Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm phân loại thực vật học và phân bố lan Kiếm 1. Phân loại Theo hệ thống phân loại của Takhtajan (1987), họ hoa lan (Orchidaceae) có 750 chi và 20. Đây là họ thực vật lớn thứ hai sau họ cúc Asteraceae.
Chính vì thế, hình thái, cấu tạo cũng như hệ thống phân loại họ này hết sức đa dạng và phức tạp. Chi lan Kiếm (tên khoa học: Cymbidium) là một chi thực vật thuộc họ lan. Theo tác giả Trần Hợp (2000) [10], trên thế giới chi lan Kiếm (Cymbidium) có khoảng 120 loài và ở Việt Nam có 20 loài: (1) Cym. aloifolium Swartz; (2) Cym.
banaense Gagnep; (4) Cym. bicolor Lindl; (5) Cym. cyperifolium Wall; (6) Cym. devoniaum Paxt; (8) Cym.
ensifolium Swartz; (9) Cym. insigne Rolfe; (13) Cym. schroederi Rolfe; (19) Cym. suavissimum Sander ex Curtis.
Leonid và Anna (2003) [33] đã xác định thêm được 4 loài lan Kiếm khác là: Cym. eburneum Reichb; Cym. wilsonii Cook Rolfe. Như vậy, hiện nay, ở nước ta có tổng số 24 loài lan Kiếm được xác định (Leonid, Anna, 2003) [33].
Phân bố Trên thế giới, các loài lan Kiếm phân bố rộng khắp từ Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, Hymalaya, qua Philippines, Đông Nam châu Á, Tân Ghi Nê đến Australia,. Các chủng loại và giống hoa lan được thay đổi theo từng loại địa hình. Tuy nhiên, hoa lan thường được tìm thấy ở độ cao từ 1000 - 2000 m so với mực nước biển (Ruan Wenjin, 2009) [62]. sinense: Mặc Lan; (2) Cym.
ensifolium: Kiến Lan; (3) Cym. kanran: Hàn Lan; (4) Cym. goeringii: Xuân Lan; (5) Cym. faberi: Huệ Lan.
Tại Trung Quốc, lan Kiếm sống ở các thảm rừng núi chủ yếu là ở 16 tỉnh miền Trung và Nam Trung Quốc, với các giống vô cùng phong phú. Các nhà khoa học phân loại thành 28 loài trong đó chỉ có 11 loài lan Kiếm mọc trên đất (địa lan Kiếm). Tuy vậy chỉ có 6 loài được tôn vinh và chăm sóc như Quốc hoa: Xuân Lan (Cym. goeringii), Xuân Kiếm (Cym.
longibracteatum) Kiến Lan (Cym. ensifolium), Mặc Lan (Cym. sinense), Hàn Lan (Cym. Ở Việt Nam, theo tài liệu về các loài lan công bố năm 2003, trong 24 loài lan Kiếm, có 13 loài bám trên cây, 5 loài mọc trên đất hoặc bám trên đá, 5 loài bám trên cây hoặc hoặc bám trên đá, có 1 loài không có lá chỉ sống trong mùn nhờ một hệ thống rễ rất phát triển (Trần Duy Quý, 2005) [17].
Cho đến nay chưa có nhiều người nghiên cứu về các khóa phân loại lan Kiếm, nên chúng ta chưa thể xếp các loài lan Kiếm truyền thống Việt Nam vào loài nào trong bảng phân loại bằng thuật ngữ khoa học. Thí dụ: Lan Kiếm Lô Hội (Cym. aloifolium); lan Kiếm Tứ Thời (Cym. Theo Đặng Văn Đông và Chu Thị Ngọc Mỹ (2009) [6], khi điều tra sự phân bố của hoa lan Việt Nam và lưu giữ, đánh giá một số giống lan quý tại Gia Lâm - Hà Nội đã kết luận: Việt Nam được chia thành 6 vùng lan chính, khác nhau về tính đa dạng, độc đáo của lan rừng và sinh thái tự nhiên của các loài lan này: phía Tây Bắc Bộ; phía Đông Bắc Bộ và Trung tâm Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ; các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Trong đó, Cymbidium chủ yếu phân bố ở vùng Đông Bắc Bộ và Trung tâm Bắc Bộ, Sơn La, Hà Nội và các tỉnh lân cận như: Hưng Yên, Quảng Ninh,.là nơi có điều kiện khí hậu thích hợp để nuôi trồng loại lan này. Đặc điểm thực vật học và sự sinh trưởng phát triển của chi lan Kiếm 1. Đặc điểm thực vật học của lan Kiếm Theo Bao Manzhu (2003) [56], chi lan Kiếm có đặc điểm: giả hành có 2 - 10 lá, hình trụ, ở phần gốc có mấu. Ngồng hoa được mọc lên từ bên dưới giả hành, có 1 - 50 6 hoa/cành.
Cánh môi chia 3 thùy, có 2 cánh tràng, cột nhụy dài chứa phấn khối. Hoa nhiều màu sắc: trắng, hồng, vàng, xanh, vàng xanh, hồng đậm và có mùi hương thơm. Theo tác giả Trần Duy Quý (2005) [17] mô tả tóm tắt đặc điểm thực vật học của chi lan Kiếm như sau: - Thân ngầm (còn gọi là căn hành) thường ngắn nối củ với nhau. Các củ lan thực chất là những cành ngắn của căn hành.
Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ có thể phát sinh đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con, do đó người ta xếp Cymbidium vào nhóm lan đa thân. - Củ lan (giả hành): Thường có hình cầu, ô van, bầu dục hay trứng,… Đường kính của giả hành từ 1 - 10 cm. Giả hành được bao bọc bởi các bẹ lá xếp xít vào nhau. - Rễ: Lan kiếm có bộ rễ lớn, dày, nạc, xốp, ít phân nhánh, thường có màu trắng xám.
Rễ của một số loại địa lan bì sinh hay phụ sinh thường mọc bám trên vỏ cây, mặt đất. Những rễ mới thường chỉ mọc ở cây con, còn cây mẹ ít khi hình thành rễ mới mà chỉ thấy những rễ phụ phân nhánh từ rễ củ. - Lá: Một cây lan trưởng thành có rất nhiều lá. Lá tự dưỡng, do đó nó phát triển đầy đủ hệ thống lá.
Lá thuộc loại lá song đỉnh, lá lớn, lá trải rộng và xếp xít trên thân, đôi khi rủ xuống, xếp cách đều đặn trên thân. Lá thực thường có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng phân cách. Lá thường có màu xanh bóng, đậm và nhẵn, cũng có những loại lá có điểm những vệt vàng hay xanh nhạt (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [1]. - Chồi hoa: Chồi hoa mọc ra từ bên dưới của giả hành từ các nách lá, tách bẹ già đâm ra ngoài, thường xuất hiện cùng với chồi thân, chiều dài của ngồng hoa từ 30 cm đến hơn 80 cm.
Chồi thân thì hơi dẹt, các lá đầu tiên mọc đâm ra hai phía hình đuôi cá, nhưng chồi hoa căng tròn hơn và các lá bao luôn ôm chặt quanh phát hoa. - Cành hoa: Cành hoa không phân nhánh, có thể dựng đứng hay buông thõng. Cành hoa có thể mang từ vài hoa đến vài chục hoa xếp theo hình xoắn ốc. - Hoa: Cụm hoa to, dạng chùm, màu sắc sặc sỡ, đẹp.
Cánh đài thường ngắn, nhưng 2 cánh đài bên kéo dài với nhau ở cằm. Cánh tràng 2, thường có dạng giống cánh đài. Cánh môi ngắn hơn cánh hoa, 2 thùy bên ở sát gốc, thùy giữa thuôn hẹp dần ở đỉnh. Cột nhụy dài, mảnh chứa phấn khối.
Hoa nở vào mùa Thu hoặc mùa Xuân, bền (từ 20 đến 30 ngày), hương thơm dịu. 7 Hoa lan Kiếm là hoa lưỡng tính, đặc biệt nhị đực và nhụy cái cùng gắn chung trên một trục hợp nhụy (trụ nhị - nhụy). Trên trục hợp nhụy, nhị nằm ở trên cùng mang hai khối phấn màu vàng, có gót dính như keo. Khối phấn được đậy bởi một nắp màu trắng ngà, nắp này dễ mở rời và cách biệt với núm nhụy bởi một mỏ nổi lên.
Vì vậy, trong tự nhiên quá trình thụ phấn chỉ xảy ra được nhờ côn trùng. Tận cùng phía bên trong hoa có đĩa mật và đôi khi còn có tuyến tiết mùi thơm. Theo Dương Xuân Trinh (2015) [75], lan Kiếm có các kiểu hình dạng cánh đài và các biến dị về vị trí cánh đài ở hai bên được gọi là vai. - Quả: Quả lan thuộc dạng quả nang, khi chín sẽ nứt dọc theo 3 - 6 khe.
Quả có dạng từ quả cải dài đến dạng hình trụ phấn, phình to ở giữa. Khi chín, quả mở ra các hạt bị gió cuốn đi còn lại mảnh vỏ chín đính lại với nhau ở phần gốc. Ở một số loài khi quả chín vỏ quả không bị nứt ra, hạt chỉ ra khỏi vỏ khi vỏ này bị mục nát. Quả lan có rất nhiều hạt, nhỏ li ti và nhẹ.
Hầu hết là không có nội nhũ như các loại hạt khác. Có thể bị gió cuốn bay đi khắp nơi nên khả năng phát tán rộng. Khối lượng toàn bộ hạt ở trong quả chỉ bằng 1/10 - 1/1000 (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2002) [3]. Hạt cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá, sau 2 - 18 tháng hạt mới chín tùy từng loài, phần lớn hạt đều chết vì không chứa chất dinh dưỡng, chúng chỉ sinh sôi nảy nở khi gặp được loài nấm cộng sinh hỗ trợ chất dinh dưỡng.
Vì vậy, khả năng hạt nảy mầm thành cây là rất hiếm, chỉ có thể trong điều kiện rừng ẩm ướt nhiệt đới (Ngô Thị Nguyệt, 2013) [16]. Đặc điểm một số giống lan Kiếm (Cymbidium sinense) 1. Hoàng Vũ Theo Nguyễn Tiến Quảng (2014) [70], lan Kiếm Hoàng Vũ là một giống thuộc loài Mặc Lan Cym. Mặc Lan là tập hợp những cây có hoa, thường nở vào mùa Xuân, Mặc Lan nói chung có thân củ hình bầu dục, rễ to khoẻ, lá đa dạng rộng và dầy, bóng, có từ 3 - 5 nhánh lá mọc thành chùm, lá hình lưỡi kiếm.
Mặc Lan theo nghĩa tiếng Hán là Lan Mực, lan có hoa màu tối (màu mực), nhưng những biến thể của Mặc Lan thì có nhiều màu hoa khác nhau từ xanh, vàng, đỏ, nâu,. 8 Theo Ngô Thị Nguyệt (2013) [16], nếu nhận biết qua lá thì Hoàng Vũ có 2 loại: loại lá ngắn, dầy, to, hơi cong xuống và loại lá dài, mỏng, rủ ôm chậu; loại có lá cong rủ, vặn xoắn phía đầu lá, là màu vàng nhạt; lá phản kiếm ôm thân. Hoa Hoàng Vũ có kích thước khá lớn, khoe nhụy, sắc vàng chanh; bản cánh hẹp so với kích thước. Khi mới nở, đầu cánh cuộn về sau rất mềm mại, hoa có hương thơm nhẹ.
Số lượng hoa trên 1 bông khá nhiều, kích thước hoa khá lớn nên trục hoa Hoàng Vũ thường cong. Khi Hoàng Vũ phát ngồng thì nụ, ngồng nụ quay theo hướng ánh sáng trong ngày, người ta gọi là múa. Một số ý kiến khác thì cho rằng, cánh hoa cong, thon như bàn tay vũ công và có hoa màu vàng nên gọi là Hoàng Vũ. Hoa thường nở vào dịp Tết Âm lịch, mùi hương dịu mát, thời gian nở hoa khoảng 20 ngày.
Tùy điều kiện chăm sóc mà lá có thể dài từ 50 - 80 cm, vòi hoa cao 50 - 70 cm, số lượng hoa từ 7 - 13 bông. Trần Mộng Theo tác giả Bùi Xuân Đáng (2008) [68], Trần Mộng có đặc điểm: Lá dài 60 - 70 cm, rộng 3 cm, lá mỏng và dễ gẫy. Dò hoa cao 60 - 70 cm. Hoa 10 - 15 hoa, màu nâu đỏ, cánh hơi cong về phía sau, mùi hương rất thơm, nở vào mùa Thu, bền khoảng 20 ngày.
Theo Ngô Thị Nguyệt (2013) [16], lan Kiếm Trần Mộng là một loài hoa to, đẹp, thơm được nhiều người ưa chuộng. Cánh đài, cánh hoa của loài lan này có màu hồng pha mầu cánh gián, khi hoa nở lại hơi uốn cong về phía sau.