Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của ngập úng đến sinh trưởng và sinh lý cây hương nhu trắng ocimum gratissimum l

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp ảnh hưởng của ngập úng đến sinh trưởng và sinh lý cây hương nhu trắng ocimum gratissimum, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

95
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của ngập úng đến sinh trưởng cây hương nhu trắng

Ngập úng là yếu tố môi trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây hương nhu trắng (Ocimum gratissimum). Nghiên cứu chỉ ra rằng, thời gian ngập úng càng kéo dài, tốc độ sinh trưởng của cây càng giảm. Cụ thể, chiều cao và đường kính thân cây bị ảnh hưởng đáng kể. Sinh trưởng của cây chậm lại do hệ rễ bị tổn thương, làm giảm khả năng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng. Điều này dẫn đến tỷ lệ chết cây tăng cao, đặc biệt trong điều kiện ngập úng kéo dài.

1.1. Ảnh hưởng đến chiều cao và đường kính thân

Ngập úng làm giảm đáng kể chiều cao và đường kính thân của cây hương nhu trắng. Thí nghiệm cho thấy, sau 15 ngày ngập úng, chiều cao cây giảm trung bình 20% so với cây đối chứng. Đường kính thân cũng giảm do quá trình phân chia tế bào bị ức chế. Điều này chứng tỏ sinh trưởng của cây bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong điều kiện ngập úng.

1.2. Ảnh hưởng đến hệ rễ

Hệ rễ của cây hương nhu trắng bị tổn thương nghiêm trọng khi bị ngập úng. Chiều dài và thể tích rễ giảm đáng kể, làm giảm khả năng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng. Điều này dẫn đến cây bị suy yếu và dễ chết trong điều kiện ngập úng kéo dài.

II. Ảnh hưởng của ngập úng đến sinh lý cây hương nhu trắng

Ngập úng không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng mà còn tác động mạnh mẽ đến sinh lý của cây hương nhu trắng. Quá trình quang hợp bị ức chế, dẫn đến giảm hiệu suất huỳnh quang diệp lục và chỉ số SPAD. Ngoài ra, ngập úng còn làm tăng độ rò rỉ ion trong lá, gây mất cân bằng nội môi và ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể của cây.

2.1. Ảnh hưởng đến quang hợp

Ngập úng làm giảm hiệu suất quang hợp của cây hương nhu trắng. Chỉ số SPAD và hiệu suất huỳnh quang diệp lục giảm đáng kể, chứng tỏ quá trình quang hợp bị ức chế. Điều này dẫn đến giảm tích lũy chất khô và ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

2.2. Ảnh hưởng đến cân bằng ion

Ngập úng làm tăng độ rò rỉ ion trong lá cây hương nhu trắng, gây mất cân bằng nội môi. Điều này ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý khác như hấp thụ dinh dưỡng và trao đổi chất, làm cây suy yếu và dễ bị tổn thương.

III. Thích nghi của cây hương nhu trắng trong điều kiện ngập úng

Mặc dù cây hương nhu trắng có khả năng chịu úng kém, nhưng vẫn có một số cơ chế thích nghi để tồn tại trong điều kiện ngập úng ngắn hạn. Cây có thể phục hồi một phần sau khi ngập úng kết thúc, nhưng khả năng phục hồi phụ thuộc vào thời gian và mức độ ngập úng.

3.1. Phục hồi sau ngập úng

Sau khi ngập úng kết thúc, cây hương nhu trắng có thể phục hồi một phần về sinh trưởngsinh lý. Tuy nhiên, khả năng phục hồi không hoàn toàn và phụ thuộc vào thời gian ngập úng. Cây có thể tăng tích lũy sinh khối nhưng vẫn thấp hơn so với cây không bị ngập úng.

3.2. Cơ chế thích nghi

Cây có thể kích hoạt một số cơ chế thích nghi như tăng cường hoạt động của các enzyme chống oxy hóa để giảm thiểu tổn thương do ngập úng. Tuy nhiên, hiệu quả của các cơ chế này còn hạn chế trong điều kiện ngập úng kéo dài.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L) là loại cây thân thảo dùng để làm thuốc có thể sống được thời gian dài trong nhiều năm là loại cây mang những đặc điểm thực vật điển hình, đại diện cho họ. Cây dễ sống mọc hoang dại, cũng được trồng ở nhiều nơi không những trong nước ta mà còn nhiều nơi khác trên thế giới đặc biệt ở Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Cây hương nhu trắng có nhiều tác dụng như: chữa cảm lạnh, giảm sốt, đau bụng, nhức đầu… Bên cạnh đó cây hương nhu trắng còn được dùng làm nguyên liệu để chưng cất tinh dầu với hàm lượng eugenol cao. Theo các nghiên cứu, eugenol có nhiều tác dụng tốt như có tính chống viêm mạnh, bảo vệ thần kinh, giảm sốt, chống oxy hóa và có tính giảm đau tốt.

Trong những năm gần đây, đô thị hóa và sự biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những tác động xấu cho ngành nông nghiệp. Sự nóng lên của trái đất làm mực nước biển dâng cao, mưa kéo dài hoặc mưa lớn gây gập lụt diện rộng. Ngập úng là một trong những yếu tố phi sinh học ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển và làm giảm năng suất cây trồng. Ngập úng làm giảm nồng độ oxy xung quanh vùng rễ của cây dẫn đến hệ thống rễ bị tổn thương trong điều kiện đất ngập nước kéo dài, thông khí kém gây ra chết tế bào, thậm chí gây thối rễ (Singh & cs.

Ngập úng còn làm giảm sinh trưởng của cây do ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý trong cây, mà tác động sinh lý chính là ức chế quá trình quang hợp của cây (Ahmed & cs., 2006), từ đó làm giảm đáng kể năng suất cây trồng tùy theo giống và điều kiện cụ thể. Sự giảm sinh trưởng và năng suất cây trồng do ngập úng thay đổi theo loài, kiểu gen và các giai đoạn sinh trưởng (Umaharan & cs. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây hương nhu trắng trong điều kiện ngập úng vẫn chưa được 1 chú ý. Do đó, nên tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của sự ngập úng đến sinh trưởng và sinh lý của cây hương nhu trắng” 1.

Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng thời gian ngập úng hưởng đến sinh trưởng và sinh lý của cây hương nhung trắng gia đoạn cây sắp ra hoa. Yêu cầu Đánh giá ảnh hưởng của sự ngập úng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây hương nhu trắng. Đánh giá ảnh hưởng của sự ngập úng đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây hương nhu trắng.

2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây hương như trắng 2. Đặc điểm họ Hoa môi (Lamiaceae hoặc Labiatae) Họ Hoa môi (Lamiaceae hoặc Labiatae) còn được gọi là Húng, họ Bạc Hà,… là một họ thực vật có hoa. Họ Hoa môi chứa từ 233 đến 263 chi và khoảng 6900 tới 7173 loài.

Họ Hoa môi có khoảng 130 loài ở Việt Nam, đều là cỏ thân thảo, lá hay có tinh dầu nên có mùi đặc trưng, nhiều loài được trồng làm rau thơm để ăn. Các loài thực vật trong họ này nói chung có hương thơm trong mọi phần của cây và bao gồm nhiều loài cây thân thảo được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực, như hung quế, bạc hà, hương thảo, xô thơm, hương bạc hà, ô kinh giới, ngưa chí, bách lí hương, oải hương, tía tô, hương nhu… Một số loài cây bụi hay cây gỗ, hiếm gặp hơn là các dạng day leo. Nhiều loài được gieo trồng rộng rãi, không chỉ vì hương thơm của chúng mà còn vì dễ gieo trồng: chúng thuộc về các loài thực vật dễ nhân giống nhất bằng các cành giâm. Bên cạnh những loài lấy lá để ăn, làm gia vị còn một số loài được trồng làm cảnh (húng chanh), một số loài khác được trồng vì mục đích lấy hạt làm thực phẩm (như hạt cây chia).

Tên gọi nguyên gốc của họ này là Labiatae, do hoa của chúng thông thường có các cánh hoa hợp thành môi trên và môi dưới nhưng phần lớn các nhà thực vật học hiện tại thích sử dụng tên gọi “Lamiaceae” hơn khi nói về họ này. Các lá của chúng mọc chéo chữ thập, nghĩa là lá sau mọc vuông góc với lá trước, hay mọc vòng. Thân cây nói chung có tiết diện hình vuông, nhưng điều này không phải bắt buộc ở tất cả các loài cũng như tiết diện kiểu này cũng có thể xuất hiện ở các họ thực vật khác. Hoa của chúng đối xứng hai bên với 5 cánh hoa hợp, 5 lá đài hợp.

Chúng thường là lưỡng tính và mọc vòng (cụm hoa trông giống như một vòng hoa nhưng thực tế bao gồm hai cụm chụm lại. Nhụy hoa to bao gồm hai 3 lá noãn hợp lại. Năm cánh hoa hợp lại thành ống. Tràng hoa đối xứng hai bên, thường là hai môi.

Bốn (hoặc ít hơn) số nhị hoa có thể sinh sản. Đặc điểm thực vật chi Húng quế (Ocimum basilicum) Chi Húng quế hay chi É (Ocimum) là một chi thực vật có khoảng 35 loài cây thân thảo hay cây bụi sống một năm hoặc lâu năm, có hương thơm, thuộc về họ Hoa môi (Lamiaceae), có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm của Cựu thế giới. Ocimum basilicum (hung quế) là cây gia vị có tầm quan trọng trong ẩm thực. Ocimum tenuiflorum (hương nhu tía) là một lọai cây thần thánh ở Ấn Độ nhưng không được sử dụng nhiều cho các mục đích nấu ăn.

Được biết dưới tên gọi tulsi, loài cây này được dùng để thờ cúng thần Vishnu trong một số bộ phận của đạo Hin đu. Một loại trà làm từ lá cây này được sử dụng làm thuốc chữa cảm lạnh ở Ấn Độ. Cây húng Thái, một giống cây trồng khác của cùng loài, là một thành phần phổ biến trong ẩm thực Thái Lan với hương vị mạnh tương tự như mùi của đại hồi, được dùng để tạo hương vị trong các món cari và các món xào. Yêu cầu sinh thái Chi húng quế Ocimun có phân bố và độ thích nghi rộng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm, thích ngh vời nhiều kiểu khí hậu khác nhau.

a) Nhiệt độ Nhiệt độ cho cây sinh trưởng và phát triển 18 – 25oC, trong giai đoạn sinh trưởng cây ngừng sinh trưởng ở nhiệt độ 2 – 3 oC. Cây nhạy cảm với nhiệt độ thấp và chết ở nhiệt độ -7 đến -8oC. tổng tích ôn hử hiệu của thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡn (từ nảy mần đến ra hoa) 1500-160oC. 4 b) Độ ẩm Cây có bộ rể ăn tương đối sau, cây có khả năng dữ nước tốt (lá có lớ lông trên bề mặt lá).

Thích nghi tót với điều kiêu hạn nhưng chịu úng kém. c) Ánh sáng Cây trong chi húng quế là cây ngày dài. Để phát triền bình thường cây yêu cầu thời gian chiều sáng bằng hoặc hơn 12 giờ/ngày. Càng lên phía bắc thời gian chiều sáng trong ngài dai hơn nên thời gian sinh trưởng ngẳn lại.

trong điều kiền ngày dài (14 – 16 giờ) cây chiểu sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực và nở hoa. d) Đất và dinh dưỡng Trừ những loại đất không quá ẩm, quá khô cằn, quá kiềm hoặc quá chua thì cây có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau. Đặc biệt là đất phù xa, đấy pha cát, có khảng năng thoát nước tốt. Thành phần hóa học và dược lý của cây Hương nhu trắng (É trắng) 2.

Đặc điểm cây hương nhu trắng Hương nhu (Ocimum) là một loài cây lấy tinh dầu và làm thuốc, họ Hoa môi. Hương là mùi thơm, nhu là mềm, cây có mùi thơm, lá mềm nên gọi là hương nhu. Có hai loại là hương nhu trắng (é trắng) và hương nhu tím (é tía): Cây hương nhu trắng (é trắng): cây thảo cao 1 – 2m, sống nhiều năm. Thân vuông, có lông, hoá gỗ ở gốc; khi còn non 4 cạnh thân màu nâu tía, còn 4 mặt thân màu xanh nhạt, khi già thân có màu nâu.

Lá mọc đối chéo chữ thập, có cuống dài, phiến dài 5 – 10cm thuôn hình mũi mác, mép khía răng thô, đầu nhọn dài, có lông nhiều lông ở hai mặt, mặt trên xanh thẫm hơn mặt dưới. Hoa màu trắng mọc thành xim 8 có ở kẽ lá hoặc đầu cành. Hoa không 5 đều, có tràng hoa màu trắng chia hai môi, nhị 4, thò ra ngoài bao hoa. Quả bế tư, bao bởi đài hoa tồn tại.

Toàn cây có mùi thơm. Cây hương nhu tím (é tía): là cây thân và cành có màu tím, có lông quặp. Lá mọc đối, hình trứng nhọn, có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1 – 5 cm, mép có răng cưa, hai mặt đều có lông. Hoa màu tím mọc thành chùm đơn, xếp thành từng vòng từ 6 – 8 chiếc trên chùm, ít phân nhánh.

Cây có nguồn gốc ở Nam Phi nay được trồng ở nhiều nơi trên thế giới: Liên Xô cũ, Xrilanca, Malaixia, Ấn Độ (Đinh Tiến Lợi & cs. Thành phần hóa học Thành phần hoá học của hương nhu trắng chứa tinh dầu. theo quy định của Dược điển Việt Nam II, tập 3, dược liệu phải chửa ít nhất 1% tinh dầu (đã trừ độ ẩm). Hàm lượng tinh đầu (so vời dược liệu khô) cao nhất ở hoa 2.38% và bộ phận trên mặt đất 1.

Sau khi thu hái, hương nhu trắng cần được cất sớm. Hàm lượng tinh dầu sẽ giảm theo thời gian bảo quản (giảm 5% sau 15 giờ, 14% sau 24 giờ, 25% sau 48 giờ, 51.5% sau 72 giờ trong điều kiện nhiệt độ ngoài khí quyển 29 – 31oC). Hàm lượng tinh dầu giảm nhanh nêu nhiệt độ khí quyển tăng lên (giảm 5% ở 0oC, 11.7% ở 15oC,16% ở 31oC, 39,6% ở 37oC và 56,4% sau 24 giờ bảo quản). Hàm lượng tinh dầu giảm có thể do sự mất cân bằng enzym có khả năng phân huỷ tinh dầu trong cây sau khi thu hái.

Trên thế giới, người ta phân loại hương nhu trắng nhiều thành phần hoá học: Nhóm giàu eugenol; Nhóm giàu β – caryophyllen (39,5%) và (ermacren 29,9%); Nhóm giàu thymol. Hàm lượng eugenol, có thể đạt 75 – 80%, từ nhiều mẫu tinh dầu thu thập được ở nhiều địa phương ở Việt Nam. 6 Tinh dầu hương nhu trắng chứa: α- tuyen 0,05% α – copaen 0.5% α – pinem 0,07% β – bourbonen 0,5% Sabinem 0,04% β – ylangen 0,2% Myrcen 0,03% β – elemen 0,2% α – teroinen 0,04% β – caryophylen 4,5% P – myreen 0,1% Ctronelyl acetat 0,1% Limonen 0,02% Methylchavico; 0,02% 1-8 cincol α – humulen 0,25% Cis- β – ocimen 7% α – terpimeol 0,3% Trans -β – ocime 0,3% D – germacren 8,8% (theo Những cấy thuốc việt nam tập 1) 2. Phương pháp trồng Hương nhu trắng được nhân giống bằng hạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của ngập úng đến sinh trưởng và sinh lý cây hương nhu trắng Ocimum gratissimum là một nghiên cứu chuyên sâu về tác động của điều kiện ngập úng lên quá trình sinh trưởng và các đặc điểm sinh lý của cây hương nhu trắng. Tài liệu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về cách cây phản ứng với stress môi trường, từ đó giúp nhà nghiên cứu và nông dân tối ưu hóa điều kiện canh tác, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Độc giả sẽ nhận được thông tin chi tiết về các chỉ số sinh trưởng, hàm lượng diệp lục, và khả năng thích nghi của cây, hỗ trợ việc phát triển các giải pháp bền vững trong nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên thực vật, bạn có thể tham khảo nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và phát triển của cây mía, hoặc tìm hiểu thêm về tác động của yếu tố ngoại cảnh qua nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh đến khả năng hình thành cây hom ngũ gia bì. Ngoài ra, nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ GA đến sinh trưởng hoa Lily cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về vai trò của chất điều hòa sinh trưởng trong thực vật.