Đặt vấn đề Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L) là loại cây thân thảo dùng để làm thuốc có thể sống được thời gian dài trong nhiều năm là loại cây mang những đặc điểm thực vật điển hình, đại diện cho họ. Cây dễ sống mọc hoang dại, cũng được trồng ở nhiều nơi không những trong nước ta mà còn nhiều nơi khác trên thế giới đặc biệt ở Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Cây hương nhu trắng có nhiều tác dụng như: chữa cảm lạnh, giảm sốt, đau bụng, nhức đầu… Bên cạnh đó cây hương nhu trắng còn được dùng làm nguyên liệu để chưng cất tinh dầu với hàm lượng eugenol cao. Theo các nghiên cứu, eugenol có nhiều tác dụng tốt như có tính chống viêm mạnh, bảo vệ thần kinh, giảm sốt, chống oxy hóa và có tính giảm đau tốt.
Trong những năm gần đây, đô thị hóa và sự biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những tác động xấu cho ngành nông nghiệp. Sự nóng lên của trái đất làm mực nước biển dâng cao, mưa kéo dài hoặc mưa lớn gây gập lụt diện rộng. Ngập úng là một trong những yếu tố phi sinh học ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển và làm giảm năng suất cây trồng. Ngập úng làm giảm nồng độ oxy xung quanh vùng rễ của cây dẫn đến hệ thống rễ bị tổn thương trong điều kiện đất ngập nước kéo dài, thông khí kém gây ra chết tế bào, thậm chí gây thối rễ (Singh & cs.
Ngập úng còn làm giảm sinh trưởng của cây do ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý trong cây, mà tác động sinh lý chính là ức chế quá trình quang hợp của cây (Ahmed & cs., 2006), từ đó làm giảm đáng kể năng suất cây trồng tùy theo giống và điều kiện cụ thể. Sự giảm sinh trưởng và năng suất cây trồng do ngập úng thay đổi theo loài, kiểu gen và các giai đoạn sinh trưởng (Umaharan & cs. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây hương nhu trắng trong điều kiện ngập úng vẫn chưa được 1 chú ý. Do đó, nên tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của sự ngập úng đến sinh trưởng và sinh lý của cây hương nhu trắng” 1.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng thời gian ngập úng hưởng đến sinh trưởng và sinh lý của cây hương nhung trắng gia đoạn cây sắp ra hoa. Yêu cầu Đánh giá ảnh hưởng của sự ngập úng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây hương nhu trắng. Đánh giá ảnh hưởng của sự ngập úng đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây hương nhu trắng.
2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây hương như trắng 2. Đặc điểm họ Hoa môi (Lamiaceae hoặc Labiatae) Họ Hoa môi (Lamiaceae hoặc Labiatae) còn được gọi là Húng, họ Bạc Hà,… là một họ thực vật có hoa. Họ Hoa môi chứa từ 233 đến 263 chi và khoảng 6900 tới 7173 loài.
Họ Hoa môi có khoảng 130 loài ở Việt Nam, đều là cỏ thân thảo, lá hay có tinh dầu nên có mùi đặc trưng, nhiều loài được trồng làm rau thơm để ăn. Các loài thực vật trong họ này nói chung có hương thơm trong mọi phần của cây và bao gồm nhiều loài cây thân thảo được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực, như hung quế, bạc hà, hương thảo, xô thơm, hương bạc hà, ô kinh giới, ngưa chí, bách lí hương, oải hương, tía tô, hương nhu… Một số loài cây bụi hay cây gỗ, hiếm gặp hơn là các dạng day leo. Nhiều loài được gieo trồng rộng rãi, không chỉ vì hương thơm của chúng mà còn vì dễ gieo trồng: chúng thuộc về các loài thực vật dễ nhân giống nhất bằng các cành giâm. Bên cạnh những loài lấy lá để ăn, làm gia vị còn một số loài được trồng làm cảnh (húng chanh), một số loài khác được trồng vì mục đích lấy hạt làm thực phẩm (như hạt cây chia).
Tên gọi nguyên gốc của họ này là Labiatae, do hoa của chúng thông thường có các cánh hoa hợp thành môi trên và môi dưới nhưng phần lớn các nhà thực vật học hiện tại thích sử dụng tên gọi “Lamiaceae” hơn khi nói về họ này. Các lá của chúng mọc chéo chữ thập, nghĩa là lá sau mọc vuông góc với lá trước, hay mọc vòng. Thân cây nói chung có tiết diện hình vuông, nhưng điều này không phải bắt buộc ở tất cả các loài cũng như tiết diện kiểu này cũng có thể xuất hiện ở các họ thực vật khác. Hoa của chúng đối xứng hai bên với 5 cánh hoa hợp, 5 lá đài hợp.
Chúng thường là lưỡng tính và mọc vòng (cụm hoa trông giống như một vòng hoa nhưng thực tế bao gồm hai cụm chụm lại. Nhụy hoa to bao gồm hai 3 lá noãn hợp lại. Năm cánh hoa hợp lại thành ống. Tràng hoa đối xứng hai bên, thường là hai môi.
Bốn (hoặc ít hơn) số nhị hoa có thể sinh sản. Đặc điểm thực vật chi Húng quế (Ocimum basilicum) Chi Húng quế hay chi É (Ocimum) là một chi thực vật có khoảng 35 loài cây thân thảo hay cây bụi sống một năm hoặc lâu năm, có hương thơm, thuộc về họ Hoa môi (Lamiaceae), có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm của Cựu thế giới. Ocimum basilicum (hung quế) là cây gia vị có tầm quan trọng trong ẩm thực. Ocimum tenuiflorum (hương nhu tía) là một lọai cây thần thánh ở Ấn Độ nhưng không được sử dụng nhiều cho các mục đích nấu ăn.
Được biết dưới tên gọi tulsi, loài cây này được dùng để thờ cúng thần Vishnu trong một số bộ phận của đạo Hin đu. Một loại trà làm từ lá cây này được sử dụng làm thuốc chữa cảm lạnh ở Ấn Độ. Cây húng Thái, một giống cây trồng khác của cùng loài, là một thành phần phổ biến trong ẩm thực Thái Lan với hương vị mạnh tương tự như mùi của đại hồi, được dùng để tạo hương vị trong các món cari và các món xào. Yêu cầu sinh thái Chi húng quế Ocimun có phân bố và độ thích nghi rộng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm, thích ngh vời nhiều kiểu khí hậu khác nhau.
a) Nhiệt độ Nhiệt độ cho cây sinh trưởng và phát triển 18 – 25oC, trong giai đoạn sinh trưởng cây ngừng sinh trưởng ở nhiệt độ 2 – 3 oC. Cây nhạy cảm với nhiệt độ thấp và chết ở nhiệt độ -7 đến -8oC. tổng tích ôn hử hiệu của thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡn (từ nảy mần đến ra hoa) 1500-160oC. 4 b) Độ ẩm Cây có bộ rể ăn tương đối sau, cây có khả năng dữ nước tốt (lá có lớ lông trên bề mặt lá).
Thích nghi tót với điều kiêu hạn nhưng chịu úng kém. c) Ánh sáng Cây trong chi húng quế là cây ngày dài. Để phát triền bình thường cây yêu cầu thời gian chiều sáng bằng hoặc hơn 12 giờ/ngày. Càng lên phía bắc thời gian chiều sáng trong ngài dai hơn nên thời gian sinh trưởng ngẳn lại.
trong điều kiền ngày dài (14 – 16 giờ) cây chiểu sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực và nở hoa. d) Đất và dinh dưỡng Trừ những loại đất không quá ẩm, quá khô cằn, quá kiềm hoặc quá chua thì cây có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau. Đặc biệt là đất phù xa, đấy pha cát, có khảng năng thoát nước tốt. Thành phần hóa học và dược lý của cây Hương nhu trắng (É trắng) 2.
Đặc điểm cây hương nhu trắng Hương nhu (Ocimum) là một loài cây lấy tinh dầu và làm thuốc, họ Hoa môi. Hương là mùi thơm, nhu là mềm, cây có mùi thơm, lá mềm nên gọi là hương nhu. Có hai loại là hương nhu trắng (é trắng) và hương nhu tím (é tía): Cây hương nhu trắng (é trắng): cây thảo cao 1 – 2m, sống nhiều năm. Thân vuông, có lông, hoá gỗ ở gốc; khi còn non 4 cạnh thân màu nâu tía, còn 4 mặt thân màu xanh nhạt, khi già thân có màu nâu.
Lá mọc đối chéo chữ thập, có cuống dài, phiến dài 5 – 10cm thuôn hình mũi mác, mép khía răng thô, đầu nhọn dài, có lông nhiều lông ở hai mặt, mặt trên xanh thẫm hơn mặt dưới. Hoa màu trắng mọc thành xim 8 có ở kẽ lá hoặc đầu cành. Hoa không 5 đều, có tràng hoa màu trắng chia hai môi, nhị 4, thò ra ngoài bao hoa. Quả bế tư, bao bởi đài hoa tồn tại.
Toàn cây có mùi thơm. Cây hương nhu tím (é tía): là cây thân và cành có màu tím, có lông quặp. Lá mọc đối, hình trứng nhọn, có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1 – 5 cm, mép có răng cưa, hai mặt đều có lông. Hoa màu tím mọc thành chùm đơn, xếp thành từng vòng từ 6 – 8 chiếc trên chùm, ít phân nhánh.
Cây có nguồn gốc ở Nam Phi nay được trồng ở nhiều nơi trên thế giới: Liên Xô cũ, Xrilanca, Malaixia, Ấn Độ (Đinh Tiến Lợi & cs. Thành phần hóa học Thành phần hoá học của hương nhu trắng chứa tinh dầu. theo quy định của Dược điển Việt Nam II, tập 3, dược liệu phải chửa ít nhất 1% tinh dầu (đã trừ độ ẩm). Hàm lượng tinh đầu (so vời dược liệu khô) cao nhất ở hoa 2.38% và bộ phận trên mặt đất 1.
Sau khi thu hái, hương nhu trắng cần được cất sớm. Hàm lượng tinh dầu sẽ giảm theo thời gian bảo quản (giảm 5% sau 15 giờ, 14% sau 24 giờ, 25% sau 48 giờ, 51.5% sau 72 giờ trong điều kiện nhiệt độ ngoài khí quyển 29 – 31oC). Hàm lượng tinh dầu giảm nhanh nêu nhiệt độ khí quyển tăng lên (giảm 5% ở 0oC, 11.7% ở 15oC,16% ở 31oC, 39,6% ở 37oC và 56,4% sau 24 giờ bảo quản). Hàm lượng tinh dầu giảm có thể do sự mất cân bằng enzym có khả năng phân huỷ tinh dầu trong cây sau khi thu hái.
Trên thế giới, người ta phân loại hương nhu trắng nhiều thành phần hoá học: Nhóm giàu eugenol; Nhóm giàu β – caryophyllen (39,5%) và (ermacren 29,9%); Nhóm giàu thymol. Hàm lượng eugenol, có thể đạt 75 – 80%, từ nhiều mẫu tinh dầu thu thập được ở nhiều địa phương ở Việt Nam. 6 Tinh dầu hương nhu trắng chứa: α- tuyen 0,05% α – copaen 0.5% α – pinem 0,07% β – bourbonen 0,5% Sabinem 0,04% β – ylangen 0,2% Myrcen 0,03% β – elemen 0,2% α – teroinen 0,04% β – caryophylen 4,5% P – myreen 0,1% Ctronelyl acetat 0,1% Limonen 0,02% Methylchavico; 0,02% 1-8 cincol α – humulen 0,25% Cis- β – ocimen 7% α – terpimeol 0,3% Trans -β – ocime 0,3% D – germacren 8,8% (theo Những cấy thuốc việt nam tập 1) 2. Phương pháp trồng Hương nhu trắng được nhân giống bằng hạt.