Đặt vấn đề Hoa là một sản phẩm đặc biệt, không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn mang lại giá trị tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Do đó, hoa được sử dụng phổ biến và thường xuyên. Không chỉ xuất hiện ở các lễ hội, sự kiện, tiệc tùng mà hoa còn là sản phẩm trang trí thường ngày trong không gian nhà, văn phòng, ban công, công viên,. Người Việt xưa vẫn xem hoa cúc là biểu tượng của sự thanh cao, một trong bốn loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý “tùng, cúc, trúc, mai” (Trương Hữu Tuyên, 1979).
Hoa cúc thu hút đặc biệt ở màu sắc phong phú: trắng, vàng, xanh, đỏ, tím, da cam. Không những vậy, hình dáng và kích cỡ hoa cũng rất đa dạng cùng với khả năng có thể điều khiển cho ra hoa tạo nguồn hàng hóa quanh năm đã khiến cho hoa cúc trở thành loài hoa được tiêu thụ đứng thứ hai trên thị trường thế giới (sau hoa hồng). Ngoài tác dụng làm cảnh, trang trí, hoa cúc còn được coi là thảo dược có tác dụng tốt trong việc chữa bệnh. Theo Trương Hữu Tuyên (1979) hoa cúc được sử dụng để chiết tinh dầu thơm pha chè, ngâm rượu; trong y dược: Kim cúc, Bạch cúc chữa đau đầu, hoa mắt, giải độc mát gan,.
Ngoài ra, hoa cúc còn được chiết xuất sử dụng làm mỹ phẩm giúp cải thiện làn da, vì vậy nhu cầu về hoa cúc luôn rất cao. Hiện nay tại Việt Nam cúc được trồng khắp cả nước và có một số vùng chuyên canh như Đà Lạt, Hà Nội, Quảng Ninh, trồng rất nhiều loại cúc nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và để đáp ứng thị yếu của người tiêu dùng. Tính từ năm 1998 đến nay, Việt Nam có diện tích trồng cúc đứng đầu trong số các loại hoa. Riêng ở Hà Nội tổng sản lượng hoa cúc năm 1999 đạt 41.2 tỷ đồng, xuất khẩu sang Trung Quốc 3.6 tỷ đồng, tốc độ tăng hàng năm khoảng 10% (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003).
Cúc Mẫu đơn là loài hoa mới được du nhập vào nước ta khoảng 2 - 3 năm trở lại đây, với màu sắc độc đáo, lạ mắt, hoa bền và to mà hiếm có loài hoa nào đạt được (bông to 13 - 18cm, màu vàng đồng bên trong có màu đỏ). Cây có thân cứng thẳng, màu tía. Lá cúc Mẫu đơn nhỏ, xẻ thùy mọc so le nhau. Do độ mới lạ, độc đáo của loài cúc này mà nó đang có nhu cầu sử dụng khá lớn và việc sản xuất lại chưa 1 đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng do chưa có phương pháp nhân giống hợp lý (chủ yếu là giâm cành, gieo hạt, tách mầm giá,…).
Các phương pháp nhân giống này tuy đơn giản, tiết kiệm nhưng có một số điểm hạn chế như chất lượng cây giống kém vì các đoạn chồi thu nhận từ cây mẹ sẽ bị thoái hóa hoặc nhiễm virus sau vài thế hệ. Hơn nữa, đặc điểm của cúc Mẫu đơn là bông to nên nó rất hạn chế việc đẻ nhánh và vì thế mà hệ số nhân giống bằng các phương pháp truyền thống không cao, khó có thể đáp ứng được cho quá trình sản xuất. Do đó, người dân luôn cần một số lượng lớn cây giống sạch bệnh để phục vụ sản xuất. Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào có thể nhân nhanh chóng mẫu giống cây nói chung, hay cây hoa cúc nói riêng (Chitra và cs, 2006).
Từ những thành công trong kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp nuôi cấy in vitro trên cây hoa cúc, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng nhân nhanh giống cúc Mẫu đơn (Chrysanthemum sp.)” được thực hiện nhằm tạo ra chất lượng cây giống tốt và số lượng cây giống lớn phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Xác định được phương pháp khử trùng thích hợp cho giai đoạn tạo vật liệu khởi đầu và môi trường nuôi cấy thích hợp để nhân giống in vitro hoa cúc Mẫu đơn (Chrysanthemum sp.) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật với hệ số nhân giống cao, chất lượng cây giống tốt, hướng tới việc cung cấp nguồn giống ra thị trường đáp ứng nhu cầu sản xuất thực tiễn, đồng thời giữ được những ưu điểm tốt của cây mẹ cho đời sau. Yêu cầu của đề tài - Xác định phương pháp khử trùng thích hợp cho giai đoạn tạo vật liệu khởi đầu.
- Xác định nồng độ BAP, α-NAA và nano bạc thích hợp cho giai đoạn nhân nhanh chồi. - Xác định nồng độ α-NAA và IBA thích hợp cho giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh. - Xác định giá thể thích hợp cho giai đoạn ra cây ngoài vườn ươm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về cây hoa cúc Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum, được định nghĩa từ Chiysos (vàng) và themum (hoa). Hoa cúc đã được trồng hơn 1400 năm ở Trung Quốc và ít nhất 1200 năm ở Nhật Bản và là một trong những loài hoa cắt cành phổ biến nhất ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản (Cockshull, 2019). Nó là loại hoa thương phẩm rất được ưa chuộng ở phương Đông và phương Tây, không chỉ vì sự đa dạng về màu sắc và hình dáng mà còn vì dễ nhân giống, dễ điều khiển sự ra hoa theo ý muốn và hoa giữ được tươi lâu. Trong các loài hoa được ưa chuộng, tính đến thời điểm hiện tại hoa cúc đã vượt qua hoa Hồng với diện tích trồng lớn nhất cả nước, trở thành sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao, chiếm vị trí đặc biệt trên thị trường hàng hóa nông nghiệp ở nước ta (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2003).
Vị trí, phân loại Trong hệ thống phân loại thực vật (Võ Văn Chi, 2003) hoa cúc được xếp vào loại cây hai lá mầm (Dicotyledoneae) thuộc phân lớp cúc (Asteridae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi (Chrysanthemum). 3 Giới : Plantae Ngành : Angiospermatophyta Lớp : Dicotyledoneae Phân lớp : Asteridae Bộ : Asterales Họ : Asteraceae Phân họ : Asteroideae Chi : Chrysanthemum Loài : Chrysanthemum sp. Theo Võ Văn Chi và cs (1976) khi điều tra phân loại cây cỏ ở Việt Nam đã kết luận họ cúc rất lớn, có nhiều chi và hiện nay trên thế giới có khoảng 20.000 loài và trên 1000 giống đã được trồng phổ biến, riêng Việt Nam có 75 giống, 199 loài (trong đó có nhiều giống loài nhập trồng nhưng chưa được mô tả). Đặc điểm hình thái 2.
Rễ Rễ cây hoa cúc thuộc loại chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo chiều ngang. Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút, nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh. Những rễ này mọc ở mấu của thân cây còn gọi là mắt, ở những phần sát trên mặt đất (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Thân Thân hoa cúc thuộc loại thân thảo, khả năng phân nhánh mạnh, chiều cao của cây phụ thuộc vào đặc tính giống, khi tác động chế độ ánh sáng.
Chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống. Giống cúc cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống. Giống cúc thấp nhất chỉ cao 20 - 30 cm, còn giống cúc cao nhất, có thể cao trên 3m. Các giống thấp, phân cành nhiều thích hợp trồng trong chậu, làm thảm hoa.
Các giống thân dài, thường phân cành ít, thích hợp trồng trên nền đất hoặc trên nền giàn cao. Giống thân cao, ít cành thích hợp với việc trồng hoa cắt cành. Giống phân cành 4 nhiều, cành nhỏ và mềm thích hợp với việc tạo hình trồng trong chậu cảnh (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Lá Lá cúc chia thùy, có răng cưa to, sâu, mặt dưới lá bao phủ bởi một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân lá hình mạng lưới, mọc cách và thành vòng xoắn trên thân.
Lá phẳng hoặc hơi nghiêng về phía trên hoặc hơi bị gấp. Trên một cành thì phần gốc nhỏ, càng lên phía trên lá càng to dần. Kích thước lá thường thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Cây sinh trưởng kém thì lá nhỏ, mỏng, cứng hơi chếch về phía trên, màu xanh nhạt không bóng hoặc hơi vàng.
Đủ dinh dưỡng, cây sinh trưởng khoẻ, lá to và mềm, phiến lá dày, chóp lá hơi cong xuống, lá xanh thẫm và bóng. Lá hoa cúc thường sống được 70 - 90 ngày, hiệu suất quang hợp của lá mạnh nhất là ở lá thứ 4 tính từ đỉnh ngọn trở xuống. Mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Hoa Hình dạng hoa cây họ cúc (Asteraceae) rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng.
Cụm hoa đầu trạng rất điển hình là trục chính của cụm hoa phát triển rộng ra thành hình đĩa phẳng hoặc lồi, trên đó có các hoa không cuống sắp xếp xít nhau, phía ngoài cụm hoa có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dạng như một bông hoa (Đặng Văn Đông, 2005). Hoa cúc có thể lưỡng tính hoặc đơn tính. Hoa có nhiều màu sắc và đường kính rất đa dạng, đường kính có thể từ 1,5 - 12cm. Hình dạng của hoa có thể là đơn hoặc kép, thường mọc nhiều hoa trên một cành, phát sinh từ những nách lá.
Hoa cúc tuy là lưỡng tính nhưng thường không thể thụ phấn cùng hoa, nếu muốn lấy hạt giống thì phải tiến hành thụ phấn nhân tạo (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1988). Dựa vào hình dạng của hoa có thể chia làm hai dạng là: dạng hoa đơn và dạng hoa kép. Hoa cúc Mẫu đơn có kích thước khá lớn 13 - 18cm, cánh hoa có màu vàng đồng bên trong màu đỏ thẫm. Quả Quả cúc rất nhỏ, dài khoảng 2 - 3mm, rộng 0,7 - 1,5mm, khối lượng nghìn hạt khoảng 1g, có nhiều hình dạng khác nhau như hình kim, hình gậy, hình trứng, 5 hình tròn,…dài, thẳng hoặc hơi cong, hai đầu cùng bằng, hoặc một đầu nhọn, trên mặt có 5 - 8 vết dọc nông, màu nâu nhạt hoặc đậm, vỏ quả mỏng (Đặng Văn Đông, 2005).
Quả cúc dạng quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ (Lê Kim Biên, 1984). Điều kiện sinh thái 2. Phản ứng quang chu kỳ của cây hoa cúc Khi nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng tới cây hoa cúc, Yulian và cs (1995) đưa ra kết luận cúc là cây ngắn ngày, ưa sáng và đêm ưa lạnh. Thời kỳ đầu cây non mới ra rễ, cây cần ít ánh sáng, trong quá trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh sẽ làm cho cây chậm lớn và chất lượng hoa giảm.