Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhân giống cúc mẫu đơn Chrysanthemum sp

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng nhân giống nhanh cúc mẫu đơn Chrysanthemum sp, ứng dụng trong nông nghiệp và khoa học thực vật.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC BẢNG

3. DANH MỤC HÌNH ẢNH

4. DANH MỤC BIỂU ĐỒ

5. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

6. TÓM TẮT KHÓA LUẬN

7. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

7.1. Mục đích của đề tài

7.2. Yêu cầu của đề tài

8. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

8.1. Tổng quan về cây hoa cúc

8.1.1. Vị trí, phân loại

8.1.2. Đặc điểm hình thái

8.1.2.1. Rễ
8.1.2.2. Thân
8.1.2.3.
8.1.2.4. Hoa
8.1.2.5. Quả

8.1.3. Điều kiện sinh thái

8.1.3.1. Phản ứng quang chu kỳ của cây hoa cúc
8.1.3.2. Nhiệt độ
8.1.3.3. Độ ẩm
8.1.3.4. Dinh dưỡng

8.1.4. Giá trị sử dụng

9. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

9.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu

9.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

9.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

9.3.1. Giai đoạn tạo vật liệu khởi đầu

9.3.2. Giai đoạn nhân nhanh chồi

9.3.3. Giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh

9.3.4. Giai đoạn ra cây ngoài vườn ươm

9.3.5. Phương pháp nghiên cứu

9.3.6. Điều kiện thí nghiệm

9.3.7. Xử lý số liệu

9.3.8. Các chỉ tiêu theo dõi

10. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

10.1. Ảnh hưởng của thời gian xử lý NaClO 5% đến khả năng tạo vật liệu khởi đầu cúc Mẫu đơn

10.2. Ảnh hưởng của nano bạc đến khả năng tạo vật liệu khởi đầu cúc Mẫu đơn

10.3. Ảnh hưởng của BAP đến khả năng nhân nhanh chồi cúc Mẫu đơn in vitro

10.4. Ảnh hưởng của BAP và α-NAA đến khả năng nhân nhanh chồi cúc Mẫu đơn in vitro

10.5. Ảnh hưởng của nano bạc đến khả năng nhân nhanh chồi cúc Mẫu đơn in vitro

10.6. Ảnh hưởng của α-NAA đến khả năng tạo rễ cúc Mẫu đơn in vitro

10.7. Ảnh hưởng của IBA đến khả năng tạo rễ cúc Mẫu đơn in vitro

10.8. Ảnh hưởng của giá thể đến sự thích nghi của cây cúc Mẫu đơn in vitro ngoài vườn ươm

11. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu nhân giống cúc mẫu đơn

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhân giống cúc mẫu đơn (Chrysanthemum sp.) thông qua phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Mục tiêu chính là tối ưu hóa các điều kiện để tăng hiệu quả nhân giống, đảm bảo chất lượng cây giống và đáp ứng nhu cầu thị trường. Khóa luận tốt nghiệp này đưa ra các phương pháp nghiên cứu cụ thể, từ khử trùng mẫu đến tạo cây hoàn chỉnh, nhằm cung cấp nguồn giống sạch bệnh và chất lượng cao.

1.1. Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là xác định phương pháp khử trùng hiệu quả và môi trường nuôi cấy phù hợp cho nhân giống cúc mẫu đơn. Yêu cầu bao gồm việc tối ưu hóa nồng độ các chất như BAP, α-NAA, và nano bạc trong các giai đoạn nhân chồi và tạo rễ. Nghiên cứu cũng hướng đến việc xác định giá thể thích hợp cho giai đoạn ra cây ngoài vườn ươm.

1.2. Tình hình sản xuất và ứng dụng cúc mẫu đơn

Cúc mẫu đơn là loài hoa mới du nhập vào Việt Nam, có giá trị thẩm mỹ và kinh tế cao. Tuy nhiên, việc sản xuất còn hạn chế do thiếu phương pháp nhân giống hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm giải quyết vấn đề này bằng cách áp dụng kỹ thuật nhân giống hiện đại, giúp tăng năng suất và chất lượng cây giống.

II. Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật nhân giống

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào để nhân giống cúc mẫu đơn. Quy trình bao gồm các giai đoạn: khử trùng mẫu, nhân nhanh chồi, tạo rễ và ra cây ngoài vườn ươm. Các yếu tố như nồng độ chất điều hòa sinh trưởng (BAP, α-NAA) và nano bạc được điều chỉnh để tối ưu hóa hiệu quả nhân giống.

2.1. Giai đoạn khử trùng và tạo vật liệu khởi đầu

Khử trùng mẫu bằng dung dịch NaClO 5% và nano bạc 125 ppm cho hiệu quả cao nhất, với tỷ lệ mẫu sống đạt 81.67%. Đây là bước quan trọng để đảm bảo mẫu sạch bệnh trước khi đưa vào nuôi cấy.

2.2. Giai đoạn nhân nhanh chồi và tạo rễ

Môi trường MS bổ sung BAP và nano bạc cho tỷ lệ nhân chồi cao nhất (100%). Giai đoạn tạo rễ sử dụng IBA với tỷ lệ tạo rễ đạt 100%, số rễ trung bình là 17.67 rễ/mẫu. Các kết quả này cho thấy hiệu quả của phương pháp nuôi cấy mô trong nhân giống cúc mẫu đơn.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã xác định được các điều kiện tối ưu cho nhân giống cúc mẫu đơn, từ khử trùng mẫu đến tạo cây hoàn chỉnh. Kết quả cho thấy giá thể vụn xơ dừa là phù hợp nhất cho giai đoạn ra cây ngoài vườn ươm, với tỷ lệ cây sống đạt 100%. Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao, giúp cung cấp nguồn giống chất lượng cho sản xuất.

3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường

Các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cúc mẫu đơn. Nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng là 15-20°C, độ ẩm đất 60-70%. Đây là các thông số quan trọng cần được kiểm soát trong quá trình sản xuất.

3.2. Giá trị kinh tế và ứng dụng

Nghiên cứu này không chỉ mang lại lợi ích khoa học mà còn có giá trị kinh tế cao. Việc áp dụng kỹ thuật nhân giống hiện đại giúp tăng năng suất và chất lượng cây giống, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường hoa cúc.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hoa là một sản phẩm đặc biệt, không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn mang lại giá trị tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Do đó, hoa được sử dụng phổ biến và thường xuyên. Không chỉ xuất hiện ở các lễ hội, sự kiện, tiệc tùng mà hoa còn là sản phẩm trang trí thường ngày trong không gian nhà, văn phòng, ban công, công viên,. Người Việt xưa vẫn xem hoa cúc là biểu tượng của sự thanh cao, một trong bốn loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý “tùng, cúc, trúc, mai” (Trương Hữu Tuyên, 1979).

Hoa cúc thu hút đặc biệt ở màu sắc phong phú: trắng, vàng, xanh, đỏ, tím, da cam. Không những vậy, hình dáng và kích cỡ hoa cũng rất đa dạng cùng với khả năng có thể điều khiển cho ra hoa tạo nguồn hàng hóa quanh năm đã khiến cho hoa cúc trở thành loài hoa được tiêu thụ đứng thứ hai trên thị trường thế giới (sau hoa hồng). Ngoài tác dụng làm cảnh, trang trí, hoa cúc còn được coi là thảo dược có tác dụng tốt trong việc chữa bệnh. Theo Trương Hữu Tuyên (1979) hoa cúc được sử dụng để chiết tinh dầu thơm pha chè, ngâm rượu; trong y dược: Kim cúc, Bạch cúc chữa đau đầu, hoa mắt, giải độc mát gan,.

Ngoài ra, hoa cúc còn được chiết xuất sử dụng làm mỹ phẩm giúp cải thiện làn da, vì vậy nhu cầu về hoa cúc luôn rất cao. Hiện nay tại Việt Nam cúc được trồng khắp cả nước và có một số vùng chuyên canh như Đà Lạt, Hà Nội, Quảng Ninh, trồng rất nhiều loại cúc nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và để đáp ứng thị yếu của người tiêu dùng. Tính từ năm 1998 đến nay, Việt Nam có diện tích trồng cúc đứng đầu trong số các loại hoa. Riêng ở Hà Nội tổng sản lượng hoa cúc năm 1999 đạt 41.2 tỷ đồng, xuất khẩu sang Trung Quốc 3.6 tỷ đồng, tốc độ tăng hàng năm khoảng 10% (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003).

Cúc Mẫu đơn là loài hoa mới được du nhập vào nước ta khoảng 2 - 3 năm trở lại đây, với màu sắc độc đáo, lạ mắt, hoa bền và to mà hiếm có loài hoa nào đạt được (bông to 13 - 18cm, màu vàng đồng bên trong có màu đỏ). Cây có thân cứng thẳng, màu tía. Lá cúc Mẫu đơn nhỏ, xẻ thùy mọc so le nhau. Do độ mới lạ, độc đáo của loài cúc này mà nó đang có nhu cầu sử dụng khá lớn và việc sản xuất lại chưa 1 đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng do chưa có phương pháp nhân giống hợp lý (chủ yếu là giâm cành, gieo hạt, tách mầm giá,…).

Các phương pháp nhân giống này tuy đơn giản, tiết kiệm nhưng có một số điểm hạn chế như chất lượng cây giống kém vì các đoạn chồi thu nhận từ cây mẹ sẽ bị thoái hóa hoặc nhiễm virus sau vài thế hệ. Hơn nữa, đặc điểm của cúc Mẫu đơn là bông to nên nó rất hạn chế việc đẻ nhánh và vì thế mà hệ số nhân giống bằng các phương pháp truyền thống không cao, khó có thể đáp ứng được cho quá trình sản xuất. Do đó, người dân luôn cần một số lượng lớn cây giống sạch bệnh để phục vụ sản xuất. Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào có thể nhân nhanh chóng mẫu giống cây nói chung, hay cây hoa cúc nói riêng (Chitra và cs, 2006).

Từ những thành công trong kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp nuôi cấy in vitro trên cây hoa cúc, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng nhân nhanh giống cúc Mẫu đơn (Chrysanthemum sp.)” được thực hiện nhằm tạo ra chất lượng cây giống tốt và số lượng cây giống lớn phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Xác định được phương pháp khử trùng thích hợp cho giai đoạn tạo vật liệu khởi đầu và môi trường nuôi cấy thích hợp để nhân giống in vitro hoa cúc Mẫu đơn (Chrysanthemum sp.) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật với hệ số nhân giống cao, chất lượng cây giống tốt, hướng tới việc cung cấp nguồn giống ra thị trường đáp ứng nhu cầu sản xuất thực tiễn, đồng thời giữ được những ưu điểm tốt của cây mẹ cho đời sau. Yêu cầu của đề tài - Xác định phương pháp khử trùng thích hợp cho giai đoạn tạo vật liệu khởi đầu.

- Xác định nồng độ BAP, α-NAA và nano bạc thích hợp cho giai đoạn nhân nhanh chồi. - Xác định nồng độ α-NAA và IBA thích hợp cho giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh. - Xác định giá thể thích hợp cho giai đoạn ra cây ngoài vườn ươm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

Tổng quan về cây hoa cúc Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum, được định nghĩa từ Chiysos (vàng) và themum (hoa). Hoa cúc đã được trồng hơn 1400 năm ở Trung Quốc và ít nhất 1200 năm ở Nhật Bản và là một trong những loài hoa cắt cành phổ biến nhất ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản (Cockshull, 2019). Nó là loại hoa thương phẩm rất được ưa chuộng ở phương Đông và phương Tây, không chỉ vì sự đa dạng về màu sắc và hình dáng mà còn vì dễ nhân giống, dễ điều khiển sự ra hoa theo ý muốn và hoa giữ được tươi lâu. Trong các loài hoa được ưa chuộng, tính đến thời điểm hiện tại hoa cúc đã vượt qua hoa Hồng với diện tích trồng lớn nhất cả nước, trở thành sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao, chiếm vị trí đặc biệt trên thị trường hàng hóa nông nghiệp ở nước ta (Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc, 2003).

Vị trí, phân loại Trong hệ thống phân loại thực vật (Võ Văn Chi, 2003) hoa cúc được xếp vào loại cây hai lá mầm (Dicotyledoneae) thuộc phân lớp cúc (Asteridae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroideae), chi (Chrysanthemum). 3 Giới : Plantae Ngành : Angiospermatophyta Lớp : Dicotyledoneae Phân lớp : Asteridae Bộ : Asterales Họ : Asteraceae Phân họ : Asteroideae Chi : Chrysanthemum Loài : Chrysanthemum sp. Theo Võ Văn Chi và cs (1976) khi điều tra phân loại cây cỏ ở Việt Nam đã kết luận họ cúc rất lớn, có nhiều chi và hiện nay trên thế giới có khoảng 20.000 loài và trên 1000 giống đã được trồng phổ biến, riêng Việt Nam có 75 giống, 199 loài (trong đó có nhiều giống loài nhập trồng nhưng chưa được mô tả). Đặc điểm hình thái 2.

Rễ Rễ cây hoa cúc thuộc loại chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo chiều ngang. Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút, nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh. Những rễ này mọc ở mấu của thân cây còn gọi là mắt, ở những phần sát trên mặt đất (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Thân Thân hoa cúc thuộc loại thân thảo, khả năng phân nhánh mạnh, chiều cao của cây phụ thuộc vào đặc tính giống, khi tác động chế độ ánh sáng.

Chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống. Giống cúc cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống. Giống cúc thấp nhất chỉ cao 20 - 30 cm, còn giống cúc cao nhất, có thể cao trên 3m. Các giống thấp, phân cành nhiều thích hợp trồng trong chậu, làm thảm hoa.

Các giống thân dài, thường phân cành ít, thích hợp trồng trên nền đất hoặc trên nền giàn cao. Giống thân cao, ít cành thích hợp với việc trồng hoa cắt cành. Giống phân cành 4 nhiều, cành nhỏ và mềm thích hợp với việc tạo hình trồng trong chậu cảnh (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Lá Lá cúc chia thùy, có răng cưa to, sâu, mặt dưới lá bao phủ bởi một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân lá hình mạng lưới, mọc cách và thành vòng xoắn trên thân.

Lá phẳng hoặc hơi nghiêng về phía trên hoặc hơi bị gấp. Trên một cành thì phần gốc nhỏ, càng lên phía trên lá càng to dần. Kích thước lá thường thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Cây sinh trưởng kém thì lá nhỏ, mỏng, cứng hơi chếch về phía trên, màu xanh nhạt không bóng hoặc hơi vàng.

Đủ dinh dưỡng, cây sinh trưởng khoẻ, lá to và mềm, phiến lá dày, chóp lá hơi cong xuống, lá xanh thẫm và bóng. Lá hoa cúc thường sống được 70 - 90 ngày, hiệu suất quang hợp của lá mạnh nhất là ở lá thứ 4 tính từ đỉnh ngọn trở xuống. Mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh (Nguyễn Xuân Linh, 1998). Hoa Hình dạng hoa cây họ cúc (Asteraceae) rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng.

Cụm hoa đầu trạng rất điển hình là trục chính của cụm hoa phát triển rộng ra thành hình đĩa phẳng hoặc lồi, trên đó có các hoa không cuống sắp xếp xít nhau, phía ngoài cụm hoa có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dạng như một bông hoa (Đặng Văn Đông, 2005). Hoa cúc có thể lưỡng tính hoặc đơn tính. Hoa có nhiều màu sắc và đường kính rất đa dạng, đường kính có thể từ 1,5 - 12cm. Hình dạng của hoa có thể là đơn hoặc kép, thường mọc nhiều hoa trên một cành, phát sinh từ những nách lá.

Hoa cúc tuy là lưỡng tính nhưng thường không thể thụ phấn cùng hoa, nếu muốn lấy hạt giống thì phải tiến hành thụ phấn nhân tạo (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1988). Dựa vào hình dạng của hoa có thể chia làm hai dạng là: dạng hoa đơn và dạng hoa kép. Hoa cúc Mẫu đơn có kích thước khá lớn 13 - 18cm, cánh hoa có màu vàng đồng bên trong màu đỏ thẫm. Quả Quả cúc rất nhỏ, dài khoảng 2 - 3mm, rộng 0,7 - 1,5mm, khối lượng nghìn hạt khoảng 1g, có nhiều hình dạng khác nhau như hình kim, hình gậy, hình trứng, 5 hình tròn,…dài, thẳng hoặc hơi cong, hai đầu cùng bằng, hoặc một đầu nhọn, trên mặt có 5 - 8 vết dọc nông, màu nâu nhạt hoặc đậm, vỏ quả mỏng (Đặng Văn Đông, 2005).

Quả cúc dạng quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ (Lê Kim Biên, 1984). Điều kiện sinh thái 2. Phản ứng quang chu kỳ của cây hoa cúc Khi nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng tới cây hoa cúc, Yulian và cs (1995) đưa ra kết luận cúc là cây ngắn ngày, ưa sáng và đêm ưa lạnh. Thời kỳ đầu cây non mới ra rễ, cây cần ít ánh sáng, trong quá trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh sẽ làm cho cây chậm lớn và chất lượng hoa giảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến nhân giống cúc mẫu đơn Chrysanthemum sp - Khóa luận tốt nghiệp là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các yếu tố tác động đến quá trình nhân giống loài cúc mẫu đơn, một loại cây cảnh có giá trị kinh tế và thẩm mỹ cao. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các kỹ thuật nhân giống hiệu quả mà còn đưa ra những giải pháp tối ưu để nâng cao tỷ lệ thành công trong việc nhân giống loài cây này. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt và nhân giống cây cảnh.

Để mở rộng kiến thức về các kỹ thuật nhân giống thực vật, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng nhân giống trà hoa vàng bằng phương pháp giâm cành tại yên bái, Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu đặc điểm và nhân giống vô tính cây nghiến gân ba excentrodendron tonkinensis bằng phương pháp giâm hom, và Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích ra rễ iba axit indolbutylic đến sự hình thành cây hom dây thìa canh tại trường đại học nông lâm thái nguyên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp nhân giống hiện đại và hiệu quả.