Đặt vấn đề Lan Thạch Hộc tía (DendrobiumDendrobium) là loài lan phân bố chủ yếu ở một số vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trung Quốc. Đây là thảo dược chuyên dụng để điều trị bệnh tiểu đường và một số bệnh nan y. Thạch Hộc tía (Thiết bì) có hoạt tính tăng cường Insulin, giảm đường huyết giúp cho máu hoạt động bình thường, xúc tiến tuần hoàn, giãn huyết quản, giảm cholesterol và triglyceride mà còn có khả năng tiêu diệt một số tế bào ác tính của ung thư phổi, ung thư buồng trứng, bệnh máu trắng với hoạt tính kháng ung thư tương đối mạnh. Thường được dùng chữa những bệnh sốt nóng, khô cổ, khát nước, không muốn ăn, mắt kém, khớp xương sưng đau… Thạch Hộc có khả năng phát triển rộng rãi ở các vùng miền của nước ta, đem lợi ích đáng kể cho nông dân, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, xuất khẩu đem về ngoại tệ cho đất nước.
Theo Đặng Văn Đông (2004) [4] hiện nay giá của một cây hoa lan có thể từ 100. Điều làm nên giá trị dược liệu của loài lan này chính là hợp chất alkaloid. Nhu cầu của Trung Quốc và các nước trên thế giới về Thạch Hộc rất lớn, có giá cao, đem lại siêu lợi nhuận cho những người trồng và chế biến Thạch Hộc. Với giá trị về dược liệu lan Thạch Hộc đã bị khai thác tới mức bị tuyệt chủng trong tự nhiên [21], [25].
Hiện nay lan Thạch Hộc nằm trong danh mục Đỏ của cuốn “Sách đỏ Việt Nam” năm 2007 [21]. Để bảo tồn và phát triển loài lan quý hiếm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cần phải nghiên cứu nuôi trồng chúng. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể khác nhau đến sinh trưởng của Lan thạch hộc 2 trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông Lâm” với mục đích tìm ra giá thể giá thể trồng lan thạch hộc cho kết quả tốt nhất.Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu và tìm ra loại giá thể trồng lan Thạch hộc phát triển tốt nhất trên các loại giá thể khác nhau.
Yêu cầu của đề tài - Theo dõi tăng trưởng số lá của lan Thạch hộc - Theo dõi tăng trưởng đường kính thân chính của lan Thạch hộc - Theo dõi tăng trưởng số nhánh mới của lan Thạch hộc - Theo dõi tăng trưởng chiều dài trung bình nhánh của lan Thạch hộc 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cũng như những người quan tâm đến các loại giá thể trồng lan Thạch hộc trong nhà có mãi che. Ý nghĩa thực tiễn Đề xuất được quy trình trồng, phát triển lan Thạch hộc bằng giá thể mới mang lại năng xuất và chất lượng cao hơn.
Góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông dân, các doanh nghiệp trồng lan để lựa chọn biện phát kỹ thuật tốt nhất trong việc nuôi trồng lan thạch hộc tía. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1Giới thiệu chung về hoa lan 2.1 Nguồn gốc và phân loại 2.1 Nguồn gốc Các họ lan được đánh giá là loài hoa cao cấp trong vương quốc thảo mộc, bao gồm hơn 25.000 loài khác nhau, cùng với những loài mới được khám phá và mô tả theo từng năm. Do chúng được phân bố vùng rộng lớn, trải dài từ xích đạo đến bắc cực, từ đồng bằng tới các vùng núi băng tuyết, các loài lan rất khác nhau. Các loài lan chủ yếu sống trên cây cao, sống biểu sinh lâu năm, chúng được gọi chung là phong lan.
Các loài mọc trong đất gọi là địa lan và một số loài mọc trên núi đá gọi là thạch lan [1]. Cây lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông khoảng từ 551- 479 trước công nguyên [2]. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt, người đầu tiên khảo sát hoa lan ở Việt Nam là ông Gioolas Noureiro nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã tả cây lan đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1789 trong “Flora Cochinnis” gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình tìm đến phía nam Việt Nam: Alrides, Phagius và Sarcopodium. đã được BenTham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera rum” (1862-1885).
Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có công trình được công bố đáng kể là: F.gnillaumin mô tả 101 chi gồm 70 loài lan cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Chí Dương” [3].2 Phân loại Theo hệ thống thực vật học mới nhất cây hoa lan được phân loại như sau [8]: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta 4 Lớp: Liliospida Bộ: Asparagales Phân họ: Orchidaceae Đặc điểm về phân loại: Orchidacae là một họ rất lớn thuộc lớp đơn tử diệp, phân bố khắp nơi trên thế giới. Ở vùng ôn đới, ta gặp nhiều loài sống ở đất như địa lan, một số loài hoại sinh không diệp lục và sống vào chất mùn trong đất. Có loài ở châu Úc có thể sống ngầm dưới đất như nấm [1]. Ở vùng nhiệt đới ta sẽ gặp nhiều loại phụ sinh sống trên cây khác như cattleya, oncidium, laelia tập trung nhiều ở vùng Trung Mỹ, ở Đông Nam Á đặc sắc nhất là Denbrodium và còn có Cypripedium, Phalaenopsis,Cymbidium có nguồn gốc ở Inđônêsia.
Cây lan có thể chia thành hai nhóm: Nhóm đơn thân và nhóm đa thân. * Nhóm đơn thân chia làm hai nhóm phụ: - Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): Nhóm này lá được xếp thành hai hàng mọc đối nhau. Gồm các giống như: Vanda, Aerides, Phalaenopsis. - Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe, Luisia.
* Nhóm đa thân: Gồm những cây tăng trưởng liên tục. Căn cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành hai nhóm phụ: - Nhóm ra hoa phía trên như: Cymbidium, Dedrobium, Oncidium. - Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cattleya, Laelia, Epidendrum. * Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như: Centropetatum, Phachyphllum, Dichaea.2 Đặc điểm sinh học 2.1 Cơ quan dinh dưỡng Giả hành (thân giả): Chỉ xuất hiện ở các loài đa thân.
Bộ phận giả hành 5 cần thiết cho sinh trưởng, phát triển của lan. Giả hành tuy là thân nhưng lại chứa diệp lục, đây là bộ phận dự trữ nhiều chất dinh dưỡng, nước cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới [2]. Thân: Lan có 2 loại thân: Đơn thân và đa thân [2]. + Củ giả rất đa dạng: Hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả.
+ Cấu tạo củ giả: Gồm nhiều mô mềm chứa nhiều dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nước do ánh sáng mặt trời. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm nhiệm vụ quang hợp. Lá: Đa số các loài phong lan là cây tự dưỡng, nó phát triển đầy đủ hệ thống lá. Hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước đến loại lá phiến mỏng.
Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V. Màu sắc lá thường xanh bóng nhưng có trường hợp 2 mặt lá khác nhau: Thường mặt dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm nhiều màu sắc sặcsỡ [2]. Rễ: Phong lan thuộc họ sống phụ sinh, treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác. Các loại thân gỗ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai đưa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày.
Đặc biệt đối với lan công nghiệp (nuôi cấy mô) người ta thường sử dụng một số giá thể nuôi như: Dớn, than củi, …Rễ làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng, chúng được bao bởi lớp mô hút dày, ẩm. Bao gồm: Những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu xám bạc. Với lớp mô xốp đó rễ có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc dài trên vỏ cây, lấy nước lơ lửng trên không khí [3],[2].2 Cơ quan sinh sản Hoa: Lưỡng tính, rất hiếm các loại phong lan đơn tính, tạp tính và nhị dạng. Hoa đối xứng qua một mặt phẳng, bên ngoài có 6 cánh, trong đó 3 cánh 6 đài ở ngoài cùng, thường có màu sắc và kích thước giống nhau.
Một cánh đài nằm phía trên hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, 2 cánh dài nằm 2 bên gọi là cánh đài cạnh. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa. Chúng giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc. Cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới, có hình dạng và màu sắc khác hẳn với các cánh còn lại gọi là cánh môi.
Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ của hoa lan. Ở giữa hoa có một trụ nổi lên bộ phận sinh dục của cây, giúp cây duy trì nòi giống. Trụ gồm nhị và nhụy, sau khi thụ phấn các cánh hoa héo, cuống hoa hình thành quả lan [4], [1], [2].3 Các phương pháp nhân giống 2.1 Phương pháp nhân giống hữu tính Cơ chế sinh sản hữu tính của lan Thạch hộc cũng giống như một số loài cây khác, bao gồm: Quá trình hình thành giao tử và thụ tinh khi hạt phấn chín tiếp xúc với núm nhụy nhờ côn trùng hay con người. Núm nhụy tiết ra các hoocmon sinh trưởng nhờ vậy mà hạt phấn có thể nảy mầm được.
Sau đó, hạt phấn này theo trục hợp nhụy xuống bầu noãn để tinh tử kết hợp với tế bào trứng tạo nên hợp tử. Bầu noãn lớn dần lên, cánh hoa và đài hoa héo đi, quả dần dần được lớn từ bầu noãn trương phồng [5]. + Phương pháp nảy mầm cộng sinh nấm Hạt hoa lan không chứa anbumin và có phôi chưa phân hóa vì thế sự nảy mầm của hạt rất khó khăn trong điều kiện tự nhiên, tỷ lệ nảy mầm rất thấp (khoảng 1/1.000) và thường xảy ra ở gốc cây mẹ. Noel Bernard (1904) là người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này và đã làm nảy mầm hạt lan theo phương pháp bắt trước điều kiện tự nhiên với cộng sinh của nấm.
Hiện nay phương pháp này ít được dùng [6].2 Phương pháp nhân giống vô tính Nhân giống vô tính là quá trình nuôi cấy thực vật trong các điều kiện tự 7 nhiên. Bao gồm các phương pháp sau: + Phương pháp cơ học (chiết ngọn, xiết ngọn) Khi cây đạt đến một kích thước mong muốn, ta sẽ cắt phần ngọn có rễ đem trồng vào chậu mới. Khi cắt, dụng cụ phải được khử trùng bằng nhiệt, sau đó bôi vadolin có trộn zineb, sơn hoặc vôi vào vết cắt để tránh nhiễm trùng và cuối cùng thay chậu cho cây [6].