp. pekinensis hoặc Brassica rapa Pekinensis Group) tên tiếng Anh “Napa cabbage” là một loại thực vật có nguồn gốc gần vùng Bắc Kinh của Trung Quốc được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực Đông Á [6]. Ngày nay, cải thảo cũng đã trở thành một loại rau được sử dụng phổ biến ở châu Âu, châu Mỹ và Úc. Tên thường gọi của cải thảo là “Chinese cabbage - bắp cải Trung Quốc”.
Ở Úc, nó đôi khi được gọi là "wombok". Những ghi chép đầu tiên về việc trồng bắp cải thảo có từ thế kỷ 15 ở vùng sông Dương Tử, Trung Quốc. Từ Trung Quốc, sau đó, cải thảo lan sang Hàn Quốc và Nhật Bản. Bắt đầu từ thế kỷ 19 với sự di cư của người Hoa, cải thảo đã di thực đến nhiều vùng đất ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ cũng như Úc.
Trong thế kỷ 19, cải thảo lần đầu tiên được du nhập vào Châu Mỹ từ Châu Âu và nguồn cung cấp hạt giống từ Châu Âu vẫn tiếp tục cho đến Thế chiến thứ nhất. Sau khi nguồn cung cấp hạt giống của Châu Âu bị phong tỏa, các viện nghiên cứu của chính phủ Hoa Kỳ và ngành công nghiệp hạt giống đã phát triển các kho hạt giống mới cho các loại cây trồng rau. Oregon và California là những vùng sản xuất hạt giống bắp cải thảo trong thời gian đó [7]. Ngày nay, cải thảo được trồng và sử dụng trên khắp thế giới.
Cải thảo có thể có nguồn gốc từ quá trình lai tạo tự nhiên giữa củ cải (Brassica rapa subsp. rapa) và cải thìa (Brassica rapa subsp. Các phép lai nhân tạo giữa hai phân loài này, cũng như dữ liệu phân tử cũng chứng minh cho lập luận này [8]. Bắp cải thảo được tạo thành một phần đầu thẳng đứng hình nón theo dạng búp gồm các lá xếp chồng lên nhau chặt chẽ hoặc có thể là một cái lỏng lẻo hơn gồm những lá tách biệt hơn.
Hình dạng và kích thước khác nhau rõ rệt giữa các giống và trọng lượng có thể khác nhau trong khoảng 1. Màu lá ở giữa tim thường có màu trắng kem, nhưng các lá bên ngoài có màu từ xanh đậm đến xanh nhạt. Các 3 Ngô Minh Thắng LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP loại có phần đầu với hình dạng khác nhau từ dạng hình trụ cao có thể cao 35 – 45 cm và đường kính 10–15 cm đến các giống hình thùng, cao 20 – 25 cm và đường kính 15 – 23 cm [9]. Phân loại khoa học: Giới (regnum) Plantae Bộ (ordo) Brassicales Họ (familia) Brassicaceae Chi (genus) Brassica Loài (species) Brassica rapa Phân bố và thu hoạch Theo đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2021, rau ăn lá chiếm 51.1% diện tích rau toàn quốc và cũng là chủng loại rau chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất tại các vùng, trong đó một số vùng chiếm tỷ lệ trên 50% như vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (chiếm 60.51%), Đồng Bằng Sông Hồng (chiếm 54.79%) và vùng Bắc Trung Bộ (chiếm 50.
Rau cải thảo (chiếm 3.2%), được trồng chủ yếu ở Lâm Đồng, ngoài ra cải thảo còn được trồng ở một số tỉnh phía Bắc với diện tích nhỏ [10]. Thời vụ thích hợp để trồng cải thảo vào tháng 8 đến tháng 10 ở miền Bắc. Còn ở miền Nam là khoảng tháng 7 đến tháng 4 năm sau. Cải thảo thuộc nhóm cây ưa khí hậu mát lạnh, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao và phẩm chất tốt.
Cây cải thảo phù hợp với nhiều loại đất trồng, nhưng tốt nhất nên là đất thịt nhẹ, phù sa, nhiều dinh dưỡng. Trước khi gieo trồng đất cần được làm cỏ sạch sẽ, tơi xốp, và bón ít phân lân, đạm…để cây nhanh chóng phát triển. Tưới nước cho cây trung bình khoảng 2 ngày 1 lần, tránh ngập úng, hoặc quá khô hạn. 4 Ngô Minh Thắng LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Bảng 1.1: Cơ cấu chủng loại rau ăn lá chính tại các vùng năm 2021 Nguồn TKNN [10] Đơn vị: % Chủng loại rau Toàn STT ĐBSH TDMNPB BTB DHMT TN ĐNB ĐBSCL chính quốc 100, 100, 100, Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 0 0 0 1 Rau cải các loại 50,2 38,9 38,5 33,8 41,4 44,6 51,9 66,8 2 Bắp cải 13,2 26,4 14,5 13,4 3,5 27,4 0,2 1,7 3 Cải thảo 3,2 12,2 4 Rau muống 11,4 15,0 19,5 14,4 42,6 5,1 18,6 7,8 5 Rau ngót 3,6 0,1 5,5 22,7 2,3 4,3 0,9 6 Rau ăn lá khác 18,5 19,5 21,9 15,7 10,1 10,7 25,1 22,7 1.2 Phụ phẩm lá ngoài bắp cải thảo 1.
Phương pháp thu nhận Cải thảo sau khi thu hoạch bằng cách cắt toàn bộ cây ngay phía trên đường đất. Phần thân cải thảo được đem đi rửa sạch và đóng gói sau khi loại bỏ những lá ở lớp ngoài cũng sẽ được loại bỏ (già, rách, mục, …). Những lá bị bỏ đi này sẽ là đối tượng thực hiện nghiên cứu.1: Bắp cải sau khi thu hoạch 5 Ngô Minh Thắng LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Hình 1.2: Những lá ngoài bắp cải được loại bỏ sau khi thu hoạch bắp cải. Thành phần dinh dưỡng Cải thảo là rau họ Cải phổ biến trong ẩm thực châu Á nhờ vị ngọt tự nhiên và cách chế biến phong phú.
Theo dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), 100 gr cải thảo chứa phần lớn là chất xơ và carbohydrate, cùng lượng vừa phải các vi chất như vitamin nhóm B, A, C, K. Loại rau này cũng cung cấp các khoáng chất cần thiết như calci, magne, phospho – đặc biệt là hàm lượng kali khá dồi dào. Đây cũng là rau ăn lá có calorie thấp, phù hợp với những người đang thực hiện chế độ ăn kiêng giảm cân. Ngoài ra, cải thảo chứa nhiều chất chống oxy hóa (có thể kể đến beta-carotene, thiocyanates, indole-3-carbinol, lutein, zeaxanthin, sulforaphane và isothiocyanates).
Kết hợp với hàm lượng vitamin C cao, cải thảo đóng góp không nhỏ vào chế độ dinh dưỡng cân bằng, hỗ trợ chống viêm và tăng cường hệ miễn dịch mùa Thu Đông.2: Thành phần dinh dưỡng bắp cải thảo theo USDA (*) Đơn vị tính trên 100 gram (Nguồn: Bảng thành phần dinh dưỡng USDA) STT Thành phần dinh dưỡng Giá trị Đơn vị (*) 1 Năng lượng 16 Kcal 2 Carbohydrates 3.23 g 6 Ngô Minh Thắng LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 3 Protein 1.32 g 5 Cholesterol 0 mg 6 Chất xơ 1.2 g Vitamins 7 Folates 79 μg 8 Niacin 0.4 mg 9 Pantothenic acid 0.04 mg 13 Vitamin A 318 IU 14 Vitamin C 27 mg 15 Vitamin K 2.2 μg Chất khoáng 16 Canxi 77 mg 17 Sắt 0.31 mg 18 Magne 13 mg 19 Mangan 0.19 mg 20 Photpho 29 mg 21 Kẽm 0.23 mg 22 Beta-carotene 150 μg 7 Ngô Minh Thắng LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 23 Alpha-carotene 1 μg 24 Lutein-zeaxanthin 48 μg 1.3 Hoạt chất sinh học Chất chống oxy hóa là những chất làm giảm tác dụng của các gốc tự do và ức chế quá trình oxy hóa. Khả năng kháng oxy hóa được thể hiện bằng hàm lượng phenolic và flavonoid có trong nguyên liệu. Tất cả các bộ phận của cây dền bao gồm thân, lá, hoa đều có chứa các hợp chất kháng oxy hóa [11]. Cải thảo (Brassica oleracea var.
capitata) là một loại rau ăn được phổ biến ở nhiều quốc gia, được báo cáo là có giá trị dinh dưỡng cao và lợi ích sức khỏe rõ rệt. Nó chứa nhiều polyphenol, flavonoid, anthocyanin, glucosinolate, chất xơ và vitamin [12]. Trong số này, phenolic và flavonoid có những lợi ích quan trọng cho sức khỏe, bao gồm các hoạt động chống ung thư và chống oxy hóa. Ngoài acid phenolic và flavonoid, glucosinolates và isothiocyanate đa dạng về cấu trúc và chức năng cũng có nhiều trong bắp cải [13].
Một số cuộc điều tra dịch tễ học đã chứng minh mối tương quan nghịch giữa việc tiêu thụ bắp cải và nguy cơ mắc một số bệnh, bao gồm bệnh tim mạch, ung thư và gan nhiễm mỡ [14, 15].2 Ứng dụng phụ phẩm lá ngoài bắp cải thảo trong sản xuất thực phẩm 1.1 Giới thiệu Phụ phẩm nông nghiệp là các vật liệu hữu cơ bị loại bỏ, được tạo ra từ quá trình chăn nuôi, canh tác hoặc từ quá trình sản xuất, chế biến sản phẩm. Ở bắp cải thảo, phụ phẩm thu được trong quá trình thu hoạch là lá ngoài cải thảo. Trong nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của quá trình sấy đến hoạt chất sinh học của phần màu xanh của lá ngoài cải thảo. 8 Ngô Minh Thắng LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Hình 1.3: Lá ngoài cải thảo bỏ đi trong quá trình thu hoạch 1.2 Ứng dụng phụ phẩm lá ngoài cải thảo để sản xuất thực phẩm Hiện nay bột cải thảo đã được thương mại hóa thành hạt nêm để bổ sung vào quá trình chế biến thực phẩm như là nguồn thay thế bột ngọt và các gia vị nhân tạo, bổ sung nguồn chất xơ cần thiết cho cơ thể, phổ biến là các sản phẩm từ Đài Loan.4: Bột nêm cải thảo nguồn gốc Đài Loan.
Lá bên ngoài của bắp cải thảo (Brassica oleracea L. capitata), một sản phẩm phụ điển hình từ các nông trại trồng cải thảo, có khả năng chuyển hóa thành bột 9 Ngô Minh Thắng LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP rau giàu chất xơ và có hàm lượng chất chống oxy hóa cao. Các chất chống oxy hóa thông thường như phenolic (được đo bằng tổng hàm lượng phenolic, TPC), vitamin C, β-carotene, α-tocopherol cũng có khá nhiều trong lá ngoài cải thảo [16]. Tsvetko và cộng sự đã bổ sung bột phụ phẩm lá ngoài cải thảo vào bánh bông lan cho thấy khi bổ sung bột lá ngoài cải thảo ở hàm lượng 10 – 20% thì tính chất, chất lượng của ruột bánh bông lan được cải thiện về khả năng đàn hồi và độ mềm so với khi không bổ sung bột lá cả thảo và phù hợp với người ăn kiêng [17].
Mặt khác, Gul và các cộng sự đã cho thấy tiềm năng của bột lá ngoài cải thảo trong việc bổ sung vào công thức chế biến bánh quy và bước đầu thu được những tín hiệu khả quan về chất lượng cũng như thị hiếu người tiêu dùng về mức độ ưa thích [18].3 Ảnh hưởng của quá trình xử lý, chế biến đến hoạt chất sinh học Các hoạt chất sinh học tuy có nhiều lợi ích nhưng rất dễ dàng bị giảm, thậm chí mất đi do các điều kiện như nhiệt độ, phương pháp xử lý,. Sau đây là một số nghiên cứu sự ảnh hưởng của quá trình xử lý, chế biến đến hoạt chất sinh học của nguyên liệu thực vật, lấy điển hình trong luận văn này là cải thảo: Quy trình sản xuất bột cải thảo bắt đầu từ việc rửa nguyên liệu thô, cắt thành từng miếng nhỏ, sau đó trải qua quá trình sấy [19].