Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây sa nhân 1. Nguồn gốc, phân bố và sự đa dạng của cây sa nhân Cây sa nhân có tên khoa học là Amomum longiligulare T.Wu thuộc họ gừng (Zingiberaceae). Cây thích hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, có khả năng thích nghi rộng.
Cây đặc biệt ưa ẩm, chịu bóng và có thể ưa sáng, thường mọc tập trung thành đám ở dưới tán cây rừng, ven rừng và bờ suối. Phân bố rộng rãi ở Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam (Trung Quốc), Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, sa nhân tím phân bố chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và một số tỉnh Miền Trung. Ðặc biệt ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Nghệ An, Gia Lai, Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận., cây sa nhân mọc trong tự nhiên có đến vài nghìn ha, mùa hoa [1], [9], [14].
Sa nhân là một loài thuộc chi Amomum Roxb thuộc họ gừng được Carolus Linaeus công bố năm 1773. Theo số liệu bổ sung của Index Kawensis thì có tên chính thức trong chi Amomum có tới 250 loài. Ở Trung Quốc có 31 loài sa nhân được thống kê và mô tả, phân bố chủ yếu ở vùng Nam Trung Quốc giáp với Việt Nam và Lào. Nhóm loài mang tên sa nhân ở Việt Nam thuộc chi Amomum Roxb.
Theo Nguyễn Ngọc Bách (2006), Việt Nam có 13 giống sa nhân với trên 100 loài. Các công trình nghiên cứu về sa nhân cho rằng rất đa dạng về thành phần loài, giá trị sử dụng thông qua việc xuất khẩu sản phẩm trong nền kinh tế và có ý nghĩa trong việc đóng góp vào bảo tồn đa dạng sinh học [1].1 trình bày một số loài mang tên sa nhân tím ở Việt Nam. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Bảng 1. Thống kê một số loài mang tên sa nhân ở Việt Nam TT Tên khoa học Tên Việt Nam Phân bố Amomum villosum Lour Hoà Bình, Bắc Cạn, Thái Nguyên, 1 Sa nhân đỏ var T.L Wu Phú Thọ, Nghệ An A.
xanthioides Wall ex Bak Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắc 2 Sa nhân xanh T.Lwu Lắc, Hoà Bình A.T T Sa 3 Sa nhân đỏ Lai Châu, Sơn La nhân S.Zhao Phú Thọ, Phú Yên, Bình Định, 4 A. Wu Sa nhân tím Đắc Lắc, Gia Lai, Quảng Ngãi 5 A. lappaceum Ridl Sa nhân Hoàng Liên Sơn Hoà Bình, Phú Quốc (Kiên Giang), 6 A. ovoideum Gaguep Sa nhân trắng Ba Vì (Hà Nội), Thanh Hoá A.
Ba Vì (Hà Nội), Thanh Hoá, 7 Schum (giống A. Sa nhân đỏ Phú Yên villosrum) 8 A. bislorum Jack Sa nhân 2 hoa Đắc Lắc, Quảng Nam, Đà Nẵng 9 A. repoense Pierre Sa nhân Quảng Nam, Đà Nẵng Sa nhân Thầu Yên Bái, Bắc Kạn, Thái Nguyên, 10 A.
vespertilio Gagnep dầu se đất Phú Thọ 11 A. schmidtii Gagnep Sa nhân hồi Lai Châu, Sơn La 12 A. thyrsoideum Gagnep Sa nhân hoa thưa Ninh Bình 13 A. repens Sorner Sa nhân; Rễ gấm Lào Cai, Ninh Bình 14 A.
davieanum Pierre Sa nhân Lai Châu, SơnLa 15 A. cardamomum Willd Đậu khấu Trung Bộ (Nguồn: Dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, 2002) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Mặt hàng sa nhân thực tế đã được khai thác, thu mua từ nhóm loài phức tạp kể trên, trong đó phổ biến nhất là 2 loài: Amomum longiligulare T. Wu do Nguyễn Chiều thu mẫu ở Đắc Lắc, mô tả và công bố lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1986. Loài này thường phân bố tự nhiên ở Phú Thọ, Bình Định, Đắc Lắc, Khánh Hòa.
Loài sa nhân tím hiện có diện tích mọc hoang nhiều nhất và chất lượng, cũng như năng suất hạt rất cao, đồng thời dễ trồng và quản lý chăm sóc vì vậy đây là đối tượng quan trọng cần được nghiên cứu bảo tồn và gây trồng [6]. Đặc điểm của cây sa nhân 1. Đặc điểm hình thái Cây sa nhân thuộc họ gừng, là một loài cây thân thảo sống lâu năm, mọc thành khóm. Cây cao 1,5 - 2m, lá màu xanh đậm, dài 25-35cm, rộng 10-15cm, mặt nhẵn.
Đặc điểm thực vật của cây sa nhân gồm: Thân, rễ: Thân khí sinh là thân cỏ sống nhiều năm, cao 1-3 m, tiết diện tròn, màu xanh, nhẵn, mang 18-22 lá; đoạn thân dài 40-50 cm từ gốc lá không có phiến lá mà chỉ gồm các bẹ lá ôm sát. Thân rễ tiết diện tròn, đường kính 0,3-1,5 cm, màu vàng xanh, có nhiều lông mịn, chia thành nhiều lóng ngắn, ở mỗi lóng có 1 lá màu nâu, dạng vẩy khô xác, lợp lên nhau.Hàng năm mỗi bụi sa nhân sinh ra khoảng 3-5 “tia thân ngầm” nằm sâu từ 1-2cm dưới mặt đất. Các tia này xuyên sâu vào đất rồi trồi lên mặt đất để tạo thành một cây sa nhân mới. Rễ cây sa nhân là rễ chùm mọc tập trung, ở tầng đất mặt 0-15cm, phát triển theo mặt nằm ngang, không ăn sâu.
Lá: Lá đơn, không cuống, mọc so le thành 2 dãy, hình ngọn giáo gốc tròn, đầu nhọn thường có màu nâu khô xác ở các lá trưởng thành, dài 33-37 cm, rộng 5-5,5 cm, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt; gân lá lông chim, gân chính hơi lõm ở mặt trên nổi rõ ở mặt dưới, rất nhiều gân phụ song song không rõ. Bẹ lá nhẵn cứng, rìa có nhiều lông màu nâu, ôm sát vào nhau. Lưỡi nhỏ dài 0,4-0,5 cm dạng màng, chia 2 thùy rất cạn, rìa có rất nhiều lông mịn, giữa lưỡi nhỏ và phiến lá có nhiều lông mịn. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Hoa: Cụm hoa chùm mọc từ các đốt thân ngầm dưới mặt đất, dài 18-20 cm, mang nhiều hoa màu vàng nhạt ở 9-11 cm phía trên.
Hoa không đều, lưỡng tính mẫu 3, cuống hoa hình trụ rất ngắn, dài 0,15-0,2 cm, màu vàng xanh, nhiều lông mịn. Lá bắc dạng vẩy khô xác màu nâu, dài 2-3 cm, rộng 0,4-0,5 cm, lá bắc bao trọn nụ hoa, khi hoa nở hoa vượt ra khỏi lá bắc, các lá bắc xếp lợp lên nhau. Lá bắc con màu nâu mỏng, hình ống dài 0,8-1 cm, phía trên chia 2 thùy hình tam giác đỉnh nhọn. Đài hoa dính nhau ở dưới thành ống dài 1,2-1,5 cm, trên chia thành 3 thùy không đều.
Tràng hoa dính nhau phía dưới thành ống dài 2,5-2,8 cm, trên chia 3 thùy không đều, 1 thùy lớn hình thuyền dài khoảng 1 cm dựng đứng phía sa nhân, 2 thùy nhỏ phía trước dài khoảng 0,5 cm cong xuống phía dưới và bị che bởi cánh môi. Bộ nhị 1 nhị thụ phía sa nhân đính trên miệng ống tràng, khi hoa nở bao phấn cong thẳng góc với chỉ nhị; chỉ nhị hình lòng máng, dài 0,4-0,5 cm, màu vàng, ôm lấy vòi nhụy; bao phấn hình bầu dục dài 2-3 mm, màu vàng, 2 ô, nứt dọc hướng trong, chung đới kéo dài thành màng mỏng màu trắng có 3 thùy một thùy lớn ở giữa và 2 thùy nhỏ 2 bên; cánh môi do nhị lép tạo thành, đính trên miệng ống tràng, cong ra phía ngoài dạng hình muỗng úp, dài 1-1,2 cm, rộng 0,4-0,5 cm, màu trắng, có 1 rãnh cạn ở giữa, 4-5 sọc dọc màu tím, mép nguyên, đầu chia thành 2 thùy rất cạn; gốc cánh môi có nhiều lông và mang 2 vẩy mỏng dài 0,2-0,3 cm do 2 nhị bất thụ tạo thành. Hạt phấn màu vàng, hình cầu, trên bề mặt có nhiều gai ngắn, đường kính 72-75 µm. Bộ nhụy gồm 3 lá noãn, dính nhau tạo bầu dưới 3 ô, mỗi ô có nhiều noãn, đính trung trụ; bầu hình trụ ngắn, dài 2,5-3 mm, có nhiều lông mịn ở mặt ngoài; 1 vòi nhụy màu trắng dạng sợi dài 3,5-4 cm, phía dưới nằm tự do trong ống tràng phía trên nằm trong chỉ nhị và ở giữa khe hở của 2 ô phấn; đầu nhụy hình khối không vượt qua khỏi ô phấn ở gốc vòi nhụy có 2 khối hình tháp màu vàng, dài 1,5-2 mm.
Quả: Quả mọc thành cụm trên mặt đất, hình bầu dục có 3 khía dọc, dài 2-2,2 cm, rộng 1-1,2 cm, màu xanh, chín màu vàng lục, bề mặt có nhiều gai nhọn mềm; bên trong chia 3 ngăn, mỗi ngăn chứa nhiều hạt. Quả khô màu nâu. Hạt mùi thơm vị hơi cay, hình khối nhiều mặt, kích thước 0,02-0,03 cm được bao bởi 1 màng mỏng màu trắng (áo hạt). Vỏ hạt màu đen, nhăn nhúm; ngoại nhũ màu trắng, nội nhũ màu trắng ngà; phôi hình thuôn dài màu kem nằm giữa nội nhũ.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Phân biệt các loài sa nhân qua đặc điểm hình thái: Trong số các loài sa nhân mọc tự nhiên đang được thu hái quả, có 4 loài có giá trị và rất dễ nhầm lẫn gồm: - Sa nhân (Amomnm villosum Lour.): Phân bố rải rác khắp các tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du cả ở miền Bắc và miền Nam. - Sa nhân thân cao hay còn gọi là sa nhân lưỡi bẹ rất ngắn (Amomnm ovoideum P. et Gagnep): Phân bố rải rác ở một số tỉnh thuộc vùng núi thấp chủ yếu ở miền Bắc. - Sa nhân hoa thưa hay còn gọi là sa nhân lưỡi bẹ ngắn (Amomnm thyrsoideum Gagnep.): Phân bố rải rác ở một số tỉnh thuộc vùng núi thấp chủ yếu ở phía Nam.
- Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.): Phân bố rải rác ở một số tỉnh thuộc vùng núi thấp chủ yếu ở miền Nam. Nhìn hình thái bên ngoài về dạng cây, dạng lá, hoa, quả (nhất là quả và hạt đã khô), chúng tương đối giống nhau. Tuy nhiên, trong 4 loài trên chỉ duy nhất ở loài sa nhân tím (Amomum longiligulare T.) có lá bẹ hình mác nhọn dài tiên l,5 cm. Trong khi đó, cả 3 loài sa nhân, sa nhân hoa thưa và sa nhân thân cao có lá bẹ ngắn và rất ngắn (dưới lcm), đầu lá bẹ không vuốt nhọn.var) có hoa trắng, có hai vạch đỏ, vàng; Sa nhân tím (A.Wu) có hoa trắng, có mép vàng, vách đỏ tím; Sa nhân xanh (A.Xanthioides Wall ex Bak) có hoa trắng, đốm tím.
Đặc điểm sinh lý, sinh thái Cây sa nhân tím là cây ưa ẩm, hơi ưa sáng và chịu bóng. Thường mọc tụ tập thành đám dày đặc trên đất ẩm ở ven rừng kín thường xanh còn nguyên sinh hay đã trở nên thứ sinh; ven bờ các khe suối hay trên các nương rẫy thấp đã bỏ hoang, liền kề với rừng.Sa nhân tím mọc tự nhiên trong các quần xã thứ sinh kể trên ở các tỉnh phía Nam, thường có độ tàn che từ 10 – 60 ; độ cao dưới 600 m. Thuộc vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm; nhiệt độ trung bình khoảng hơn 23°C; lượng mưa từ gần 1.300mm/năm; độ ẩm không khí trung bình trên 80%.